![]() |
|
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
|
|
Chào mừng đã đến với forum oOo VnSharing oOo. Bạn chưa đăng kí (hoặc chưa đăng nhập) nên quyền lợi của bạn sẽ bị hạn chế. Việc đăng kí làm thành viên hoàn toàn miễn phí, sau khi đăng kí bạn có thể post bài, tham gia thảo luận, liên lạc với các thành viên khác qua hệ thống tin nhắn riêng, yêu cầu manga/anime... và rất nhiều quyền lợi khác. Thủ tục đăng kí rất nhanh chóng và đơn giản, hãy Đăng Kí Làm Thành Viên! Nếu bạn quên mật khẩu, xin nhấn vào đây. Nếu bạn gặp trục trặc trong vấn đề đăng kí hoặc không thể đăng nhập, hãy liên hệ với chúng tôi. |
|
||||||
Chính thức đưa host Mega vào sử dụng
Topic giải quyết việc phá forum của mod kẻ lang thang + Clouds-san
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#1
|
||||||||
|
||||||||
|
Các loại máy ba quân sự của Liên Xô và Nga.
(Nguồn quansuvn.net do mr.Triumf viết )
MiG-15 Fagot ![]() Mikoyan-Gurevich MiG-15 được phát triển làm nhiệm vụ tiêm kích đánh chặn, nó có 1 pháo 37mm và 2 pháo 23mm. Sở dĩ nó được trang bị mạnh như vậy là nhờ kinh nghiệm rút ra được từ chiến tranh thế giới II rằng phải cần pháo cỡ lớn hơn 20mm thì mới có thể bắn hạ các máy bay ném bom hạng nặng có 4 động cơ. Mẫu MiG-15 đầu tiên bay thử vào tháng 12 năm 1947. Được đưa vào phục vụ từ năm 1949 và cho tới năm 1952, MiG-15 đã có mặt ở nhiều nước cộng sản "vệ tinh" của Liên Xô, trong đó có Bắc Triều Tiên. Trong chiến tranh Triều Tiên, MiG-15 đã tung hoành đối đầu với các máy bay của Không lực Hoa Kỳ. Lần chạm trán đầu tiên giữa MiG-15 với Không quân Hoa Kỳ xảy ra vào tháng 11 năm 1950. Ngày 8/11/1950, trung úy Russell Brown, bay trên chiếc F-80 đã bắn hạ 1 chiếc MiG-15, đây được coi là trận cận chiến (dogfight) đầu tiên trong lịch sử của 2 chiếc máy bay phản lực. Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó, MiG-15 đã chứng tỏ được những điểm ưu việt của nó so với các máy bay mà Không quân Mỹ có trong tay. Sau những trận không chiến, các chuyên gia Liên Xô đã rút kinh nghiệm và có những cải tiến nhất định, và dòng MiG-15bis ra đời. Động cơ VK-1 của MiG-15bis có lực đẩy lớn hơn so với động cơ RD-45 trước đó. Mặc dù MiG-15bis có khả năng leo cao nhanh hơn và trần bay cao hơn F-86, nhưng khả năng xoay trở kém cộng với tốc độ vượt âm nhưng thiếu ổn định đã giới hạn khả năng dogfight của nó. Trong không chiến với F-86, MiG-15 bị tổn thất khá nhiều, tuy nhiên nó lại tỏ ra rất hiệu quả trong việc đánh chặn các máy bay ném bom hạng năng như B-29 trong thời tiết tốt, ban ngày. Những thông số chính Sải cánh: 33 ft. 1 1/2 in. Chiều dài: 33 ft. 3 5/8 in. Chiều cao: 11 ft. 2 in. Trọng lượng: 11,270 lbs. max. Vũ khí: 2 pháo 23mm và 1 pháo 37mm, ngoài ra nó có thể mang rocket hoặc tới 2,000 lbs. bombs Động cơ: VK-1 lực đẩy 6,000 lbs. (copy từ động cơ Rolls-Royce "Nene" của Anh) Tốc độ tối đa: 670 mph. Tốc độ hành trình: 525 mph. Tầm bay: 500 miles Trần bay: 51,000 ft. ![]() MiG-17 FRESCO J-5 FRESCO ![]() Năm 1949, Văn phòng thiết kế Mikoyan-Gurevich (MiG) bắt tay vào việc thiết kế một loại máy bay mới nhằm thay thế cho MiG-15. MiG-17 có các đặc điểm tương tự như MiG-15, có tốc độ cao hơn và là loại máy bay chiến đấu đầu tiên của Liên Xô có động cơ tăng lực. MiG-17 có cánh mỏng hơn và thuôn về phía sau hơn, cánh đuôi cũng được thiết kế lại để tăng sự ổn định và giúp điều khiển máy bay được dễ dàng hơn. Tốc độ của nó có thể đạt tới Mach 1. Mẫu đầu tiên của MiG-17 bay thử tháng 1/1950 và được báo cáo là đã đạt tới ngưỡng Mach 1. Việc sản xuất hàng loạt được triển khai vào cuối năm 1951, nhưng rất tiếc là số lượng chưa đủ lớn để có thể tham gia một cách có hiệu quả trong chiến tranh Triều Tiên. Năm 1952, Không quân Liên Xô bắt đầu đưa vào sử dụng những chiếc MiG-17. Đã có tất cả 5 biến thể khác nhau của MiG-17 được sản xuất. Biến thể đầu tiên của MiG-17 được lắp động cơ VK-1, copy từ mẫu Rolls-Royce Nene của Anh. Năm 1955, những chiếc MiG-17PF (Fresco D) được trạng bị radar bắt đầu được đưa vào trang bị và có khả năng hoạt động trong mọi thời tiết, cho dù tính năng còn rất hạn chế. MiG-17PFU bắt đầu được trang bị 4 quả tên lửa không đối không điều khiển bằng radar AA-1 Alkali và trở thành loại máy bay tiêm kích đầu tiên của Liên Xô mang được tên lửa. Tới giữa những năm 1960, MiG-17 có thành tích khá tốt trong chiến tranh Việt Nam. Rất nhiều phi công hàng đầu của Bắc Việt Nam đa bay trên những chiếc MiG-17, trong đó có đại tá Toon hay Tomb (thực ra đây là một hình mẫu phi công siêu hạng được các phi công Mỹ dựng nên dựa trên các phi công giỏi của Bắc Việt. Đây là một cách gọi hài hước nhưng cũng thể hiện sự nể vì của các phi công sừng sỏ của Mỹ đối với các phi công của Bắc Việt). MiG-17 đã từng phục vụ trong không quân của gần 30 quốc gia trên khắp thế giới với trên 6,000 chiếc đã xuất xưởng. Ngoài ra nó cũng được sản xuất theo giấy phép ở Ba Lan (tên goi Lim-5P) và ở Trung Quốc (với tên gọi J-5/F-4). Những thông số chính Kíp lái: 1 người Tải trọng: 650kg Chiều dài: 11.1m Sải cánh: 9,64m Trọng lượng: 14,770 lbs Vũ khí: 3 pháo 23mm NR-23, 4 thùng rocket 8x57mm hoặc 2 quả bom 250kg, bình nhiên liệu phụ 2x400L Động cơ: 1 động cơ VK-1 lực đẩy 5952 lbs Tốc độ tối đa: 696mph Trần bay: 15850m Nhiên liệu mang bên trong: 1143kg Các nước đã sử dụng: • Afghanistan • Albania • Algeria • Angola • Congo • Cuba • thiopia • Guinea Republic • Guinea-Bissau • Madagascar • Mali • Mongolia • North Korea J-5) • North Yemen • People’s Republic of China (J-5) • Romania • Sri Lanka • Somalia • outh Yemen • Sudan • Tanzania • Vietnam
|
|
#2
|
||||||||
|
||||||||
|
MiG-21 FISHBED
J-7 (Jianjiji-7) / F-7 YF-110 MiG-21F là mẫu máy bay tiêm kích tầm gần đầu tiên được sản xuất của dòng máy bay MiG-21. Mẫu E-5 của dòng MiG-21 đã bắt đầu bay thủ năm 1955 và xuất hiện lần đầu trước công chúng tại sân bay Tushino ở Max-cơ-va tháng 6 năm 1956. Trong chiến tranh Việt Nam, các MiG-21 được các phi công Bắc Việt sử dụng để tiêu diệt các máy bay của Hoa Kỳ. Mặc dù MiG-21 không có radar và tên lửa tầm xa, cũng như chỉ có bán kính tác chiến nhỏ, nhưng nhờ được dẫn đường rất tốt từ mặt đất, các phi công của Bắc Việt đã tiến công rất hiệu quả các tốp máy bay cường kích F-105 của Hoa Kỳ bằng chiến thuật đánh nhanh, rút nhanh (hit and run). Không những thế, các máy bay tiêm kích F-4 cũng nhiều lần bị MiG-21 cho đo ván. Chính vì kết quả không chiến tồi tệ giữa F-4 và F-105 với MiG-21 nên khiến Không quân Mỹ thiết lập cái gọi là “Chương trình huấn luyện không chiến đặc biệt” và Không quân hải quân Mỹ có “Chương trình Top Gun” để nâng cao khả năng không chiến của các phi công Mỹ. Các máy bay A-4 và F-5 được sử dụng làm “quân xanh” vì có những tính năng khá tương đồng với MiG-17 và MiG-21. Ngày 26 tháng 12 năm 1972, phi công Phạm Tuận bay trên chiếc MiG-21MF đã bắn rơi chiếc máy bay B-52 của Mỹ đầu tiên và duy nhất tính đến nay. MiG-21 cũng được không quân các quốc gia như Ai Cập, Syria và Iraq sử dụng khá phổ biến trong các cuộc xung đột ở Trung Đông hồi những năm 1960 và 1970 để chống lại không quân Israel. Lần đầu tiên MiG-21 giáp mặt Mirage-IIIC của Israel vào ngày 7 tháng 4 năm 1967. Trong ngày này, đã có 6 chiếc MiG-21 của Syria bị các máy bay Mirage của Israel bắn hạ. Theo Fas.org, trong khoảng thời gian từ 26 tháng 4 năm 1965 đến 8 tháng 1 năm 1973, các máy bay F-4 và B-52 đã bắn rơi 68 chiếc MiG-21. Hơn 30 quốc gia trên thế giới, kể cả những nước than thiện với Hoa Kỳ đã sử dụng MiG-21. Có ít nhất 15 biến thể của MiG-21 đã được sản xuất, một số nước được sản xuất theo giấy phép. Đến nay, ước tính đã có hơn 10000 chiếc MiG-21 được xuất xưởng, một con số mà khó có dòng máy bay hiện đại nào có thể vượt qua. Số liệu tham khảo về số lượng MiG-21 đã được sản xuất tại Liên Xô ở các nhà máy: 5278 (hay 5765) ở Gorky, 3203 chiếc ở Moscow và 1677 ở Tbilisi. Liên Xô đã cho phép Trung Quốc sản xuất MiG-21F cùng động cơ của loại máy bay bày từ năm 1961, và chiếc J-7 đầu tiên sử dụng các linh kiện được sản xuất tại Trung Quốc bắt đầu được lắp ráp từ đầu năm 1964. Chuyến bay đầu tiên của J-7 do nhà máy ở Shenyang sản xuất được thực hiện vào ngày 17 tháng 1 năm 1966 và chiếc J-7I do nhà máy ở Chengdu sản xuất bắt đầu bay từ tháng 6 năm 1967. Cả 2 biên thể này đều được sản xuất hang loạt với số lượng lớn. Tiếp đó, các biến thể mới hơn là J-7II/J-7B được phát triển từ năm 1975 và đưa vào sản xuất tử tháng 9 năm 1979. Các mẫu F-7M và J-7III được bắt đầu thực hiện từ năm 1981. Các chuyên gia đánh giá là mẫu J-7III có tính năng tương đương với biến thể MiG-21MF của Liên Xô. J-7III bay thử lần đầu ngày 26 tháng 4 năm 1984. Những chiếc J-7III được phát triển dưới sự hợp tác của các nhà máy ở Chengdu và Guizhou (GAIC) bắt đầu được trang bị cho Không quân và Không quân hải quân của Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa từ năm 1992. Một nỗ lực phát triển nữa được tập trung vào biến thể F-7M Airguard và bắt đầu sản xuất từ tháng 12 năm 1984. Năm 1988, 20 chiếc đầu tiên trong tổng số 60 chiếc F-7M Skybolt đã được Trung Quốc chuyển giao cho Pakistan. Việc nâng cấp phát triển dòng Super-7 của Trung Quốc dưới sự trợ giúp kỹ thuật của Hoa Kỳ đã bị đình lại sau khi diễn ra Sự kiện Thiên An Môn năm 1989. Cho tới năm 1989, mỗi tháng Trung Quốc sản xuất được tới 14 chiếc, chủ yếu là để xuất khẩu. J-7 là mẫu đượẩtTung Quốc sản xuất và sử dụng rộng rãi nhất, thay thế cho mẫu J-6 (biến thể của MiG-19 của Trung Quốc) cũ hơn. Tới năm 1995 vẫn có nhiều máy bay J-7 được xuất xưởng và tính đến 2005, Không quân Trung Quốc có trong biên chế tới gần 1000 chiếc cho dù thực tế chỉ khoảng 500 chiếc còn bay được. Những thông số chính: Kíp lái: 1 người Chiều dài: 51ft. 9 in. Sải cánh: 23ft. 6 in Chiều cao: 15ft. 9 in. Trọng lượng tối đa: 18.080 lbs Vũ khí: 1 pháo 30mm NR-30, tên lửa AA-2 Atoll, rocket, bom FAB-250/500, bình nhiên liệu phụ 391kg hoặc 631kg. Động cơ: 1 động cơ Tumansky R-11F-300 @ 12,675 lbst w/afterburner Tốc độ tối đa: 1300mph Tốc độ hành trình: 550mph Trần bay: 15850m Tầm bay: MiG-21 = 650km; MiG-21bis = 1100lm Nhiên liệu mang bên trong: MiG-21 PFS = 2277kg; MiG-21bis = 2364kg Các nước đã sử dụng: • Afghanistan • Albania (J-7) • Algeria • Angola • Azerbaijan • Bangladesh • Bulgaria • Burma • Cambodia • China (J-7) • Congo • Croatia • Cuba • Czech Republic • Republic • Egypt • Ethiopia • Finland • Germany • Guinea • Hungary • India • Iran • Iraq • Kazakhstan • Laos • Libya • Madagascar • Mali • Mongolia • Mozambique • Nigeria • North Korea • North Yemen • Pakistan (J-7) • Poland • Romania • Slovakia • South Yemen • Sri Lanka • Sudan • Syria • Tanzania • Vietnam • Yugoslavia • Zambia • Zimbabwe MiG-21-93 bản nâng cấp của MiG-21 ![]() (Giá mà Việt Nam mình nâng cấp lên mấy con này thì vui phải biết) |
|
#3
|
||||||||
|
||||||||
|
MIG-21-93 VÀ MIG-21-2000
Cùng với các công ty chuyên phát triển các thế hệ radar phát hiện mục tiêu trên không, công ty Phazotron-NIIR là nhà thiết kế radar và hệ thống điều khiển hỏa lực dùng trên các máy bay chiến đấu hàng đầu của Nga. Công ty này cũng phát triển một số loại radar chuyên dùng để nâng cấp các loại máy bay chiến đấu hay máy bay tiêm kích bom. Đặc điểm của các loại radar này là trọng lượng nhẹ, kích thước nhỏ và được đồng bộ với hệ thống máy tính mạnh hơn. Hệ thống radar Kopyo được phát triển từ năm 1988 đến năm 1990. Về cơ bản, Kopyo là loại radar đa hệ được dung để điều khiển các loại tên lửa và bom hiện đại. Hiện nay, radar Kopyo được sử dụng để nâng cấp các máy bay MiG-21 hoặc Su-25, trong đó MiG-21 là lựa chọn hàng đầu. Ở Liên Xô (cũ), MiG-21 được sản xuất từ cuối những năm 1950 đến giữa những năm 1970 và cũng được sản xuất ở các nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ. Đến nay, MiG-21 là loại máy bay chiến đấu được sản xuất nhiều nhất (12000 chiếc đã xuất xưởng) và có hệ thống khung – airframe có tuổi thọ cực bền (tới 40 năm). Chính vì lẽ đó, hiện vẫn còn tới hàng nghìn chiếc MiG-21 đang được khoảng 40 quốc gia trên khắp thế giới sử dụng. Ngày nay, MiG-21 đang trên đà lập một kỷ lục thế giới mới: số lượng máy bay được nâng cấp nhiều nhất. Không chỉ Phazotron-NIIR đưa ra các gói nâng cấp mà các công ty hàng đầu thế giới khác, đến từ nhiều quốc gia khác nhau cũng tham gia vào thị trường đầy tiềm năng này. Một chiếc máy bay tiêm kích thuộc thế hệ 2 với radar có tính năng hạn chế cùng bán kính tác chiến nhỏ, nay được thay thế bằng hệ thống radar cùng máy tính hiện đại và tăng thêm lượng dầu mang bên trong, MiG-21 phần nào đó sánh được với các máy bay chiến đấu thế hệ 4, mang được các loại tên lửa không đối không, không đối đất, không đối hạm hiện đại và bom có điều khiển. Dù có rất nhiều hãng đưa ra các gói nâng cấp MiG-21, tuy nhiên hiện chỉ có 2 dự án đang cạnh tranh nhau và được rất nhiều khách hàng quan tâm. Dự án thứ nhất là MiG-21-93, dựa trên radar Kopyo, được phát triển bởi một nhóm các công ty của Nga như Rosvoorouzhenie State Corporation, Sokol Aircraft Manufacturing Plant (Nizhni Novgorod), Phazotron-NIIR Company, MAPO-MIG, và GosNIIAS. Các mẫu nâng cấp thử đã chứng minh được tính năng vượt trội của MiG-21-93. Ấn Độ là khách hang đầu tiên khi ký hợp đồng nâng cấp 125 chiếc MiG-21bis lên chuẩn MiG-21-93 tại tổ hợp HAL (của Ấn Độ) theo giấy phép của Nga. Dự án đối thủ của MiG-21-93 là MiG-21-2000, được đưa ra bởi hàng Elbit của Israel. Khách hàng đầu tiên của dự án này là Rumania khi họ đặt hàng nâng cấp 110 chiếc MiG-21 lên chuẩn MiG-21 Lancer (tên gọi của Rumania). Theo đó, sẽ có 85 chiếc (trong đó có 10 chiếc huấn luyện 2 chỗ ngồi MiG-21UM) được nâng cấp với radar đo xa (rangefinder) EL/M-2001 và 25 chiếc khác được nâng cấp với radar EL/M-2032 sản xuất bởi công ty Elta cũng của Israel. So sánh về đặc tính kỹ thuật cho thấy radar Kopyo có tính năng tốt hơn so với EL/M-2001 rangefinder và radar EL/M-2032: - Có tầm trinh sát phát hiện mục tiêu phía trước xa hơn (57km so với 46km của radar EL/M-2032) và có khả năng điều khiển các tên lửa không đối không tiêu diệt mục tiêu xa hơn nhờ sử dụng các tên lửa tầm nhiệt bán chủ động R-72R1 (AA-10 Alamo) và chủ động RVV-AE (AA-12 Adder). - Có khả năng tiến công các mục tiêu mặt đất chính xác với chức năng quét bản đồ với độ phân giải cao, giúp phi công điều khiển máy bay tiến công mục tiêu với góc thuận lợi bằng các vũ khí có điều khiển, bao gồm cả bom KAB-500KR. - Ở chế độ track-while-scan, MiG-21-93 có khả năng theo dõi tới 10 mục tiêu và tự động tiêu diệt 2 mục tiêu cùng lúc bằng tên lửa tầm xa. Trong khi MiG-21-2000/Lancer chỉ theo dõi được 8 mục tiêu và tiêu diệt 1 mục tiêu trong số đó. - MiG-21-93 có thể dung tên lửa diệt radar Kh-25MP để tiến công các trận địa radar hoặc các trận địa tên lửa, pháo phòng không điều khiển bằng radar. - MiG-21-93 sau khi được nâng cấp sẽ có khả năng không chiến tầm xa tăng gấp 10 lần và tính năng tổng hợp tăng gấp 3 lần so với khi chưa nâng cấp. ![]() Trong khi MiG-21-93 cố gắng nâng cấp khả năng tác chiến của máy bay và có rất ít thay đổi trong buồng lái (cho dù có lắp thêm màn hình LCD) thì MiG-21 Lancer lại chủ yếu tập trung vào việc làm sao cho phi công thoải mái hơn mà ít tập trung vào cải thiện hiệu quả chiến đấu. Radar Kopyo ![]() MiG-21-2000 ![]() MiG-21-2000 cockpit http://www.airforce-technology.com/p...iai3.jpg(Nhìn ngon vãi) MiG-21-93 cockpit
|
|
#4
|
||||||||
|
||||||||
|
mình có đọc đâu đó nói rằng do Mig 15 bị bắn rơi nhiều ở chiến tranh Triều Tiên nên khi sang Việt Nam các phi công Mỹ khá xem thường Mig 17 và hậu quả là....
![]()
|
|
#5
|
||||||||
|
||||||||
|
Cộng cho tớ mấy cái dép lào.Tiếp đây
Mig-23(Lại phải lấy từ Wiki) Mikoyan-Gurevich MiG-23 (tiếng Nga: Микоян и Гуревич МиГ-23; tên ký hiệu của NATO: "Flogger") là một loại máy bay tiêm kích cánh cụp cánh xòe, được thiết kế bởi phòng thiết kế Mikoyan-Gurevich của Liên Xô, và được coi là máy bay "thế hệ thứ ba" cùng với MiG-25 "Foxbat". Đây là máy bay tiêm kích đầu tiên của Liên Xô trang bị radar look-down/shoot-down (radar có khả năng phát hiện, theo dõi, khóa, ngắm bắn và tiêu diệt mục tiêu ở ngoài tầm "nhìn" của radar) và tên lửa ngoài tầm nhìn, và đây cũng là máy bay tiêm kích đầu tiên của MiG được sản xuất với khe hút khi nằm bên cạnh thân máy bay. Việc sản xuất bắt đầu vào năm 1970 và đã có 5.047 chiếc được chế tạo. Ngày nay MiG-23 vẫn tiếp tục hoạt động hạn chế trong lực lượng không quân một số quốc gia. MiG-27 'Flogger-D/-J' cũng được phát triển từ MiG-23. MiG-21 (tên ký hiệu của NATO 'Fishbed'), là loại máy bay tiêm kích phát triển trước MiG-23, đây là loại máy bay nhanh nhẹn và chắc chắn, nhưng MiG-21 bị giới hạn trong khả năng hoạt động vì radar yếu, tầm hoạt động ngắn và mang được ít vũ khí (không mang được nhiều tên lửa không đối không). MiG-23 là một máy bay hạng nặng, được thiết kế với nhiều máy móc mạnh hơn để khắc phục những khuyết điểm trên MiG-21, và vượt trội so với loại F-4 Phantom của phương Tây. Loại máy bay chiến đấu mới này có những nét mới hoàn toàn mà chưa có loại máy bay nào có vào thời điểm ấy, nó có hệ thống cảm biến mới S-23 và hệ thống vũ khí có thể bắn và điều khiển tên lửa ngoài tầm nhìn (BVR). Mối tâm chính đến bản thiết kế của MiG-23 là khả năng cất hạ cánh. Những máy bay phản lực của Liên Xô lúc đó cần đường băng rất dài, cùng với tầm bay và thao tác phối hợp chiến thuật hạn chế. Không quân Xô viết đòi hỏi loại máy bay mới phải hoạt động được trên đường băng ngắn hơn, có tốc độ bay thấp và khả năng điều khiển tốt hơn MiG-21. Mikoyan đã xem xét đến 2 lựa chọn: máy bay có trang bị thêm vòi xả tạo lực nâng bổ sung, và cánh có thể thay đổi hình dạng, được phát triển bởi TsAGI. Nguyên mẫu đầu tiên gọi là "23-01" nhưng được biết đến với cái tên MiG-23PD, nguyên mẫu này có cánh tam giác giống như MiG-21 nhưng có thêm hai vòi nâng trong thân. Tuy nhiên nó bộc lộ những khiếm khuyết về hình dạng, và những trọng lượng vòi nâng trở thành vô ích khi đã ở trên không. Nguyên mẫu thứ 2 là "23-11", lắp cánh thay đổi được hình dạng (cánh cụp cánh xòe) có thể xoay góc 16°,45° và 72°, và nó thể hiện kết quả khá tốt. Chuyến bay lần đầu tiên của 23-11 vào ngày 10 tháng 6-1967, , và 3 nguyên mẫu nữa đã được thiết kế cho những chuyến bay và thử nghiệm sau đó. Tất cả các mẫu đều được lắp động cơ Tumansky R-27-300 với lực đẩy 7850 kg. Sau những thử nghiệm, MiG-23 đã được đưa vào sản xuất hàng loạt vào tháng 12-1967. F-111 General Dynamics và McDonnell Douglas F-4 của Hoa Kỳ đã có ảnh hưởng đến thiết kế của MiG-23. Tuy nhiên người Nga muốn có một máy bay tiêm kích nhẹ hơn và đã thiết kế MiG-23 chỉ có một động cơ để đạt độ nhanh nhẹn tối đa. Cả F-111 và MiG-23 đều được thiết kế như máy bay tiêm kích, nhưng vì trọng lượng quá nặng của F-111 nên nó không bao giữ vai trò tiêm kích, thay vào đó nó trở thành máy bay ném bom chiến thuật. Ngược lại MiG-23 lại có những thông số bay phù hợp để hạ gục máy bay kẻ thù trong những trận hỗn chiến trên không. Không quân Hoa Kỳ cũng có một số lượng nhỏ MiG-23, nó được biết đến với cái tên YF-113G cho thử nghiệm đánh giá máy bay và đóng vai kẻ địch cho công tác huấn luyện các phi công từ năm 1977 đến năm 1988 trong một trương trình có mật danh "Constant Peg".(Thực ra con mig-23 này chỉ là con F-111 cải tiến chút ít,bố em trước đi lính kể rằng lúc đánh vào miền trong thì ta phát hiện trong 1 sân bay của Mĩ-Ngụy có 1 con F-111 mới nguyên.Thế là em F này ''bay'' thẳng về Nga từ đó ra sao thì chắc ai cũng biết) Thế hệ đầu tiên của MiG-23 Flogger-A MiG-23S * Ye-231 là nguyên mẫu đầu tiên được chế tạo cho thử nghiệm, và nó thiếu gờ răng cưa ở cánh, chi tiết này sau đó đã xuất hiện trên tất cả các kiểu MiG-23/-27. Mẫu thử nghiệm này là cơ sở cho các mẫu máy bay MiG-23/27 và Sukhoi Su-24, nhưng Su-24 có những sửa đổi lớn từ kinh nghiệm của mẫu Ye-231 so với MiG-23/27. MiG-23 là mẫu tiền sản xuất, nó thiếu những giá treo vũ khi trên cánh, những giá treo này được thiết kế trên những phiên bản sản xuất sau này, nó được vũ trang bằng súng. Gờ răng cưa ở cánh đã xuất hiện trên mẫu này. Mẫu này đã thể hiện rõ ranh giới giữa MiG-23/MiG-27 và Su-24 so với mẫu đầu tiên Ye-231. # MiG-23S là biến thể đầu tiên được sản xuất. Có khoảng 60 chiếc được sản xuất giữa 1969-1970. Nó được sử dụng cho cả 2 nhiệm vụ thử nhiệm bay và hoạt động. MiG-23S được lắp động cơ phản lực cải tiến R-27F2-300 với lực đẩy tối đa là 9980 kg, vì radar Sapfir-23 bị trì hoãn lắp đặt, nên máy bay được trang bị hệ thống điều khiển vũ khí S-21 với rada RP-22SM, về cơ bản hệ thống vũ khí giống MiG-21MF/bis. 2 súng 23 mm GSh-23L với 200 viên đạn dưới thân máy bay. Nó chưa bao giờ được đưa vào chiến đấu do gặp một số vấn đề với hệ thống cánh. # MiG-23SM Là mẫu tiền sản xuất thứ 2, nó còn được biết đến với tên MiG-23 Type 1971. Nó có nhiều thay đổi lớn so với MiG-23S: có hệ thống vũ khí S-23 hoàn thiện, radar Sapfir-23L với tên lửa BVR Vympel R-23R (NATO: AA-7 'Apex'). Nó còn được gắn động cơ cải tiến R-27F2M-300 (sau này có tên R-29-300) với lực đấy tối đa lên tới 12.000 kg. Loại cánh sửa đổi "mẫu số 2" tăng thêm diện tích cánh và có gờ răng cưa lớn hơn. Phần cánh nhỏ phía trước cánh chính bị loại bỏ và góc quét tăng thêm 2.5 độ. Vị trí cánh có thể thay đổi 18.5°, 47.5° và 74.5°. Bộ phận đuôi giữa thăng bằng được di chuyển về sau, và thùng nhiên liệu phụ được thêm vào phần sau thân máy bay, nó còn có một mẫu biến thể 2 chỗ. Có khoảng 80 chiếc được chế tạo. Tất cả những mẫu sau đều chứng tỏ được sự tin cậy so với những biến thể trước, nhưng loại rada Sapfir lại tỏ ra chưa chín muồi. Flogger-B * MiG-23M: biến thể này bay lần đầu vào tháng 6-1972. Nó là phiên bản đầu tiên được sản xuất với số lượng lớn của loại MiG-23, và là máy bay tiêm kích đầu tiên của VVS có khả năng look-down/shoot-down (dù nó vẫn còn khả năng hạn chế). Cánh được làm nhẹ hơn nhưng vẫn chắc chắn. Động cơ R-29-300 (R-29A) đã được nâng cấp với lực đẩy là 12.500 kg. Phiên bản này cuối cùng cũng được sử dụng hệ thống cảm biến đồng bộ, hiện đại: rada cải tiến Sapfir-23D (NATO: 'High Lark'), một cảm biến hồng ngoại dò tìm theo dõi (IRST) TP-23 và một súng ngắm tự động ASP-23D. Rada "High Lark" có khả năng phát hiện mục tiêu từ khoảng cách 45 km. Radar 'High Lark' không hẳn là một radar Doppler đúng nghĩa, nhưng thay thế dùng kỹ thuật "tách sóng đường bao" hiệu quả kém, tương tự như radar trên một số máy bay của phương Tây vào thập niên 1960. * MiG-23MF ("Flogger-B"): là phiên bản xuất khẩu của MiG-23M cho các nước thuộc khối hiệp ước Vác-xa-va, nhưng nó cũng còn được bán cho cả những nước khác. Trên thực tế nó có 2 phiên bản. Phiên bản thứ nhất được bán cho các nước trong khối Vác-xa-va, về bản chất nó giống với MiG-23M của Liên Xô, với một thay đổi nhỏ trong hệ thống phân biệt bạn hoặc thù (IFF) và trang bị hệ thống truyền thông tin cao cấp hơn. Phiên bản thứ 2 được bán cho các nước ở ngoài khối hiệp ước Vác-xa-va, phiên bản này có một sự khác biệt về hệ thống IFF, hệ thống liên lạc (vẫn truyền thông tin theo cách thông thường với hệ thống truyền dữ liệu kết nối), sử dụng rada cũ hơn, thiếu hệ thống đối phó điện tử (ECCM). MiG-23MF được ưa chuộng hơn phiên bản MiG-23MS và có một số lượng lớn được xuất khẩu, đặc biệt là ở Trung Đông. Flogger-E MiG-23MS * MiG-23MP: nó khá giống với MiG-23MS, nhưng chỉ sản xuất vài chiếc và không bao giờ xuất khẩu. Nó thực sự là khuôn mẫu của MiG-23MS ngoại trừ thêm vào chất điện môi trên giá đỡ vũ khí, nó liên kết với phiên bản cường kích làm cho sức mạnh của mẫu MiG-23MP tăng lên. * MiG-23MS: nó là phiên bản xuất khẩu, nó được cải tiến từ loại MiG-23M để bán cho các nước thuộc thế giới thứ 3. Nó khác với MiG-23M về một số mặt, nhưng có hệ thống vũ khí tiêu chuẩn S-21, với một rada RP-22SM (NATO: 'Jay Bird'), và hệ thống IRST (cảm biến hồng ngoại dò tìm theo dõi). Phiên bản này sử dụng tên lửa không đối không R-3S (NATO: AA-2a 'Atoll'), R-60 (NATO: AA-8 'Aphid') điều khiển bằng sóng vô tuyến và tên lửa R-3R NATO: AA-2d 'Atoll') được dẫn đường từ rada mặt đất bán chủ động, MiG-23MS không có khả năng tấn công BVR (ngoài tầm nhìn). Hệ thống điện tử áp dụng trên máy bay rất cơ bản. Phiên bản này được sản xuất giữa những năm 1973-1978 và được xuất khẩu phần lớn đến Bắc Phi và Trung Đông. Hệ thống tia hồng ngoại có thể dò tìm mục tiêu trong khoảng 30 km để phát hiện máy bay ném bom, nhưng nó lại không nổi trội về phát hiện mục tiêu là có kích thước của máy bay tiêm kích. Nó được trang bị hệ thống truyền dữ liệu Lasur-SMA. Trang bị vũ khí tiêu chuẩn gồm có 2 tên lửa dẫn đường bằng rada hoặc tia hồng ngoại Vympel R-23 BVR (NATO: AA-7 'Apex') và 2 tên lửa dẫn đường bằng hồng ngoại tầm ngắn Molniya R-60 (NATO: AA-8 'Aphid'). Sau năm 1974, thêm 2 giá lắp tên lửa R-60 được thêm vào, nâng tổng số tên lửa R-60 lên thành 4 quả. Bom, rocket và tên lửa được trang bị cho vai trò cường kích. Sau đó nó còn được cải tiến để thêm vào loại tên lửa không đối đất dẫn đường bằng sóng vô tuyến Zvezda Kh-23 (NATO: AS-7 'Kerry'). Nhiều chiếc MiG-23 của Liên Xô còn được cải tiến để mang vũ khí hạt nhân chiến thuật. Khoảng 1.300 chiếc MiG-23M và MiG-23MF đã được sản xuất cho không quân Xô viết và Quân chủng phòng không Liên Xô (PVO Strany) giữa những năm 1972-1978. Nó đóng vai trò là loại máy bay chiến đấu quan trọng trong giữa những năm 1970. Flogger-C * MiG-23U: là biến thể 2 chỗ dành cho huấn luyện. Nó là lọai cải tiến từ MiG-23S, nhưng được làm dài buồng lái với một chỗ nữa cho phi công huấn luyện. Thùng xăng phía trước được thay thế để có thêm chỗ trong buồng lái, thay vào đó, một thùng xăng mới được gắn vào sau thân máy bay. MiG-23U có hệ thống cũ khí S-21, mặc dù rada vẫn là loại cũ. So với loại MiG-23M thì cánh và động cơ đều được cải tiến. Việc sản xuất bắt đầu ở Irkutsk năm 1971 và cuối cùng MiG-23U được cải tiến thành MiG-23UB. * MiG-23UB: nó rất giống với MiG-23U, nhưng động cơ R-29 đã được thay thế cho R-27 của MiG-23U. Việc sản xuất diễn ra cho đến trước năm 1985 (cho phiên bản xuất khẩu). Tổng cộng có 769 chiếc được sản xuất, bao gồm cả những mẫu cải tiến từ MiG-23U |
|
#6
|
||||||||
|
||||||||
|
Trích:
chưa tính số B-52 bị phòng không ta bắn rụng Trích:
P/S : mà sao toàn mấy chiếc thế hệ 3 vậy, mấy chiếc thế hệ 4 đâu?
|
|
#7
|
||||||||
|
||||||||
|
Có nâng cấp nhưng chưa lên chuẩn 93 vẫn chỉ là đồ lởm thôi,nhưng đựoc cái bây giờ mang được hàng khủng.
|
|
#8
|
||||||||
|
||||||||
|
Trích:
|
|
#9
|
||||||||
|
||||||||
|
nghe ghê thế thôi chứ gặp tên lửa đất đối ko vẫn chạy dài, chủ yếu là lăng xê thôi
|
|
#10
|
||||||||
|
||||||||
|
Trích:
Tính trong chiến tranh Bắc Việt có 1 chiếc Mig 21 đạt 9 kills và một Mig 17 đạt 7 kills. Không biết làm thế nào mà Ông Nguyễn Văn Bảy lại dùng Mig 17 bắn hạ 7 chiếc trong khi Mig 17 vào thời đó đã là tương đối lạc hậu
|
![]() |
| Bookmarks & Social Networks |
|
|
| Ðiều Chỉnh | |
| Xếp Bài | |
|
|
|