oOo VnSharing oOo

Chào mừng đã đến với forum oOo VnSharing oOo.

Bạn chưa đăng kí (hoặc chưa đăng nhập) nên quyền lợi của bạn sẽ bị hạn chế. Việc đăng kí làm thành viên hoàn toàn miễn phí, sau khi đăng kí bạn có thể post bài, tham gia thảo luận, liên lạc với các thành viên khác qua hệ thống tin nhắn riêng, yêu cầu manga/anime... và rất nhiều quyền lợi khác. Thủ tục đăng kí rất nhanh chóng và đơn giản, hãy Đăng Kí Làm Thành Viên!

Nếu bạn quên mật khẩu, xin nhấn vào đây.

Nếu bạn gặp trục trặc trong vấn đề đăng kí hoặc không thể đăng nhập, hãy liên hệ với chúng tôi.
Go Back   oOo VnSharing oOo > VnSharing School > Văn hóa nước Nhật

HD cho người mới | ĐĂNG KÍ VIP MEMBER: KHÔNG QUẢNG CÁO, KHÔNG CẦN POST BÀI ĐỂ DOWNLOAD!
Mua sắm bằng Rep! | VnSharing Shop   Facebook

♥ Shounen Tournament 2014 ♥

Dịch vụ ăn đồ bỏ thừa, hưởng lương hậu hĩnh box Truyện Dịch


Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 26-01-2010, 11:57
Nayaki's Avatar
Nayaki Nayaki is offline
Fall comes, and I love you...
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Tham gia ngày: 16-02-2009
Bài gửi: 83
Cấp Độ: 38
Rep: 1860
Nayaki has a reputation beyond reputeNayaki has a reputation beyond reputeNayaki has a reputation beyond reputeNayaki has a reputation beyond reputeNayaki has a reputation beyond reputeNayaki has a reputation beyond repute

Gửi tin nhắn qua Skype™ tới Nayaki
[Đời sống - Văn hóa] Hội Họa Nhật Bản




Hội Họa Nhật Bản


Hội họa là một trong những loại hình nghệ thuật phổ biến nhất và cũng được nghiêng cứu nhiều nhất. Tranh vẽ ở Nhật có thể đơn giản thanh tao hoặc phức tạp phi thường; và tầm ảnh hưởng của nó có thể được nhận biết qua các tranh vẽ của tất cả các nền văn hóa.

Phong cách hội họa của Nhật Bản chúng ta biết ngày nay đều được ảnh hưởng sâu sắc bởi phong cách hội họa của Trung Quốc. Trong suốt thời kỳ Murosachi (1338 - 1573), nước Nhật đã mở cửa buôn bán với Trung Hoa, vì thế những bức tranh Trung Quốc cũng bắt đầu được treo trong tư gia của tầng lớp quý tộc Nhật Bản. Những nhà quý tộc này đã phát triển thị hiếu đối với tranh Trung Quốc và bắt đầu sứ mệnh sáng tác theo phong cách này. Những nghệ nhân người Nhật đã không mô phỏng một cách toàn diện theo phong cách của Trung Hoa, họ đã kết hợp phong cách này cùng với thị hiếu riêng của người Nhật; và sáng tạo ra nét riêng của Nhật Bản.

Nhìn chung, hội họa ở Nhật Bản dưới thời Murosachi đã bao hàm được chiều sâu của không gian và cả câu chuyện. Vào thời hoàn kim Momoyama (1573 - 1603), phong cách họa phong cảnh truyền thống bắt đầu phát triển - những tranh vẽ được sáng tác trên nền rộng đủ để lấp kín một gian phòng. Dưới thời Edo (1603 - 1867), một phong cách hội họa mới kết hợp với phông nền lá vàng, đã tạo ra một hiệu quả gần giống với tranh khảm của thời kỳ Trung Cổ ở phương Tây.

Cũng trong giai đoạn này, ngành in mộc bản Ukiyo-e bắt đầu nở rộ. Điều này tượng trưng cho sự suy yếu của những loại hình nghệ thuật khác ở Nhật Bản. Nhờ vào ngành in này, những bức in có thể được sao chép lại. Một gia đình trung lưu cũng có thể treo bức sao chép của những tác phẩm nổi tiếng tại nhà.

Có lẽ do yếu tố chiều sâu trong không gian của những bức tranh Nhật Bản đã hấp dẫn nhiều người ưa thích,hay phong vị[của khiếu thẩm mỹ từ thời xa xưa đã lan tỏa trong từng tác phẩm, hoặc[do cách xử lý điêu luyện tạo hiệu quả tinh xảo. Nhìn chung, khó để khẳng định chính xác yếu tố nào tạo cho hội họa Nhật Bản nét lôi cuốn đến như vậy; nhưng có thể chắn chắn rằng đây là môn nghệ thuật đẹp và độc đáo.
Dịch từ Nguồn



__________________



thay đổi nội dung bởi: Ajisai~, 29-08-2014 lúc 21:22
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #2  
Old 08-03-2010, 11:00
Kaze Ouji's Avatar
Kaze Ouji Kaze Ouji is offline
 
Lover
Kumo Hime
Phòng trưng bày huy hiệu
Moogle Wings Egg Taiga Aisaka Chó Punch mập 
Chie no Hon (Book of Wisdom) Magical Mokona Chiyu Nakauchi Emblem of Profession 
Tổng số huy hiệu: 54
Tham gia ngày: 03-08-2009
Bài gửi: 1,055
Cấp Độ: 15
Rep: 622
Kaze Ouji has a reputation beyond reputeKaze Ouji has a reputation beyond reputeKaze Ouji has a reputation beyond repute

Gửi tin nhắn qua Yahoo chat tới Kaze Ouji Gửi tin nhắn qua Skype™ tới Kaze Ouji
[Đời sống - Văn hóa] Hội Họa Nhật Bản




Hội Họa Nhật Bản


Hội họa Nhật Bản (絵画, Kaiga) là một tỏng những môn nghệ thuật lâu đời và tao nhã nhất của nền nghệt thuật Nhật Bản, bao gồm rất nhiều phong cách và thể loại khác nhau.


Cũng như lịch sử nghệt thuật nói chung, hội họa Nhật Bản có lịch sử lâu dàu kết hợp và pha trộn giữa nền nghệ thuật bản địa với những phong cách du nhập.


Các nhà làm bản in, đặc biệt là thời Edo đã gây ảnh hưởng lên hội họa phương Tây, cụ thể là Pháp vào thế kỉ mười chín.




Nhật Bản cổ đại


Nguồn gốc hội họa Nhật bắt nguồn từ thời tiền sử Nhật Bản. Các hình nhân gậy đơn giản và thiết kế hình học có thể tìm thấy trong đồ gốm thời Jōmon và chuông đồng dotaku thời Yayoi (300 năm trước công nguyên đến năm 300 sau công nguyên). Các bức vẽ trên tường cả hình học lẫn hình dạng đã được tìm thấy trong nhiều tumuli thời Kofun (năm 300 đến năm 700 sau công nguyên)


Với sự xuất hiện của hệ thống chữ viết Trung Quốc (kanji). Hình thức tổ chức nhà nước cũng Trung Hoa và sự dụ nhập vào Nhật Bản của đạo Phật thồi Asuka, nhiều tác phẩm hội họa được du nhập vào Nhật Bản từ Trung Quốc, và các phiên bản nội địa với phong cách tương tự bắt đầu xuất hiện.



Thời Nara



Với sự thịnh hành của đạo Phật thế kỉ sáu, bảy ở Nhật, các tác phẩm hội họa tôn giáo đạt đến đỉnh cao và thu được nhiều thành tựu, dùng trang trí các đền thời xây dựng bởi tần lớp thống trị. Tuy nhiên, vào thời Nara, Nhật Bản thật sự nổi trội trong nghệ thuật điêu khắc, không phải hội họa.


Tác phẩm cổ nhất còn tồn tại từ thời này, tính luôn cả tranh trên trường của đền Horyu-ji ở Ikaruga, Nara, mô tả một chương trong cuộc đời của Phật Tổ, các Bồ Tát, và nhiều vị thần khác. Phong cách hội họa gợi nhớ đến các tác phẩm hội họa Trung Hoa nhà Tùy cuối thời Chiến Quốc.


Tuy nhiên, đến thời Nara, hội họa mang phong cách nhà Tần trở nên vô cùng thịnh hành. Tính luôn cả các bức trang tường trong hầm mộ Takamatsusuzuka, khoảng 700 năm sau công nguyên. Phong cách này phát triển thành thể loại Kara-e, và vẫn thịnh hành suốt giai đoạn đầu thời Keian.


Do hầu hết các bức tranh thời Nara đều mang tính chất tôn giáo, chủ yếu các tác phẩm đều do các họa sĩ vô danh vẽ. Một bộ sưu tập lớn các tác phẩm thời Nara được giữ trong nhà kho Shosoin, trước đây thuộc Todai-ji, nay dưới quyền của đại diện Hoàng tộc.



Thời Heian và Kamakura



Với sự phát triển của hai nhánh Phật giáo Mật tông Shingon và Tendai ở Nhật thế kỉ tám và chính, các hình ảnh tôn giáo, đáng chú ý là tranh vẽ Mandala, trở nên nổi trội. Nhiều phiên bản khác nhua của Madala, đặc biệt là mandala kim cương thế và mandala thai thành thế, được làm dưới dạng cuộn treo, và cũng xuất hiện trong tranh vẽ trên tường ở đền thời. Một ví dụ cổ xưa là chùa năm câu chuyện Daigo-ji, một ngôi chùa phía nam Kyoto.


Cùng với sự phát triển của Phật Giáo Nhật Bản hướng đến cỗi Niết Bàn nhán Jodo thế kỉ thứ mười, một thể loại mới quan trọng được đưa vào, raigozu, mô tả Phật Amida (A Di Đà) đón các linh hồn lương thượng đến Tây điện của ông. Một ví dụ cổ, vào khoảng năm 1503, ở chùa Byodo-in, Uji, Kyoto. Đây cũng được xem là một ví dụ cho phong cách Yamato-e của hội họa Nhật Bản, diễn tả phong cảnh xung quanh Kyoto.


Vào giữa thời Heian, phong cách hội học Trung Hoa (kara-e) mất chỗ đứng vào tay Yamato-e, thường dùng cho cảnh cuộn và cảnh cuốn byōbu. Tuy nhiên, Yamato-e cũng phát triển thành nhiều dạng (đặc biệt là càng về sâu thời Heian), bao gồm cả tranh cuộn tay emakimono.


Emakimono chứa các tiểu thuyết được minh họa, như Genji Monogatari, các tác phẩm lích sử, như Ban Dainagon Ekotoba, và nhiều tác phẩm tôn giáo. Họa sĩ E-maki phát minh một hệ thống qui ước để đem lại hiệu ứng cảm xúc cho từng cảnh. Genji Monogatari được chia làm nhiều tập, trong khi đó Ban Dainagon Ekotoba dùng phong cách diễn thuyết bằng tranh liên tục bằng nét cọ Siege of the Sanjō Palace cũng là một tác phẩm nổi tiếng tiêu biểu cho hệ thống này.



E-maki cũng giữ vai trò một trong những ví cụ lâu đời và vĩ đại nhất của otoko-e (tranh của đàn ông) và onna-e (tranh của phụ nữ) Có nhiều điểm khác nhau giữa hai phong cách, dựa theo tính thẩm mỹ khác nhau giữa hai giới. Nhưng dễ nhận ra nhất trong những khác nhau là đề tài chủ thể. Onna-e, đại diện bởi Truyện kể Genji, thường bàn về cuộc sống cung đình, cung phi, và mang màu sắc lãnh mạn. Còn Otoko-e, thường lưu trữ các sự kiện lịch sử, thường là các trận đánh.


Các thể loại kể trên tiếp tục phát triển qua thời Kamakura (từ 1180 đến 1333). E-maki của cá thể loại khá nhau vẫn tiếp tục ra đời; tuy nhiên, thời Kamakura lại nghiêng về nghệ thuật kiến trúc hơi là hội họa.


Hầu hết các tác phẩm hội họa thời Heian và Kamakura đều mang màu sắc tôn giáo, đa phần bởi họa sĩ vô danh vẽ.



Thời Muromachi



Trong thế kỉ mười bốn, sự phát triển của các tu viện Zen (thiền tông) ở Kamakura và Kyoto có ảnh hưởng rất lớn đến nghệ thuật. Suibokuga, phong cách tranh một màu chân phuơng bằng mực in được du nhập từ nhà Tống và nhà Nguyên Trung Quốc thay thế những tranh họa cuộn của thời trước, dù một vài bức chân dung nhiều màu vẫn tồn tại -- chủ yếu dưới dạng tranh chinso của các tu sĩ thiền tông.


Điển hình cho những tranh này là nhà tu sĩ, họa sĩ Kao, Kensu (triếng Trung là Hsien-tzu) vào thời điểm ông đạt đến cảnh giới Niết Bàn. Dạng tranh vẽ này dùng những nét cọ nhanh và ít chi tiết. 'Catching a Catfish with a Gourd'(ở Taizo-in, Myoshin-ji, Kyoto), của họa sĩ Josetsu, đánh dấu bước ngoặt cho hội họa thời Muromachi. Ở bề mặt, một người đàn ông ở suối cầm một bầu nhỏ nhình vào hồ cá lớn. suơng mù che lấp khu đất giữa, và cảnh nền, núi có vẽ như xa tít. Đây được xem là dạng tranh mới, khoảng 1413, có liên hệ đến cảm giác không gian sâu lắng trong tranh của người Trung Hoa.



Cuối thế kỉ mười bốn, tranh phong cảnh một màu (sansuiga) được sự bảo trợ của gia đình thống trị Ashikaga và được xem là một dạng tranh thiền tông, dần phát triển từ cội rễ Trung Quốc sang một phong cách Nhật Bản hơn.


Các họa sĩ trước nhất trong thời này là thầy tu, họa sĩ Shūbun và Sesshū. Shūbun, sự ở chùa Shokoku-ji, Kyoto, vẽ bức Reading in a Bamboo Grove (1446), một bức tranh phong cảnh tả thực, sâu lắng về không gian. Sesshū, không như những họa sĩ khác của thời này, lại được chu du đến Trung Quốc, học tiếng Trung Hoa, và cội nguồn tranh vẽ ở đây. Landscape of the Four Seasons (Sansui Chokan; 1486) là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của Sesshu, mô tả phong cảnh liên tục qua bốn mùa.


Vào cuối thời Kuromachi, tranh mực tàu tách khỏi thiền tông đến với thế giới nghệ thuật hoàn toàn, các họa sĩ Kano và Ami tiếp thu phong cánh và màu sắc, nhưng phát triển các hiệu ứng tạo hình và trang trí, sau này vẫn tiếp tục phát triển ở thời hiện đại.


Các họa sĩ Nhật Bản nổi tiếng thời Muromachi:
  • Mokkei (khoảng năm 1250)
  • Mokuan Reien (mất năm 1345)
  • Kao Ninga (thế kỉ mười bốn)
  • Mincho (1352-1431)
  • Josetsu (1405-1423)
  • Tenshō Shūbun(mất năm 1460)
  • Sesshū Tōyō (1420-1506)
  • Kano Masanobu (1434-1530)
  • Kano Motonobu (1476-1559)


Thời Azuchi - Monoyama



Trái ngược với thời Muromachi trước đó, thời Azuchi Monoyama nổi bật ở phong cách hội họa nhiều màu sắc, ứng dụng chỉ vàng, chỉ bạc, và những tác phầm vô cùng đồ sộ.


Dòng Kano, được sự hậu thuẫn của Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi, Tokugawa Ieyasu cùng các thuộc hạ của họ nhanh chóng dành thế độc tôn cả về kích cỡ lẫn thanh thế. Kano Eitoku phát triển một phép cho sự sáng tạo phong cảnh trên các cửa trược trước phòng. Những phong cảnh không lồ và tranh vẽ trên tường dùng để trang trí lâu đài và cung diện cho quý thộc quân đội. Trạng thái này tiếp qua đến thời Edo, Tokugawa bakufu tiếp tục phát triển các tác phẩm của dòng Kano nhưng là nghệ thuật chủ yếu của Shogun, daimyo và Hoàng tộc.


Tuy vậy, những họa sĩ ngoài dòng Kano vẫn tồn tại và phát triển trong giai đoạn Azuchi-Monoyama, tiếp thu màu sắc Trung Quốc và tư liệu và thẫm mĩ Nhật Bản. Nhóm quan trọng là dòng Tosa, phát triển chủ yếu từ phong cách yamato-e truyền thống, được biết đến với các tác phẩm nhỏ và đồ họa cho những tác phẩm kinh điển dưới dạng emaki.


Các họa sĩ quan trọng thời Azuchi-Monoyama bao gồm:
  • Kano Eitoku (1543-1590)
  • Kano Sanraku (1559-1663)
  • Kano Tanyu (1602-1674)
  • Hasegawa Tohaku (1539-1610)
  • Kaiho Yusho (1533-1615)


Thời Edo



Nhiều nhà sử học nghệt thuật cho rằng thời Edo là tiếp tục của thời Azuchi-Monoyama. Chắc chắn là, trong thời Edo có nhiều đặc điểm hội họa được tiếp nối, và vẫn thông dụng; tuy nhiên, một vài điểm mới vẫn xuất hiện.


Một dòng đặc biệt phát triển đầu thời Edo là Rimpa, dùng phong cách cổ điển, nhưng taọ hình phá cách, ngang tàng. Sōtatsu phát triển một phong cách bằng phương pháp tái hiện các tác phẩm văn học cổ điển, dùng mùa sắc tuyệt vời và chủ đề từ thế giới tự nhiên lên nền vàng lá. Một thế kỉ sau, Konin làm mới phong cách Sōtatsu và tạo ra những tác phẩm đặc sắc của riêng mình.


Một thể loại quan trọng phát triển trong thời Azuchi-Momoyama, nhưng đạt đến đỉnh cao đầu thời Edo là Namban, cả trong miêu tả người ngoại quốc và việc dùng phong cách ngoại quốc vào tranh vẽ. Thể loại này trung tâm nằm ở cảng Nagasaki, sau sự bắt đầu của chính sách bế quan tỏa cảng Tokugawa bakufu, là cảng duy nhất của Nhật Bản cho phép giao thương với nước ngoài, và do đó chịu ảnh hưởng của các họa sĩ Trung Quốc và Châu Âu đến Nhật Bản. Hội họa trường phái này cũng gồm cả dòng Nagasaki, và Maruyama-Shijo, pha trộng cả ảnh hưởng Trung Quốc và Châu Âu với yếu tố Nhật Bản bản địa.





Hướng quan trọng thứ ba trong thời Edo là sự nổi lên của thể loại Bunjinga (văn học họa), còn được biết đến là dòng vẽ Nanga (phương Nam). Thể laọi này bắt đầu từ những bức mô phỏng theo những tác phẩm của các nho sĩ, họa sĩ nhiệp dư thời Nguyên của Trung Quốc, các tác phẩm này du nhập vào Nhật Bản thế kỉ mười tám. Sau này các họa sĩ bunjinga điểu chỉnh kĩ thuật cũng như đề tài của thể laọi này để tạo nên một phong cách pha trộn giữa Nhật Bản và Trung Hoa. Tiểu biểu cho thể laọi này là Ike no Taiga, Uragami Gyokudo,Yosa Buson, Tanomura Chikuden, Tani Buncho, và Yamamoto Baiitsu.


Do chính sách khắt khe của Tokugawa bakufu , những bản đắt tiền của các thể loại này và phong cách của chúng chỉ được biết đến bởi lớp thượng lưu trong xã hội, và ko phổ biến, nếu không muốn nói là bị cấm tiệt dối với tầng lớp thấp. Người dân phổ thông phát triển một dạng nghệ thuật riêng biệt, fuzokuga, vẽ về phong cảnh bình thường, cuộc sống thường nhật, đặc biệt là của người dân lao động bình thường, nhà hát kabuki, mãi dâm và phong cảnh khá phổ biến. Vào thế kỉ mười sau, những tác phẩm này đem đến sự nổi lên của ngành sảnh xuất gỗ bán phổ thông, giúp truyền tải trong tời gian sau này của thời Edo.


Các họa sĩ Edo nổi danh:
  • Tawaraya Sōtatsu (d.1643)
  • Ogata Korin (1658–1716)
  • Gion Nankai (1677–1751)
  • Sakaki Hyakusen (1697–1752)
  • Yanagisawa Kien (1704–1758)
  • Yosa Buson (1716–1783)
  • Ito Jakuchu (1716–1800)
  • Ike no Taiga (1723–1776)
  • Maruyama Okyo (1733–1795)
  • Okada Beisanjin (1744–1820)
  • Uragami Gyokudo (1745–1820)
  • Matsumura Goshun (1752–1811)
  • Katsushika Hokusai (1760–1849)
  • Tani Buncho (1763–1840)
  • Tanomura Chikuden (1777–1835)
  • Okada Hanko (1782–1846)
  • Yamamoto Baiitsu (1783–1856)
  • Watanabe Kazan (1793–1841)
  • Utagawa Hiroshige (1797–1858)
  • Shibata Zeshin (1807–1891)
  • Tomioka Tessai (1836–1924)


Thời Meiji



Vào thời Meiji, Nhật Bản có biến chuyển lớn cả về xã hội và chính trị, theo hướng phương Tây hóa và hiện đại hóa tổ chức bởi chính phủ Meiji. Thời Meiji đánh dấu phân chia hội họa ra hai trường phái cạnh tranh phương Tây hiện đại và phương Đông truyền thống.


Tranh theo phong cách phương Tây (Yōga) được nhà nước hậu thuẫn, gửi họa sĩ triển vọng đi học tập, thuê họa sĩ nước ngoài đến Nhật Bản dạy nghệ thuật tại các trường.


Tuy nhiên, sau sự bùng nổ của trào lưu hội họa phương Tây, cán cân lại nghiêng về hướng ngược lại, dẫn đầu bởi nhà họa sĩ Okakuro Kabuzo và nhà giáo dục Ernest Fenollosa, một cuộc tái sinh nghệ thuật Nhật Bản truyền thống (Nihonga) được thực hiện.


Năm 1880, nghệ thuật phong cách phương Tây không còn là chính thống và lâm vào khủng hoảng. Được sự ủng hộ từ Okakura và Fenollosa, phong cách Nihonga triến triển, nhận ảnh hưởng từ phong cách phương Tây phong trào pre-Raphaelite và phong trào romanticism.





Các họa sĩ Yōga thành lập Meiji Bijutsukai để giữ tầm ảnh hưởng và tiếp tục làm mới hứng thú với hội họa phương Tây.


Năm 1907, với sự ra đời của Bunten, dưới sự bảo hộ của Bộ trưởng bộ giáo dục, cả hai nhóm được công nhận và cộng sinh với nhau, cũng như tiến đến việc hợp nhất.


Các họa sĩ quan trọng thời Meiji:
  • Harada Naojiro (1863-1899)
  • Yamamoto Hosui (1850-1906)
  • Asai Chu (1856-1907)
  • Kano Hogai (1828-1888)
  • Hashimoto Gaho (1835-1908)
  • Kuroda Seiki (1866-1924)
  • Wada Eisaku (1874-1959)
  • Okada Saburosuke (1869-1939)
  • Sakamoto Hanjiro (1882-1962)
  • Aoki Shigeru (1882-1911)
  • Fujishima Takeji (1867-1943)
  • Hishida Shunso 1874-1911
  • Kawai Gyokudo 1873-1957
  • Maeda Seison 1885-1977
  • Shimomura Kanzan 1873-1930
  • Takeuchi Seiho 1864-1942
  • Tomioka Tessai 1837-1924
  • Uemura Shoen 1875-1949
  • Yokoyama Taikan 1868-1958


Thời Taishō



Thời Taishō, Yōga vượt trộit hoàng toàn so với Nihonga. Sau thời gian dài sống ở châu Âu, nhiều họa sĩ (kể cả Arishima Ikuma) trở về Nhật Bản trong thời Taishō, mang theo trường phái ấn tượng và, hậu ấn tượng về.


Các tác phẩm của Camille Pissarro, Paul Cezanne và Pierre Auguste Renoir gây ảnh hưởng lên tác phẩm thời gian dầu thời Taishō. Tuy nhiên, các họa sĩ yōga thời Taishō cũng hướng đến chiết trung, và có mâu thuẩn trong phong trào nghệ thuật.


Năm 1914, Nikakai (Second Division Society) chống lại lệnh cấm Bunten của chính phủ. Hội họa Nhật Bản thời Taishō chỉ chịu ảnh hưởng một nửa từ những phong trào phương Tây, như tân cổ điển hay hậu ấn tượng.


Tuy nhiên, ấn tượng là sự phục sinh của Nihonga vào cuối thời Taishō, tiếp thu phong cách hậu ấn tượng. Thế hệ thứ hai của các họa sĩ Nihonga cũng thành lập Nihon Bijutsuin để chông lại Bunte, do chính phủ bảo trợ, và dù phong cách cổ điển yamato-e vẫn còn ảnh hưởng mạnh, việc tăng cường các ảnh hưởng phương tây ở không gian và bố cục, ánh sáng đã xóa nhòa ranh giới giữa Nihonga và yōga.

Các họa sĩ tiêu biểu thời này:
  • Kishida Ryusei (1891-1929)
  • Yorozu Tetsugoro (1885-1927)
  • Yokoyama Taikan (1868-1958)
  • Shimomura Kanzan (1873-1930)
  • Hishida Shunso (1874-1911)
  • Maeda Seison (1885-1977)
  • Imamura Shiro (1880-1916)
  • Tomita Keisen (1879-1936)
  • Koide Narashige (1887-1931)
  • Hayami Gyoshu (1894-1935)
  • Kawabata Ryushi (1885-1966)
  • Tsuchida Hakusen (1887-1936)
  • Murakami Kagaku (1888-1939)
  • Itō Shinsui 伊東深水 1898-1972
  • Kaburaki Kiyokata 鏑木清方 1878-1972
  • Takehisa Yumeji 竹久夢二 1884-1934
  • Uemura Shoko 上村松篁 1902-2001


Thời Shōwa


Hội họa đầu thời Shōwa hoàn toàn được thống trị bởi Yasui Sotaro Umehara Ryuzaburo, nhưng người giới thiệu nghệt thuật tinh khiết và trừu tượng vào truyền thống Nihonga, và tạo ra một phiên bản ấn tượng cho dòng nghệ thuật này.


Hướng này tiếp tục được phát triển xa hơn bởi Leonard Foujita và Nika Society, đưa vào tính hiện thực. Để quảng bá, Dokuritsu Bijutsu Kyokai ra đời năm 1931.


Trong thế chiến thứ II, chính phủ nắm giữ và kiểm duyệt, điều này có nghĩa là chỉ những tác phẩm cổ động mới được thông qua. Nhiều họa sĩ được đưa vào chính phủ làm tuyên truyền, và việc chống lại những tác phẩm vô hồn của họ chỉ mới bắt đầu.


Thời hậu chiến, tổ chức được kiểm duyệt bởi chính phủ Japan Art Academy (Nihon Geijutsuin) thành lập năm 1947, chứa cả hai nhánh nihonga và yōga. Hệ thống kiểm định nghệ thuật kết thúc, nhưng được thay bởi công ty cá nhân, như kiểu Nitten, trên diện rộng hơn. Dù Nitten ban đầu bị cấm bởi Japan Art Academy, từ năm 1958 nó được điều khiển bởi một công ty tư nhân. Tham gia vào Nitten có nghĩa gần như là bắt buộc nếu muốn ứng cử vào Japan Art Academy.


Các họa sĩ quan trọng trong thời này bao gồm:
  • Yasui Sotaro (1881-1955)
  • Sanzo Wada (1883-1967)
  • Umehara Ryuzaburo (1888-1986)
  • Yasuda Yukihiko (1884-1978)
  • Kobayashi Kokei (1883-1957)
  • Leonard Foujita (1886-1968)
  • Yuzo Saeki (1898-1928)
  • Koiso Ryouhei (1903-1988)
  • Kaii Higashiyama (1908-1999)
  • Ogura Yuki (1895-2000)


Ngày nay


Sau thế chiến thứ II, hội họa, điêu khắc và in ấn phát triển rực rỡ tại các thành phố lớn, đặc biệt là Tokyo, và trở thành biểu tượng, cùng với cơ khí hóa trong đời sống hiện đại, thể hiện qua đèn chớp tắt, màu neon, và tóc độ phát triển của chúng.


Tất cả trường phái của thế giới nghệ thuật New York-Paris đều được tiếp nhận. Sau những năm 1960, 1970, có sự trở lại của trường phái hiện thực được ưa chuộng bởi phong trào "op" và "pop", cả trong những năm 1980, sự bùng nổ của các tác phẩm của Ushio Shinohara.


Nhiều họa sĩ tài năng làm việc cả ở Nhật Bản và ngọai quốc, thắng nhiều giải thưởng quốc tế. Các nghệ sĩ này cho rằng "chẳng có chút Nhật Bản nào" trong các tác phẩm của họ, và cho rằng họ thuộc về trường phái quốc tế.


Vào cuối những năm 1970, cuộc tìm kiếm tiêu chuẩn Nhật Bản và phong cách quốc gia khiên nhiều họa sĩ thể hiện ý tưởng mĩ học của mình, quà quay lưng với cái gọi là công thức rỗng tuyết của nghệt thuật phương Tây. Các tác phẩm đương thời bắt đầu dùng những dạng nghệ thuật Nhật Bản truyền thống, cô cụ và ý tưởng. Một số họa sĩ mono-ha thiên về truyền hống hóa các tác phẩm hội họa của họ.


Phong cách vẽ tranh Nhật Bản (nihonga) tiếp tục như là một phong cách hợp thời trang, làm mới nghệ thuật truyền thống trong lúc giữ lại bản chất của nó. Một vài họa sĩ trong trường phái này vẫn vẽ lên lụa hoặc giấy với màu truyền thông và mực, số khác thì dùng những nguyện liệu mới hơn.


Nhiều phong cách nghệ thuật cổ hơn, đáng chý là của thời Tokugawa, vẫn được thực hiện. Để thí dụ, trang trí thiên nhiên của dòng rimpa, đặc biệt trong cách bố cục màu xuất sắc, phản ánh qua cách tác phẩm của nhiều họa sĩ những năm 1980 như Hikosaka Naoyoshi.


Tính hiện thực trong trường phái Maruyama Ōkyo, nghệt thuật thư pháp và cách phong cách nghệ thuật nho giáo truyền thống vẫn được lưu truyền rộng rãi trong những năm 1980. Đôi lúc, nhưng trường phái này, cả những cái cũ hơn, như Kano, được vẽ bởi những nhà họa sĩ hiện đại trong phong cách Nhật Bản và hiện đại.


Nhiều nhà họa sĩ phong cách Nhật Bản được vinh danh bằng các giải thưởng là kết quả của ham muốn tìm tòi, làm mới nghệ thuật truyền thống Nhật Bản tỏng đầu những năm 1970. Ngày càng nhiều họa sĩ nhiện đại bị hấp dẫn, quay lưng với nghệ thuật phương Tây vào những năm 1980.


Xu hướng hiện nay là pha trộn Tây và Đông. Nhiều họa sĩ đã bắt đầu thu hẹp khoản cách, như Shinoda Toko. Các tác phẩm của cô vừa truyền thống, vừa hiện đại.


Nhiều họa sĩ ngày nay bị ảnh hưởng bởi anime và các mặt văn hóa trẻ phổ biến khác. Takashi Murakami có lẽ là một trong những người người nổi tiếng trong đó, cùng các họa sĩ trong xưởng Kaikai Kiki của ông. Các tác phẩm của ông tập trung diễn tả tình cả và các mối quan tâm của xã hội Nhật Bản thời hậu chiến thông qua những dạng tưởng như không liên quan. Ông nghiêng về phong cách anime, manga, nhưng các bức họa và điêu khắc của ông kết hợp truyền thống và hiện đại, xóa mờ khoảng cách giữa hai lĩnh vực trên.




__________________





thay đổi nội dung bởi: Ajisai~, 29-08-2014 lúc 21:14
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Bookmarks & Social Networks


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 13:33.

Bản quyền oOo VnSharing Group oOo © 2007 - 2012
Vui lòng ghi nguồn VnSharing.net khi bạn dùng các bài viết của site. LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: qc.vnsharing@gmail.com
Powered by: vBulletin Copyright © by 2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.


Sửa chữa laptop Đà Lạt | linh kiện laptop đà lạt | sửa chữa máy tính đà lạt | thiết kế website đà lạt | lắp đặt mạng camera đà lạt