![]() |
|
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
|
|
Chào mừng đã đến với forum oOo VnSharing oOo. Bạn chưa đăng kí (hoặc chưa đăng nhập) nên quyền lợi của bạn sẽ bị hạn chế. Việc đăng kí làm thành viên hoàn toàn miễn phí, sau khi đăng kí bạn có thể post bài, tham gia thảo luận, liên lạc với các thành viên khác qua hệ thống tin nhắn riêng, yêu cầu manga/anime... và rất nhiều quyền lợi khác. Thủ tục đăng kí rất nhanh chóng và đơn giản, hãy Đăng Kí Làm Thành Viên! Nếu bạn quên mật khẩu, xin nhấn vào đây. Nếu bạn gặp trục trặc trong vấn đề đăng kí hoặc không thể đăng nhập, hãy liên hệ với chúng tôi. |
|
||||||
Chính thức đưa host Mega vào sử dụng
Topic giải quyết việc phá forum của mod kẻ lang thang + Clouds-san
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#1
|
||||||||
|
||||||||
|
Tổng quan Lịch sử Văn học Nhật Bản
Tổng quan Lịch sử Văn học Nhật Bản Nguyễn Nam Trân ![]() Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NÓI ĐẦU Điều tôi tin chắc là nhân loại chỉ có một tương lai khi những sinh viên của chúng ta biết đọc và thích đọc các tác giả từ Jippensha Ikku đến Rabelais, từ Vương Xung đến Hobbes, các tác phẩm từ Risalat ul ghufran đến Ly Tao, từ Vita của Cellini đến Confessions của Thánh Augustin. Đó là lý tưởng mà nền văn học toàn cầu của thế kỷ vừa qua (Weltliteratur chủ trương bởi Goethe) phải vươn tới. Theo Etiemble trong Esais de littérature (vraiment) générale (1974). Ít nhất có ba lý do chính khiến xui người viết đặt bút soạn bộ Tổng Quan Lịch Sử Văn Học Nhật Bản nầy. Trước hết là cái duyên may đã đưa người viết cùng với tám bạn đồng khóa đặt chân lên đất Nhật du học giữa tháng ba năm 1965. Rồi từ đó, với duyên nợ của năm năm ngồi trên ghế nhà trường Nhật Bản (1965-1970) và hai mươi lăm năm (1981 đến nay, 2006) làm việc trong xí nghiệp và đại học Nhật Bản, người viết cảm thấy gần gũi với con người và đất nước đã cưu mang mình trên nửa cuộc đời và mong mỏi tìm hiểu về nó nhiều hơn. Tìm hiểu đất nước và con người một cách sâu lắng, có lẽ không gì hơn là nhìn qua lăng kính văn hóa và nhất là cái kính vạn hoa của văn học. Lý do thứ hai là Nhật Bản đã không ngớt làm ngạc nhiên thế giới vì sức sống mãnh liệt của dân tộc họ đã đưa họ từ thế đứng của một quốc gia nghèo nàn và bế tỏa trở thành một cường quốc sau cuộc duy tân thời Minh Trị (Meiji). Con phượng hoàng Nhật Bản đã tái sinh từ đống tro tàn của trận thế chiến thứ hai và đạt đến ngôi vị quốc gia phồn vinh thứ hai thế giới về mặt kinh tế đã làm cho ta không khỏi tự đặt câu hỏi đâu là cội nguồn gốc sức sống của nó. Sức sống ấy đã thể hiện thế nào văn học của 13 thế kỷ hữu sử của hơn 127 triệu con người Nhật Bản? Như cha anh ta của phong trào Đông Du và Duy Tân, ta ngẫm nghĩ có thể nào thông qua quan sát lịch sử văn hóa nói chung và văn học nói riêng, tìm được câu giải thích về phép lạ Nhật Bản. Lý do thứ ba là những người Việt Nam có cơ hội tiếp xúc với Nhật Bản, nhất là những người du học cùng thời với người viết trong ba thập niên 1950 đến 1970, tuy khá đông và tài cao học rộng nhưng vì không mấy quan tâm hoặc không có thời giờ, họ đã bỏ qua việc khai thác đề tài này. Người viết đành đứng ra đảm nhận việc đó, nghĩ rằng quyển sách này sẽ có ích cho lớp người trẻ thích học hỏi mà chưa có cơ hội nắm được ngoại ngữ, nhất là Nhật ngữ. Tuy không chuyên môn về văn học Nhật Bản và khả năng Nhật Ngữ rất giới hạn, người viết cũng xin hết sức cố gắng để trình bày vấn đề một cách suông sẻ và chính xác. Cõi học nghìn trùng, như thiền gia nói “Sau núi còn có núi”, nay bản thân lực bất tòng tâm, sơ hở khiếm khuyết đầy dẫy, mong các vị cao mình vui lòng chỉ bảo. Xin hết sức biết ơn. Trong thời gian bốn năm (2003-06) cặm cụi làm việc, người viết đã nhận được nhiều khích lệ và trợ giúp về mọi mặt. Xin chân thành cảm ơn tất cả, nhất là các bạn trong Nhóm Dịch Thuật Văn Học Nhật Bản đã cho trích đăng dịch phẩm của họ, các vị chủ trương trang nhà trên mạng, đặc biệt hai anh Lại Như Bằng và Trần Thanh Việt, đã cho phép tải loạt bài này, những thân hữu và độc giả đã góp ý kiến trong tinh thần xây dựng. Nhớ câu “không thầy đố mầy làm nên”, người viết xin tỏ lòng tri ân đến các nhà giáo dục đã dìu dắt mình trong lãnh vực ngữ văn, đặc biệt Giáo sư Đỗ Khánh Hoan, nguyên Giáo sư Anh văn Trung học Chu Văn An và Trưởng ban Khoa Anh-Mỹ Đại học Văn khoa Sài Gòn, lại là một người có công lớn trong việc phiên dịch văn học Nhật, cố Giáo sư René Sieffert, nguyên Viện trưởng Viện Sinh ngữ và Văn minh Đông phương, Paris, nữ Giáo sư Sakata Yukiko (Phản-Điền, Tuyết Tử) và Giáo sư Kunimatsu Akira, (Quốc-Tùng, Chiêu), cả hai đều nguyên là Giáo sư Nhật ngữ và Văn học Nhật Bản trường Đại Học Ngoại Ngữ Đông Kinh. Người viết cũng xin mượn trang giấy này để đặc biệt cảm ơn anh Nguyễn Đình Long, người đàn anh của những ngày cùng nhau du học ở Tôkyô trong thập niên 1960. Anh Long đã truyền đạt cho người viết tình yêu quê hương và cuộc sống, sự hiểu biết và niềm đam mê đối với văn học Nhật Bản, lãnh vực mà anh rất am tường. Quyển sách còn là nén hương tưởng nhớ đến những đàn anh và bằng hữu tài tuấn đã khuất bóng như các anh La Vĩnh Cát, Bùi Mộng Hùng, Tạ Trọng Hiệp, Trần Đình Tưởng, Vũ Thư Thanh và Hồ Hải Trân. Nó cũng là lời cảm ơn gửi đến ba thành viên trong gia đình nhỏ bé của người viết: Bạch Tuyết, Linh Lan và Quang Trân, vì hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống đã chịu thương chịu khó trong những tháng ngày xa cách nhau. Tôkyô, 29/01/2007. Nguyễn Nam Trân .................................. Phàm Lệ Trước hết, xin chú thích qui ước về cách đọc những âm Nhật la-mã hóa về tên người, tên đất và những từ kỹ thuật tiếng Nhật trong tập sách nầy. Ngoài một vài ngoại lệ, qui ước này hầu như dựa trên hệ thống Hepburn, mang tên nhà ngữ học James Curtis Hepburn, người đã đến Nhật năm 1856, có công soạn quyển Wa-ei Gorin Shuusei (Hòa Anh Ngữ Lâm Tập Thành hay Japanese-English Dictionary, 1867), tức là quyển từ điển Nhật-Anh đầu tiên. Ngoài ra, có những sửa đổi để cách đọc được giản tiện hơn. Sau đây là những điểm chính : -e đọc như ê -ei đọc nhẹ (không cần nhấn mạnh âm i cho lắm) -e như e khi có phụ âm n hay m theo sau -ê như ê dài (Việt Nam không có âm dài như Nhật) -u như ư ngắn -uu như âm ư dài -o như ô ngắn -ô như ô dài -ch như ch -sh như s -r như âm trung gian giữa r và l -g như g -s như x -w như w của Pháp và Anh -z đọc như z của Pháp và Anh -tsu rất khó đọc, ở Việt Nam thường tạm đọc như Chư Những âm trên thực tế đọc mím miệng khi có hai phụ âm đạt liền bên nhau (n+m hay n+p) sẽ không phiên âm thành mm hay mp nhưng vẫn giữ dạng nguyên thủy. Về tên người, họ đi trước tên theo sau như tiếng Việt. Đối với một tác giả cổ điển thì gọi tên, thường thường là bút danh (Bashô để gọi Matsuo Bashô, Saikaku để gọi Ihara Saikaku) nhưng đôi lúc gọi bằng họ nếu tên quá thông dụng mà ai cũng có thể có được (Chikamatsu để gọi Chikamatsu Monzaemon). Về các tác giả hiện đại có thể gọi bằng cả tên lẫn họ hay chỉ bằng họ nếu là nhân vật có tiếng (Kawabata Yasunari hay Kawabata đều dùng được). Riêng tên tác phẩm, để tránh nặng nề vì dài dòng, Genji Monogatari sẽ được giản lược thành Genji, Kokin Waka Shuu thành Kokin, sau khi đã ghi tên đầy đủ một hai lần trước đó. ![]()
|
|
#2
|
||||||||
|
||||||||
|
Chương 1 : Những Nhân Tố Hình Thành Văn Học Nhật Bản Dẫn Nhập và Tổng Luận Nguyễn Nam Trân ![]() DẪN NHẬP
Văn học Nhật Bản là một đối tượng nghiên cứu khá lý thú vì tính cách đặc thù và phong phú của nó. Văn học Nhật vốn có những đặc điểm làm người ta phân biệt được với những nền văn học lớn trên thế giới như của Âu Mỹ, của Trung Quốc. Xin mượn ý của Katô Shuuichi[1] để nói về 5 đặc điểm của văn học Nhật Bản: 1) Văn học Nhật Bản chỉ là một phần không tách rời được của toàn bộ văn hóa của nước họ. Văn học Nhật Bản tóm gọn được trong ba chữ: cụ thể, phi hệ thống và tình cảm. Nhật Bản có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc nhưng không bắt buộc có tinh thần trọng hệ thống của Trung Quốc vốn tượng trưng bằng triết học Tống Nho. Nó cũng khác Âu Châu vì ở Âu Châu, những yếu tố trừu tượng như tôn giáo, triết học, âm nhạc là nền tảng văn hóa tinh thần của họ. Ngược lại, thơ, truyện kể, thủ công và nghệ thuật trình diễn (misemono) tức là những biểu hiện cụ thể có mặt trong đời sống của người bình thường mới là cốt lõi của văn hóa Nhật Bản. 2) Mô hình phát triển đặc biệt của văn học trong lịch sử: Nhật Bản thâu nhận rất cả và không loại bỏ gì hết. Haiku[2] không hề xóa bỏ waka, kabuki không hề thay thế nô và kyôgen. Nói cách khác, ở Nhật, không có sự xung đột một mất một còn giữa cái cũ và cái mới. Nếu kyôka (cuồng ca, một loại thơ ngắn hài hước và bình dân ) có mất đi cũng chỉ vì không hợp với thời đại mới và bị đào thải một cách tự nhiên thôi (nhưng đây vẫn là ngoại lệ). Những khái niệm thẫm mỹ của người Nhật thuở trước như aware thời Heian, yuugen thời Kamakura, wabi và sabi thời Muromachi và iki thời Tokugawa ngày nay hãy còn đó cả. Sau thời Meiji (1868-1912), người viết waka vẫn đi tìm aware, kẻ đóng tuồng Nô vẫn dựa vào yuugen, trà đạo hãy còn lấy wabi và sabi làm căn bản và các nàng geisha vẫn nhắc đến iki như đỉnh cao của phẩm chất nghệ thuật của mình. Một người Nhật, Miyamoto Tsua[3], đã viết những dòng sau đây: “Ở Âu Châu, năm 1649, cách mạng Thanh Giáo đã lấy đầu vua Charles I. Cách mạng Pháp cũng sử dụng máy chém đối với hoàng đế Louis XVI. Trong hai thế kỷ 17 và 18, bao nhiêu vua chúa bị bêu đầu. Nhật Bản thì không. Thái thượng hoàng Go-Toba (sau khi đảo chánh thất bại) chỉ bị đày ra đảo Oki, ở đó 19 năm rồi chết trong cô độc năm 60 tuổi”. Miyamoto không nói đến thiên hoàng Shôwa, người vẫn tiếp tục làm tượng trưng cho nước Nhật đến lúc ông qua đời năm 1989 nghĩa là 44 năm sau ngày Nhật bại trận. 3) Tính đặc thù của ngôn ngữ và văn tự Nhật Bản: Tiếng Nhật có thể viết bằng 4 thứ văn tự khác nhau: Kanji (Hán tự), Hiragana (dấu hiệu đọc theo âm để ghi những từ quốc âm), Katakana (dấu hiệu đọc theo âm nay dùng để phiên âm tiếng ngoại quốc) và Roma-ji (ký hiệu chữ cái La Mã). Đó là chưa kể chữ Kanji còn được đọc theo âm miền nam Trung Quốc (Ngô âm) của thế kỷ thứ 5, thứ 6 như trong Kojiki (Cổ sự ký )hay Man.yôshuu (Vạn diệp tập), hoặc đọc theo âm miền bắc Trung Quốc (Đường âm) của thế kỷ thứ 7 như một số chữ trong Nihon shoki (Nhật Bản thư kỷ). Cái khó nắm của văn tự nước họ làm cho một người Nhật trung bình không thể đọc trực tiếp tác phẩm cổ điển nếu không chuẩn bị trước. Genji Monogatari (Nguyên thị vật ngữ)[4] chẳng hạn đều được “dịch” ra kim văn mới có thể đến với độc giả. Trong văn học Nhật, có hai luồng rõ rệt đi song song suốt thời gian từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 19. Thơ waka của họ làm theo quốc âm có từ thời xa xưa nhưng cho đến gần đây thơ chữ Hán vẫn được trọng vọng và người ta không hiểu loại thơ nào mới phản ánh được cảm xúc của người Nhật. Thời Muromachi chẳng hạn, bên cạnh thơ renga rất Nhật có thơ chữ Hán của các thiền tăng phái Gozan (Ngũ Sơn). Giữa hai tập thơ Tsukuba-shuu (Thố Cữu Ba tập) và Kyôun-shuu (Cuồng vân tập) cũng như giữa hai tập truyện Konjaku monogatari (Kim tích vật ngữ) và Meigetsu-ki (Minh nguyệt ký), rõ ràng có một hố ngôn ngữ ngăn cách. Khi ở Âu Châu, văn học chữ La Tinh đã bị cuốn hút vào dòng văn học các nước thời Phục Hưng (thế kỷ 14 đến 17) thì văn chương chữ Hán tức kanbun vẫn kéo đến thời Meiji (cuối thế kỷ 19 đầu 20). Đó là chưa nói đến việc người Nhật đã sử dụng tài tình Hán văn để dịch những phạm trù tư tưởng Tây Phương và cống hiến rất nhiều cho sự nghiệp duy tân. Câu văn Nhật thường thường là những mẩu ngắn được ghép lại chứ không có một cấu trúc chung. Cũng vậy, thần thoại của họ chẳng có đầu đuôi và chỉ là những mẩu vụn được ráp lại. Truyện Utsuho hay ngay cả Truyện Genji của thời Heian là tập hợp của nhiều truyện ngắn, bản thân mỗi truyện con trong đó đã có ý nghĩa cho dù đứng riêng biệt. Đem so sánh một truyện Nhật trong Nihon Ryôiki (Nhật Bản linh dị ký) và truyện gốc của nó trong Pháp uyển châu lâm của Trung Quốc thì bản tiếng Nhật chi tiết, cụ thể và linh động hơn chứ không quan tâm cho lắm đến cấu trúc hay sự gọn ghẽ của câu chuyện như trong sách gốc. Tản văn Nhật không có tính qui củ của văn chương Đường, Tống, do đó, lại càng không thể nào có cái trật tự, mạch lạc thấy trong cổ điển Pháp của thế kỷ 17 và 18. Đi xem tuồng kabuki, ta có thể coi liên tiếp năm sáu vở ngắn khác nhau. Phim ảnh Nhật Bản thường ghép nhiều đề tài làm một và giống phim truyền hình thuật sự theo lối chương hồi (episode) hơn là theo cấu trúc một cuốn phim màn ảnh lớn. 4) Bối cảnh xã hội của văn học:Văn học Nhật Bản có tính chất qui tụ về trung tâm (centripetal) nghĩa là hoạt động văn học thường tập trung ở đô thị. Trong khi không phủ nhận sự có mặt của dân ca, dân thoại (truyện cổ dân gian), người ta thấy những tác phẩm cổ đều được biên soạn hoặc do mệnh lệnh của chính quyền trung ương hoặc do những thi nhân, học giả cung đình. Các tác phẩm lịch sử, địa lý như Kojiki (Cổ sự ký), Fudoki (Phong thổ ký), hay văn học như 13 thi tập waka (Thập tam đại tập) được soạn ra theo yêu cầu của nhà nước (dưới hình thức “sắc soạn”, “quan soạn”). Không những thế, những truyện kể có tính răn đời (setsuwa = thuyết thoại) của các địa phương trong Nihon Ryôi-ki (Nhật Bản linh dị ký), Kokon Chômonjuu (Cổ kim trứ văn tập) hay Shasekishuu (Sa thạch tập) đều được biên tập theo yêu cầu tôn giáo. Đề tài của các nhà soạn kịch và tiểu thuyết đời sau cũng chỉ xoay quanh cuộc sống ở các thành phố lớn và phục vụ người kẻ chợ (chônin). Ngày xưa, nếu văn học Nhật Bản tập trung ở vùng đô thị như Nara-Kyôto (văn học Nara, Hei-an), nó đã dời sang Kyôto-Ôsaka vào thế kỷ 17(văn học Kamigata), tiếp đến là Kyôto-Tôkyô (văn học Edo) rồi cuối cùng vẫn tiếp tục ra hoa kết quả ở vùng đô thị như Tôkyô (văn học từ thời Duy Tân đến hiện thời). Điều này khác hẳn với trường hợp Trung Quốc và Nhật Bản. Thi nhân Trung Quốc du lịch nhiều nơi để tìm nguồn cảm hứng chứ không thu mình ở Trường An trong khi phần lớn thi nhân Nhật Bản thời Heian viết về những địa phương mà họ chưa bao giờ đặt chân đến mà chỉ dựa vào khuôn sáo để diễn tả. Tính ly tâm (centrifugal) được thấy rõ rệt nơi các nhà văn nhà thơ Âu Châu, có thể ngoại trừ trường hợp của Paris là nơi qui tụ nhiều trường phái nghệ thuật. Katô Shuuichi đã nhận xét rằng từ Kakinomoto no Hitomaro (cuối thế kỷ thứ 7) cho đến Saitô Mokichi (1882-1953), không thấy có nhà thơ lớn nào của Nhật Bản làm thơ với thổ ngữ địa phương. Tính cách đồng qui của văn học Nhật Bản còn được thể hiện qua sự tập trung của các tác giả và độc giả thành từng nhóm. Nó làm cho văn học Nhật Bản có tính cách khép kín. Chỉ có người quí tộc mới cảm được tâm sự các nhân vật của Truyện Genji, thơ haiku thì mang tính cách thời tiết với chủ đề xoay quanh bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, còn các nhà văn hiện đại tụ tập thành một nhóm với danh hiệu văn đàn (bundan) và không viết gì ngoài cái tôi và cuộc sống hàng ngày của họ như đã thấy qua loại tư-tiểu thuyết (watakushi-shôsetsu) tức tiểu thuyết nói về tâm trạng cá nhân. 5) Nói chung, văn học Nhật thể hiện quan điểm về cuộc sống và cái chết có tính chất tôn giáo và triết học đặc biệt Nhật Bản. Cho dù Phật Giáo, Khổng Giáo, Thiên Chúa Giáo, chủ nghĩa Marx đã được du nhập vào Nhật Bản và đều đóng những vài trò quan trọng trong việc xây dựng nền văn học của họ, tư tưởng nòng cốt của vũ trụ quan Nhật Bản đã hình thành từ thế kỷ thứ 4 và thứ 5 với một cấu trúc đa thần (polytheistic) phức tạp mà ngày nay, sau khi chịu ảnh hưởng Phật và Khổng Giáo đã trở thành Thần Đạo (Shintô). Nó là tổng hợp của phong tục thờ cúng tổ tiên, tôn giáo nguyên thủy dựa trên thần chú, đồng cốt (shamanism) và quan điểm vạn vật hữu linh (animism) nghĩa là xem thần thánh có mặt khắp nơi trong từng mỗi sự vật. Do đó, ở Nhật, ta thấy vũ trụ quan trong văn học đa tạp và thể hiện dưới 3 hình thức: trước hết là hệ thống tư tưởng ngoại lai, thứ hai là tư tưởng bản địa và thứ ba hệ tư tưởng chiết trung khi mà tư tưởng ngoại lai đã được uốn nắn theo mô hình Nhật Bản.Ví dụ vào thời Minh Trị, có Uchimura Kanzô là người hoàn toàn theo mới, Masamune Hakuchô đi ngược lại trong khi Mori Ôgai và Natsume Sôseki đứng giữa ngã ba đường. Sau 1945, nếu Miyamoto Yuriko (cộng sản) và Kawabata Yasunari (bảo thủ) tượng trưng cho hai khuynh hướng đối nghịch thì những Kobayashi Hideo và Ishikawa Jun có quan điểm ôn hòa hơn. Một nền văn học đặc biệt như vậy cho đến gần đây vẫn không được thế giới quan tâm nếu không có vai trò trọng yếu của quốc gia Nhật Bản trong đời sống kinh tế và chính trị thế giới từ hơn một thế kỷ nay. Người Tây Phương biết đến văn học Nhật Bản từ bao giờ? Hẳn phải là sau khi A. Pfizmaier dịch một bài viết của Ryuutei Tanehiko (Liễu Đình, Chủng Ngạn, 1783-1842) ra tiếng Đức ở Wien năm 1847, hay người Pháp L. de Rosny cho ra đời tập thi tuyển cổ kim Nhật Bản năm 1871 trong đó có Hyakunin Isshu[5] tức giai phẩm “Trăm nhà thơ trăm bài thơ”, người Anh W.G. Aston[6] dịch quyển văn học sử Nhật Bản đầu tiên năm 1899 và Fenollosa[7] dịch tuồng Nô trước Thế Chiến Thứ Nhất. Trong những năm 1920, tuy đã có bản dịch Truyện Genji với phong cách tài hoa của Arthur Waley[8] nhưng phải đợi đến những nhà dịch thuật và khảo cứu Anh-Mỹ như Donald Keene, Ivan Morris, Edward Seidensticker, Pháp như René Sieffert, Edwige de Chavanes, Bernard Frank hay Nhật như Mori Arimasa, Kojima Takashi, Fujimori Bunkichi…người ngoại quốc mới tìm đọc văn học Nhật. Chúng ta cũng không quên những đóng góp của các nhà truyền giáo, ngoại giao và học giả Nhật Bản Họ đã không ngừng phát hành những tác phẩm dịch thuật và nghiên cứu về văn học Nhật Bản từ nhiều năm. Văn học Nhật Bản rất phong phú và không đáng bị xếp bên cạnh những nền văn học của một ngôn ngữ thứ yếu ví dụ tiếng Bantu (bộ lạc Nam Phi Châu) như cách người ta xếp loại nó trong một viện nghiên cứu Đông Phương ở Anh vào những năm 1920 (theo lời R.P. Dore năm 1979 trong lời tựa cho quyển sách của Katô Shuuichi). Giáo sư René Sieffert[9] của Viện Sinh Ngữ Và Văn Minh Đông Phương (Inalco) ở Paris đã nhắc đến con số hơn 10.000 tác phẩm của giai đoạn lịch sử từ thượng cổ đến 1868 được ghi lại trong thư chí Nhật Bản. Một nhà xuất bản ở Tokyo đã ấn hành một tuyển tập liên quan đến các tác phẩm kể từ năm 1868 đánh dấu cuộc Minh Trị Duy Tân đến 1973 tức lúc quyển La Littérature Japonaise (Lịch sử văn học Nhật Bản) của Sieffert ra đời. Tuyển tập ấy gồm 99 bộ, mỗi bộ 5 quyển khổ thông thường chưa kể 35 bộ tuyển thêm in sau đó liên quan đến khoảng thời gian từ 1945 về sau. Không thể nào nói là không tìm ra được một tác phẩm có tầm cỡ từ một khối lượng đồ sộ như thế. Cái khó ở đây là cần có một đội ngũ dịch thuật già tay để làm cái công việc chuyển ngữ vốn chẳng dễ dàng nầy. Ở Việt Nam chúng ta, trước đây đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu và dịch thuật về văn học Nhật được dịch ra Việt Ngữ gián tiếp từ một ngôn ngữ khác (Anh, Pháp, Đức, Nga) hay trực tiếp từ Nhật ngữ gần đây, nhất là từ sau ngày Nhật Việt nối lại bang giao. Một số người dịch trẻ có du học Nhật Bản đang bắt đầu công việc chuyển ngữ, tuy chưa qui mô nhưng đã chứng tỏ có tài năng và đầy nhiệt tình. Âu cũng là điều đáng mừng cho văn hóa nước nhà và tình hữu nghị Việt Nhật. Do đó, qua loạt bài nầy mà tư liệu tham khảo chính, Shin Nihon Bungakushi (Tân Nhật Bản văn học sử), Bun-eidô phát hành, ấn bản năm 2000) do hai giáo sư danh dự Đại Học Tôkyô Akiyama Ken và Mikoshi Yukio chủ biên, là một tập sách giáo khoa viết cho học trò trung học ở Nhật, người muốn giúp đỡ những ai tò mò muốn biết về văn học Nhật Bản một chút kiến thức cơ sở để có thể đi xa hơn. Đến đây, chúng ta hãy thử bắt đầu tìm hiểu những nhân tố nào đã hình thành văn học Nhật Bản. TIẾT I
TIẾT I : ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI A) Đất Nước: Nhật Bản là một đảo quốc gồm 4 hòn đảo chính, ở vùng Đông Bắc Á, trải dài theo hình cánh cung. Do điều kiện đặc biệt của địa chất vùng này, Nhật Bản có hình thù một cái bao lơn nhìn ra vùng Bắc Thái Bình Dương với một giải đất hẹp, nhiều núi non xen kẻ một ít đồng bằng và thung lũng (16 % diện tích).Nhật Bản chỉ có độ 378.000 cây số vuông nghĩa là bằng nước Áo ở Âu Châu hay tiểu bang Montana của Hoa Kỳ và lớn hơn Việt Nam một tí. Nhật Bản nằm ở vĩ độ 38 đến 45 của Bắc Bán Cầu, khí hậu ôn đới với bốn mùa rõ rệt. Vì nằm giữa hai đường nứt của vỏ địa cầu nên có nhiều núi lửa, suối nước nóng và chịu nhiều trận động đất. Vũ lượng tương đối cao: 1.800 mm một năm, có ảnh hưởng của gió mùa và là nơi gặp gỡ của những luồng nước ấm và nước lạnh. B) Con Người : Dân Nhật là một dân tộc hải dương, đời sống gắn liền với biển, nguồn lương thực của họ. Về mặt nhân chủng, người Nhật có thể chất của sắc dân châu Á (da vàng, tóc đen và cứng, mắt một mí, gò má cao, mũi thấp) nhưng mỗi địa phương lại có nét đặc biệt, ví dụ phụ nữ Kagoshima (miền nam) da ngăm ngăm, phụ nữ Hokuriku (miền Bắc) trắng trứng gà bóc, đàn ông Kyuushuu (miền Nam) nét mềm mại, lông thưa, đàn ông miền Tôhoku (Bắc) nét sâu, râu rậm. Trước kia họ bị coi là thấp (trung bình đàn ông cao 162 cm, đàn bà 149,9cm) nhưng từ sau thời chiến, cứ mỗi 10 năm, họ đã cao thêm khoảng1cm. Quốc dân tính Nhật Bản đã được nhà dân tộc học Mỹ, Ruth Benedict miêu tả như sau trong tác phẩm The chrysanthemum and the sword (Hoa cúc và lưỡi kiếm): “Thích cãi cọ nhưng ôn tồn, háo chiến nhưng lại chuộng mỹ thuật, ngạo mạn nhưng lễ độ, ngoan cố nhưng biết nghe lời, trung thành và cũng bất trung, dũng cảm đồng thời hèn nhát, bảo thủ mà lại chuộng điều mới mẻ trong cuộc sống. Những mâu thuẫn đó là đặc tính của dân tộc Nhật.” Họ có cái thú phong lưu biết thưởng thức vẽ đẹp tao nhã của nhánh cúc nhưng kè kè suốt đời bên mình vũ khí là thanh kiếm. Họ từ đâu đến? Thuyết " tiên trú " (senjuu) bảo rằng họ đã có mặt sẵn trên quần đảo từ thời xa xưa, thuyết " độ lai " (torai) cho là họ đến từ một nơi nào đó ngoài biển. Ngày nay, phần lớn các nhà nghiên cứu đều đồng ý là người Nhật đã đến quần đảo nầy bằng nhiều đợt và nhiều đường khác nhau. Tổ tiên người Nhật Bản có lẽ đã từ đại lục qua bằng đường Đông Bắc Á (Tây Bá Lợi Á, Triều Tiên, Mãn Châu) nhưng cũng theo dòng nước ấm Kuroshio (Hắc Triều) để đến từ miền Nam (Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai, In-đô-nê-xia, bán đảo Đông Dương và vùng Hoa Nam). Sau đó, một số người thuộc 17 huyện nhà Hán, dân chúng các nước nhỏ thuộc Triều Tiên bây giờ như Cao Cú Lệ, Bách Tế, Tân La, Nhiệm Na đã đến và xin thần phục, đem sự hiểu biết cùng tài năng của họ cống hiến cho xã hội Nhật Bản cổ đại. TIẾT II
TIẾT II : NGÔN NGỮ, CHỮ VIẾT A) Ngôn Ngữ : Tiếng Nhật[10]được nhiều người xếp vào ngữ hệ phương bắc tức ngữ hệ Oural Altai (gần gũi với tiếng Triều Tiên, Mông Cổ và Thổ Nhĩ Kỳ), nhưng gần nhất là tiếng Triều Tiên. Đó là " thuyết phương bắc ". Ngôn ngữ Altai không có phạm trù về giống và số, không có quán từ, ngoài ra túc từ (bổ ngữ) lại đặt trước động từ vv...Tiếng Nhật có thể đã tách ra từ tiếng Triều Tiên từ 7.000 năm trước hay chỉ có cùng một tiếng tổ với tiếng ấy. Lại có thuyết gọ là " thuyết phương nam " xem Nhật ngữ có nguồn gốc phương Nam qua những điểm tương đồng của nó với ngôn ngữ quần đảo Lưu Cầu. Người ta còn tìm thấy nơi nó dấu vết của ngôn ngữ các vùng đảo Mã Lai Pô-ly-nê-di vì những âm mở (a, i, u, e, o và không khép bằng phụ âm trừ n) hay sự không phân biệt âm r và l của nó.Có học giả như Ôno Susumu (Đại Dã, Tấn) lại tìm thấy tương quan của Nhật Ngữ với tiếng Tamil miền Nam Ấn Độ. Ngày nay, thuyết xem Nhật ngữ là một tiếng nói lai giống (hybrid) xem ra có tính thuyết phục hơn cả.Tuy nhiên, dù là thuộc ngữ tộc hay ngữ hệ nào, ban đầu Nhật ngữ rất đơn sơ, nghèo nàn về cả âm lẫn ý và chỉ được hoàn chỉnh và phong phú ra với sự trợ giúp của Hán ngữ. B) Chữ Viết : Việc nghiên cứu ngôn ngữ Nhật Bản gặp nhiều khó khăn vì nó được ghi chép bằng văn tự rất trễ. Những văn bản đầu tiên chỉ có từ thế kỷ thứ 8 cho ta thấy nó dưới một dạng đã khá hoàn chỉnh hầu như ngôn ngữ hiện đại. Sao chép ký hiệu Nhật ngữ bằng tiếng La Tinh không có gì khó khăn đặc biệt (như học giả Mỹ Hepburn đã làm).Tiếng Nhật là một tiếng đa âm, những tính từ và động từ được chuyển hóa bằng ngữ vĩ, không phải để phân biệt giống và số, ngôi thứ của đại từ nhưng để biểu hiện thể khẳng định hay phủ định, khả năng, tiềm năng, độ dài của thời gian…Trong tiếng Nhật có tiếng tôn xưng, tiếng khiêm tốn, ngôn ngữ của đàn ông, đàn bà chứng tỏ xã hội Nhật tổ chức chặt chẽ theo thứ bậc. Tuy nhiên, ngôn ngữ đa âm Nhật Bản khi phải ghi lại bằng văn tự Trung Hoa vốn xuất phát từ ngôn ngữ đơn âm, là cả một vấn đề. Người Nhật đã có nhiều cố gắng để khắc phục nó để có được một hệ thống chữ viết với 50 âm tố tuy chưa hoàn chỉnh nhưng tạm đủ dùng. Số chữ Hán hiện nay được dùng và Bộ Giáo Dục chấp nhận lên đến 2235[11] chữ (đã tăng gia khoảng 400 chữ trong vòng 30 năm nay) không kể một số quốc tự, tức là chữ Hán do người Nhật đặt ra. Trong khi sử dụng Hán tự, họ vấp phải vấn đề đồng âm dị nghĩa và phải dựa vào văn mạch để biện biệt. Cho đến năm 1868, tiếng Nhật mà các nhà văn dùng vẫn là bungo (văn ngữ). Dưới thời Duy Tân, khi văn học nhắm mục đích giáo dục quần chúng những cái hay, cái mới thì bungo lại không đóng được vai trò ấy. Văn nói (kôgo = khẩu ngữ), thoáng hiện trong các tiểu thuyết và bản tuồng sân khấu từ thế kỷ 16 (văn nói vùng Kyôto - Ôsaka) xem ra thích hợp hơn. Thế nhưng, thổ ngữ miền Đông của vùng Tôkyô được đánh giá là tân tiến đã dần dần thay thế văn nói của vùng cố đô. Nói đến hiện đại hóa, ta không thể nào quên vai trò của gairaigo (ngoại lai ngữ = tiếng có gốc nước ngoài nhưng không phải chữ Hán) trong lối diễn tả của người Nhật. Đó là những chữ dùng mà họ đã du nhập từ tiếng Bồ, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức[12] ngày trước và tiếng Mỹ bây giờ. Sự du nhập ấy nhiều khi rất táo bạo và sống sượng nhưng đã được thực hiện trong một tinh thần duy thực lợi và không mặc cảm. Các ca từ của nhạc trẻ ngày nay đầy tiếng Anh và những chữ đó được dùng chỉ để tạo không khí (ambiance), giống như chữ Hán dùng như mặt nạ[13] trong tiếng Nhật thuở xưa. Một nhà văn hiện đại Nhật, Murakami Haruki, đã dịch tựa cuốn truyện Catcher in the Rye của Jerome David Sallinger (sinh năm1919) ra tiếng Nhật với tựa đề là Kaccha in za rai! nghĩa là hầu như chỉ phiên âm chứ giữ nguyên không dịch. Tuy nhiên, sự cắt rời khỏi ngôn ngữ và văn tự cổ truyền có nguy hiểm là sẽ đưa tới sự đoạn tuyệt với di sản văn học cổ điển. Ngày nay, tác phẩm cổ điển như Truyện Genji hay Truyện Heike đều phải được dịch ra ngôn ngữ hiện đại để đến với người đọc. TIẾT III
TIẾT III: TÊN NGƯỜI, TÊN ĐẤT Tên người và tên đất không phải những nhân tố hình thành văn học Nhật Bản. Nhắc đến chúng ở đây, người viết chỉ muốn đưa ra một vài nguyên tắc cơ sở để độc giả đỡ phải ngượng ngùng với những tên người, tên đất vốn đầy dẫy trong những trang sắp tới. A) Tên Người : Theo nhà nghiên cứu Toyoda Takeshi[14] trước đây chỉ có tầng lớp cai trị mới có tên chứ người nông nô Nhật Bản phải gọi theo tên chủ nhân của họ. Tên họ các hào tộc như Fujiwara, Soga, Ôtomo, Kume, Saeki …đã được nhắc đến rất sớm từ thế kỷ thứ 5, thứ 6. Tên tuổi được thành lập theo một số qui tắc như quan chức, địa danh nơi cư trú, theo thiên văn, địa hình, phương hướng, tên động thực vật chẳng hạn. Các nhà công khanh hay vũ sĩ thường lấy tên theo đất thế tập hay nơi sinh sống. Họ Sanjô, Kujô lấy tên theo hai khu vực trong thành phố Kyoto, còn Yamashina, Daigo lấy tên theo hai vùng ngoại thành. Việc đặt họ theo quan chức có từ lúc chế độ luật lệnh được lập ra để tổ chức hệ thống hành chánh. Họ Kokubu xuất thân hành chánh địa phương, Kokuga vốn làm quan thu thuế, họ Ôkura và Miyake có liên quan đến việc trông coi kho lẫm. Tên họ còn có liên quan đến thiên văn đến từ tập tục và tín ngưỡng thời cổ. Đặt họ theo mặt trời thì có Hidaka, theo sao thì có Hoshino, theo trăng thì có Mochizuki. Các loại địa hình ruộng (như Tanaka), vườn tược (như Sonoda), nước (như Mizuno), sông (như Ogawa) núi (như Yamanaka) , gò (như Nagaoka), ao chuôm (như Numata), rừng (như Hayashi, Mori), biển (như Ômi), bến (như Hama, Miura), ghềnh (như Kishi), mũi đất (như Ozaki), cửa sông (như Irie) đều có thể dùng để đặt tên họ, nhất là ruộng (ta) vì xã hội Nhật Bản xưa vốn theo nông nghiệp. Những địa điểm hoặc loài vật liên quan đến sinh hoạt đã đi vào tên họ có giếng (như Inoue, Imai), ao ( như Ikeda), nguồn nước (như Izumi). Liên quan đến cây cỏ chim muông có anh đào (như Sakurai), tùng (như Komatsu) , trúc (như Takeyama), mơ (như Umeda), tử đằng (như Fujino). Phương hướng đông (như Azuma), tây (Nishida), nam (như Minamida), bắc (như Kitano) cũng là cơ sở đặt tên của họ. Nghề nghiệp cũng vậy: dân gốc chài lưới có họ Kaifu, cúng tế có Takahashi, may cắt có Hattori, đưa thuyền đò có Watanabe, chế tên có Yabe, nuôi chó có Inukai. Họ (uji) hay đoàn thể có liên hệ huyết thống cần phân biệt với tên cá nhân (na). Tên cá nhân đàn bà thường có chữ o đằng trước hay chữ ko (tử = con) ở cuối cùng (tuy khuynh hướng này đã giảm đi gần đây). Tên đàn ông thường đặt theo thứ bực anh cả, anh hai, ba, bốn, năm, sáu… (ta, ji, sabu hay zô, shi, go, roku, shichi, hachi vv để ai chỉ sinh trước sinh sau) hay thêm các ngữ vĩ rô , o, suke, hei, go, hiko, ta, ya… gắn sau một tính từ chỉ một đức tính của con mà cha mẹ mong mõi. Cần nhắc lại vì số âm giới hạn nên tên người Nhật thường viết bằng nhiều chữ Hán khác nhau. B) Tên đất : Tác giả Kagami Kanji[15] chia cách đặt tên đất của người Nhật ra làm ba loại: đặt theo ngữ nguyên địa phương, theo dân tộc và theo thời đại. Loại đầu tiên thường được cấu tạo bằng cách gọi của người địa phương về hình thế của vùng đó, đôi lúc kèm thêm tên tuổi nhân vật hoặc sự kiện đặc thù nào liên quan đến địa danh đó. Trước hết phải thu thập các cách phát âm tên những vùng đất của địa phương vốn có một hình thế giống nhau để suy diễn ra ngữ nguyên của tên với sự trợ giúp của các từ điển cổ ngữ và tài liệu dân tộc học. Trong trường hợp Nhật Bản thì có nhiều xác xuất tên đất được đặt theo tiếng Ainu (thổ dân đã có mặt trên quần đảo trước người Nhật) nên việc sử dụng kiến thức về ngôn ngữ Ainu để tìm hiểu rất cần thiết. Những vùng có tên là Tarô (tuy viết âm Hán là Thái Lang hay Điền Lão), suy ra không có liên quan gì đến người già người trẻ (Lang hay Lão) gì cả nhưng có thể có nghĩa là đất bằng (taira) do biến thể của từ tairo thấy trong ngôn ngữ địa phương vùng đảo Hachijojima. Cũng vậy, bộ phận ya (cốc = hang) trong các địa danh Yachi, Yatsu, Yato lại được dùng để chỉ một vùng đất trũng (thung lũng) ẩm ướt. Trên đất Nhật có nhiều giống người lần lượt đến định cư nên địa danh còn có màu sắc chủng tộc. Dĩ nhiên ngôn ngữ Ainu chiếm đa số nhưng tiếng Triều Tiên và ngôn ngữ các đảo phía Nam cũng có ảnh hưởng không nhỏ. Những tên đất có một bộ phận là nai (như Wakanai) có nghĩa là sông có bộ phận là horo (như Sapporo) lại có nghĩa là lớn (cả hai trường hợp đều theo tiếng Ainu) dù là viết bằng chữ Hán nào. Những thành phố tên là Kure có lẽ đến từ chữ Kuri (Cao Ly) được đọc trại ra. Chữ tsuru trong tiếng Ainu có nghĩa là đục và bẩn, viết ra Hán văn lại dùng chữ Hạc như tên loại chim nước sống ở Triều Tiên, Mãn Châu. Trong tiếng Triều Tiên, tsuru còn có nghĩa là đồng bằng và người ta thấy địa danh vùng Kyuushu hay có chữ tsuru nầy. Các thôn làng, đảo, cồn trên sông Nhật Bản đọc là tara cũng có thể cùng một gốc gác với các địa danh cùng một địa hình thấy ở vùng Borneo, Taiwan hay New Zealand. Cách đặt tên đất theo thời đại hay nhân danh cũng là một hiện tượng phổ thông. Ví dụ người ta phân biệt tashiro và shinden, ruộng đã khai khẩn từ xưa và ruộng mới vỡ gần đây. Shôwa Shinzan (Chiêu Hòa Tân Sơn) chẳng hạn là một hòn núi nhỏ cao 402m mới có từ sau biến động địa chất ở Hokkaidô (trong khoảng từ 12/1943 đến 9/1945) đặt theo tên thiên hoàng Shôwa. TIẾT IV
TIẾT IV: KHU PHÂN THỜI ĐẠI VĂN HỌC A) Phân chia theo triều đại: Việc phân chia thời đại văn học là một vấn đề. Cho đến nay người ta thường phân chia thời đại văn học theo thời kỳ lịch sử như gọi văn học triều Yamato, văn học triều Nara, văn học triều Heian...Lại có cách phân chia theo thượng cổ, trung cổ, cận đại, hiện đại. Tuy văn học tuy có chịu ảnh hưởng của những sự kiện lịch sử thực đấy nhưng nó là một dòng chảy liên tục, không thể hoàn toàn phụ thuộc vào sự thay đổi vương triều hay chính quyền mà còn tùy thuộc vô số ảnh hưởng khác. Ngoài ra, khi gọi là văn học thượng cổ hay trung cổ thì bắt buộc phải định nghĩa thế nào là thượng cổ và trung cổ v.v…, các thời đại ấy bắt đầu khi nào và chấm dứt vào bao giờ và trả lời câu hỏi xem danh từ thượng cổ và trung cổ có phổ quát và thống nhất cho mọi quốc gia trên thế giới không? B) Phân chia theo văn thể: Saigô Nobutsuna (Tây Hương, Tín Cương) trong Nhật Bản cổ đại văn học sử (1963) đề nghị một lối phân chia khác. Ông chia theo thể tài văn học: thời đại thần thoại và thi ca thuật sự, thời đại thơ trữ tình, thời đại truyện kể… Đó cũng là lối tiếp cận của Hayashi Tatsuya (Lâm, Đạt Dã) và Noyama Kashô (Dã Sơn, Hạ Chính) trong Quốc văn học nhập môn (2004) khi hai ông phân chia theo hình thái văn học: kayô (ca dao cổ đại), các loại thơ như waka, renga và haikai, văn học Hán văn vương triều, văn học cửa thiền, văn học Nho gia, văn học truyện kể, nhật ký và tùy bút, văn học truyện răn đời (setsuwa), truyện giải trí (zôshi), văn chương du hành (kikô bungaku) và tiểu thuyết vv…Hai tác giả nầy dù sao cũng nhìn nhận một thời đại có thể có một màu sắc, đặc tính chung có thể tìm thấy bàng bạc trong bất luận hình thức văn học nào. C) Phân chia theo tiêu chuẩn tổng hợp: René Sieffert trong La Littérature Japonaise bắt đầu bằng phân biệt theo nét đặc trưng của thời đại: thời đại sưu tập thi ca (thế kỷ thứ 8), thời đại đa dạng hóa văn thể (thế kỷ thứ 9 và 10), thời đại văn học có tính lịch sử (thế kỷ 11 đến 14), thời kỳ sân khấu cổ điển Nô (thế kỷ 15), thời kỳ văn chương bình dân (thế kỷ 16 và 17), thế kỷ văn học Ôsaka (1650-1750), thế kỷ văn học Edo (1750-1850), thời kỳ văn học chịu ảnh hưởng phương Tây (từ 1868 đến nay). Tuy nhiên, ông lại phân chia giai đoạn cuối thành thành 3 thời kỳ theo thời trị vì của ba vị thiên hoàng, cho rằng không làm cách nào khác hơn vì trong giai đoạn nầy, ảnh hưởng của chính trị lên trên văn học rất rõ nét. Trong cùng một thời đại, dĩ nhiên có một thể tài hay một khuynh hướng đóng vai trò then chốt nhưng những thể tài hay khuynh hướng khác cũng phát triển song song tuy có yếu thế hơn. Ví dụ suốt mấy trăm năm sinh hoạt văn hoá thời Heian, tuy thể loại truyện kể (monogatari) được phát triển mạnh mẽ nhưng thi ca như tanka cũng phong phú dồi dào và đôi khi trà trộn vào trong truyện kể và đóng một vai trò không nhỏ trong nội dung của nó. Lối tiếp cận của Hisamatsu Sei-ichi (Cữu Tùng, Tiềm Nhất) trong Nihon bungakushi tsuusetsu[16] lại dựa vào cả hai quan điểm địa lý và lịch sử để phân định thời kỳ khi ông lần lượt sắp xếp theo thứ tự văn học thượng cổ (vùng Yamato), văn học trung cổ (vùng Kyôto), văn học trung cận đại (các vùng Kamakura, Yoshino, Muromachi), văn học cận đại (các vùng Azuchi & Momoyama, Kamigata tức ba vùng nằm trong khu vực Kyôto & Ôsaka), giai đoạn chuyển tiếp từ miền Tây sang Edo thuộc miền Đông, văn học cận kim ( thời Meiji, thời Taishô…). Đó cũng là lối tiếp cận thường thấy trong các sách văn học sử Nhật Bản có tính cách giáo khoa. D) Cách phân chia được áp dụng ở đây: Đáng lý ra loạt bài này, vì sự tiện lợi cần có của một tư liệu nhập môn, phải dựa trên lối phân chia theo thời đại cũng có tính cách tổng hợp của hai tác giả và cũng là hai nhà sư phạm Akiyama và Mikoshi trong Shin Nihon bungakushi (Tân Nhật Bản văn học sử, 2000), được biết như sau đây: -Thượng cổ (thời Yamato-Fujiwara (350-710) và Nara (710-794)) tuy văn học Nhật Bản chỉ hiện rõ nét từ thế kỷ thứ 7. -Trung cổ (thời Heian (794-1185). -Trung cận đại (thời Kamakura (1185-1333), Muromachi (1333-1568) và Azuchi-Momoyama (1568-1600)). -Cận đại (thời Edo (1600-1867) chia ra làm tiền cận đại và cận đại -Hiện đại (từ Duy Tân đến Shôwa (1868-1989)) chia ra làm tiền hiện đại và hiện đại. Giai đoạn Heisei (1989 đến nay) hãy còn quá mới để có thể đưa vào văn học sử nên chỉ xin bỏ ngõ trong lời kết từ với vài ba yếu tố có tính chất thông tin sẽ cập nhật lần hồi nếu có dịp. Tuy nhiên, để bớt tính chất giáo khoa thư và để khỏi nhảy từ chuyện nọ sang chuyện kia rồi trở lại với nó sau đó, chúng tôi đã phối hợp lối trình bày theo thời đại của hai ông với lối trình bày theo văn thể (truyện kể, thơ chữ Hán, tiểu thuyết, sân khấu tuồng, văn dịch v.v…và như thế, có tính cách xuyên lịch sử) của hai giáo sư Hayashi và Noyama trong Quốc văn học nhập môn (2004) đã nhắc tới ở trên xa. Cùng lúc sẽ có những bài mang tính chất luận đề như khi bàn về ảnh hưởng của Trung Quốc, của Phật Giáo, của Tây Phương trên văn học Nhật. Bản dùng để in này soạn xong vào cuối năm 2006 có một số đính chính, thay đổi và bổ túc nếu so sánh với các bản in trên mạng trong hai năm qua. CHÚ GIẢI
[1] Katô, Shuu-ichi, A History of Japanese Literature (I), trang 1-26. [2] Những khái niệm trong tiểu đoạn nầy sẽ được trình bày lần hồi về sau. [3] Miyamoto Tsua, The Formation of Japan (Nihon no katachi) Tokyo, 2001 ( trang 39) [4] Vật (mono) = sự việc, ngữ (katari) = kể. Monogatari là truyện kể và Katarimono là hình thức văn học cổ xưa thuật lại việc lạ lùng của những nhân vật khác thường. Genji là nhân vật có tính hư cấu, con trai không chính thức của thiên hoàng. [5] Theo Jean-Jacques Origas, trong Dictionnaire de Littérature Japonaise, PUF, Paris, 1994. [6] William George Aston (1841-?), người Ái Nhĩ Lan, đến Edo năm 1864 và sống ở Nhật 11 năm, thông dịch cho ngoại giao đoàn và dạy Anh Văn, đã dịch Nhật Bản văn học sử của Shibano Rokusuke (Chi Dã, Lục Trợ) ra tiếng Anh năm 1899. [7] Fenollosa, Ernest (1853-1908) giáo sư khoa Anh văn Đại Học Đế Quốc Tôkyô trước thế chiến thứ nhất. [8] Waley, Arthur (tên thật là Arthur David Schloss, 1889-1966) nhà Đông Phương Học người Anh gốc Do Thái, giáo sư danh dự Đại Học Luân Đôn, nguyên phó quản thủ thư viện tại Bảo Tàng Viện Hoàng Gia Anh, tinh thông Hán, Nhật. Đã dịch Truyện Genji (1925-1933) và Makura Sôshi (1928) ra tiếng Anh [9] Sieffert, René, La Littérature Japonaise, PUF, 1973, trang 6. [10] Xem Higuchi Takayasu , Nihonjin wa doko karakita ka (Người Nhật từ đâu đến ?), Kôdansha Gendai Shinsho, Tokyo, 1971. [11] Gồm 1945 chữ thông dụng và 290 chữ ít thông dụng hơn để viết tên. Dự định lên đến 2965 chữ đã được dùng trong máy tính và điện thoại cầm tay. (theo báo International Herald Tribune 28/09/04). [12] Ví dụ bara (hoa hồng) từ tiếng Bồ Đào Nha, suriru (hồi hộp = thrill) từ tiếng Anh, aura (aura =hào quang) từ tiếng Đức, purezento (quà tặng = présent) từ tiếng Pháp... [13] Ví dụ đọc là bara (hoa hồng) theo tiếng Bồ Đào Nha nhưng viết là Tường Vi bằng chữ Hán. Viết chữ Hán Trân Châu nhưng có thể được phép đọc là Paaru (Pearl) theo tiếng Anh. " Mặt nạ " là để che bên ngoài như trang sức cho đẹp. [14] Toyoda, Takeshi, Myojino rekishi " Lịch sử tên họ ", Chuô Korôn, 1971. [15] Kagami, Kanji, Nihon no Chimei " Địa danh Nhật Bản ", Kadokawa Shobô, 1964. [16] Hisamatsu Sei-ichi, Nihon Bungakushi Tsuusetsu ,(Nhật Bản Văn Học Sử Thông Thuyết), Yuuhikaku xuất bản, 1953), trang 1-6.
|
|
#3
|
||||||||
|
||||||||
|
Chương 2 : THẦN THOẠI & CỔ TÍCH NHẬT BẢN Tìm hiểu văn học thượng cổ chung quanh Kojiki (Cổ Sự Ký), Nihon Shoki (Nhật Bản Thư Kỷ) và Fudoki (Phong Thổ Ký). Nguyễn Nam Trân ![]() TIẾT I
TIẾT I : TỔNG QUAN : A) Văn học thượng cổ Nhật Bản bắt đầu từ lúc nào?: Danh từ văn học thượng cổ ở đây chỉ thời kỳ từ khi có dấu vết của một dạng thức văn học xuất hiện trên đất nước Nhật Bản cho đến năm Enryaku (Diên Lịch 13, 794), trước khi vương triều thiên đô về Heian.kyô (Bình An kinh) ở vùng Kyôto bây giờ. Nói cách khác, đó là thời đại văn học được đánh dấu bằng cuộc sống văn hóa và chính trị suốt thời gian người Nhật đóng đô chủ yếu ở Fujiwara.kyô (Đằng Nguyên kinh, 694-710) cũng như Heijô.kyô (Bình Thành kinh, 710-740 và 745-784), hai kinh thành nằm trong vùng đất Yamato (Đại Hoà) thuộc khu vực Nara ngày nay. B) Phong thổ và văn học: Vùng đất Yamato là một thung lũng lớn bốn bên có núi bao bọc, ở giữa có 3 ngọn Đại Hòa Tam Sơn thoai thoải, cây cối rậm rạp nằm chắn ngang.Khí hậu ở đó về mùa hè tuy nóng nhưng không quá khó chịu, mùa đông tuyết có phủ cũng chỉ làm cho cảnh sắc thêm xinh chứ không đến nỗi làm vắng bóng người qua lại. Thiên nhiên ôn hòa, thời tiết bốn mùa thay đổi nên đất Yamato là cái nôi của một nền văn học hòa hợp cùng thiên nhiên và nhạy cảm với thời tiết. Như thế, có thể nói ngay là ảnh hưởng của phong thổ rất đáng kể đối với văn học Nhật Bản thời cổ đại. C) Hình thức cổ xưa của văn học Nhật Bản: Một vạn năm về trước, Nhật Bản hãy còn ở trong thời kỳ tiền gốm[1]. Sau vài nghìn năm, lúc bước vào thời Jômon (gốm có hoa văn dây thừng), họ mới dùng dụng cụ bằng đá và đất nung trong việc hái nhặt để sinh sống. Khoảng thế kỷ thứ 3 hay thứ 2 trước công nguyên, thời kỳ Yayoi[2] (gốm trơn) đã bắt đầu. Kỹ thuật trồng lúa nước được truyền đến từ lục địa khiến cho sự sản xuất mạnh mẽ thêm nhiều so với thời hái nhặt. Công việc trồng lúa nước có tính chất tập đoàn, đòi hỏi sự tham gia của nhiều người cũng như sự tập hợp sinh hoạt tại một chỗ cố định. Xã hội cộng đồng thành hình và gắn bó với nhau bằng liên hệ gia tộc rồi đến thị tộc.Cộng đồng thị tộc đã có một văn hóa đặc thù rồi. Sau đó, theo nhịp điệu tăng trưởng của công việc sản xuất, các thị tộc kết hợp thành một vài tiểu quốc. Từ khi người Nhật rời hang động ra ngoài nhặt hái để sinh sống, họ đã có những nỗi sợ hãi khi đứng trước sự uy nghiêm của thiên nhiên đã làm nảy sinh nơi họ lòng tin rất phong phú. Sức mạnh siêu nhiên được đúc kết lại dưới dạng thần thánh (kami) và sự tế lễ thần thánh (matsuri) bắt nguồn từ đó. Cộng đồng thể muốn duy trì sự yên ổn và gắn bó với nhau của mình nên mới tổ chức những cuộc tế lễ. Hình thức thô sơ của văn học là những câu chú, bài chú[3] đọc lên trong những lễ tế thần vậy. Loại từ chương này vốn khác với ngôn ngữ hằng ngày, thường lập đi lập lại, có vần điệu. Khi trình bày nơi cúng tế lại hay kèm theo âm nhạc và nhảy múa. Các tiểu quốc tập hợp từ những cộng đồng thể (thị tộc) rồi sẽ thống nhất thành quốc gia. Trong quá trình nầy, tế lễ cũng thống nhất theo. Hơn nữa, về phương diện ngôn ngữ, những thần chú linh thiêng nói trên cũng trở thành đặc thù, trau chuốt tinh vi hơn. Như thế, văn học đã thành hình và xuất phát từ đó đã có những dạng thức đầu tiên là thần thoại (shinwa) và ca dao (kayô) D) Từ văn học truyền miệng chuyển qua văn học ghi chép: Người Nhật thuở đó chưa có một hệ thống ký hiệu cho nên thần thoại và ca dao được gìn giữ lại dưới hình thức truyền miệng[4] (khẩu thừa hay khẩu tụng = kôjô, kôshô) nhưng sau khi đã thống nhất thành quốc gia và làm quen được với chữ Hán truyền từ đại lục thì thần thoại và ca dao đã được ghi lại qua chữ viết. Văn chương truyền miệng như thế đã trở thành văn chương ghi chép (ký tải = kisai)[5] và hình thức biểu hiện khá tự do từ trước của ca dao và thần thoại đã vào lề lối. Từ đó ca dao có hình thức khá cố định và thần thoại dần dần được tản-văn hóa. Dĩ nhiên ghi chép lại thần thoại và ca dao của nước mình bằng một thứ ngôn ngữ đến từ phương xa như chữ Hán là một điều khó khăn. Do đó, người Nhật phải tìm cách biến ngôn ngữ biểu ý là chữ Hán thành những âm tố để ghi chép trung thành nội dung của hai dạng thức văn học quốc nội đó. Trong quá trình tìm tòi, họ đã tạo ra chữ kana (giả danh, giả tự, chữ mượn) qua các giai đoạn man.yôgana (chữ mượn dùng để ghi chép thơ trong tập cổ thi Man.yôshuu, Vạn diệp tập), hiragana rồi đến katakana (tức là hai loại chữ viết vẫn dùng ngày nay). Kana (chữ mượn) đối nghịch với mana (chữ thật) vì nó chỉ dùng cái vỏ chữ Hán mà không giữ ruột tức nghĩa của chữ. E) Vai trò của văn học trong quốc gia thời cổ: Quốc gia Nhật Bản thời cổ rất ngưỡng mộ hình thức tổ chức của Trung Quốc. Việc họ xây dựng một chế độ luật pháp (ritsuryô seido) cho một quốc gia có quyền hành tuyệt đối mà thiên hoàng là trung tâm (trung ương tập quyền, thiên hoàng chế) cũng là phỏng theo mô hình xã hội cổ đại Trung Quốc hoàn thành dưới hai triều Tùy (581-619), Đường (618-907), một mô hình ngoại lai đối với họ. Không những thế, Nhật Bản còn hấp thụ văn hóa Trung Quốc trong đó có văn hóa Phật Giáo và nhờ vậy, đã xây dựng được những nền văn hóa độc sáng như văn hóa Asuka[6] (Phi Điểu), Hakuhô[7] (Bạch Phượng), xán lạn như văn hóa Tenpyô [8] (Thiên Bình). Trong khi thu nhận văn hóa và phong cách tổ chức xã hội Trung Quốc, người Nhật cùng lúc đã đào sâu bản sắc dân tộc đặc dị của mình. Điều nầy thể hiện qua những công trình biên soạn sử thư và địa chí. Kể từ đầu thế kỷ thứ 8, những tác phẩm như Kojiki (Cổ sự ký), Nihon shoki (Nhật Bản thư kỷ), Fudoki (Phong thổ ký) đã thu thập rộng rãi thần thoại, truyền thuyết và ca dao của quốc gia Nhật Bản cổ đại. Mặt khác, trên bước đường từ văn chương truyền miệng chuyển qua văn chương ghi chép, ca dao (kayô) cũng biến dạng thành hòa ca (waka), xin hiểu là “thơ quốc âm” vì người Nhật tự gọi mình là dân tộc Wa (phiên âm là Hòa). Waka đã được sưu tập trong tác phẩm Man.yôshuu (Vạn diệp tập, ra đời khoảng 770) mà những bài vịnh có khuynh hướng trữ tình và tính cách cá nhân cũng bắt đầu rõ nét bên cạnh tính tập đoàn.Không kể là lúc ấy, ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc cũng đã được nhận thấy qua những bài thơ bài văn chữ Hán (kanshibun) chép lại trong tập Kaifuusô (Hoài Phong Tảo, 751). Sự kiện lich sử và văn học thời Yamato (từ trước công nguyên đến năm 710): Trước công nguyên: - Văn hóa Jômon (gốm có hoa văn kết thừng). Từ thế kỷ thứ 3 hay thế kỷ thứ 2 trước công nguyên: - Văn hóa Yayoi (gốm trơn, đồ dùng hàng ngày). Từ công nguyên đến thế kỷ thứ 4 - Các tiểu quốc được thành lập. - Nhà nướcYamatai (Da Mã Đài) bắt đầu cai trị. - Văn hóa Kofun (lăng mộ hình gò) ra đời. - Văn chương truyền miệng: ca dao, thần thoại phổ biến. - Triều đình Yamato (Đại Hòa hay Nụy) thống nhất lãnh thổ. Thế kỷ thứ 5 và thứ 6: - Chữ Hán truyền vào đất Nhật。 - Phật giáo đến Nhật - Năm 593:Thái tử Shôtoku[9] làm Sesshô (Nhiếp Chính) Thế kỷ thứ 7: Văn chương ghi chép xuất hiện và văn hóa Asuka (Phi Điểu) phát triển - Năm 607: Sứ bộ Ono no Imoko (Tiểu Dã, Muội Tử) sang nhà Tùy. - Năm 629: Thiên hoàng Jomei (Thư Minh) lên ngôi. - Năm 630: Gửi sứ bộ sang nhà Đường. - Năm 645: Cải cách chính trị quan trong năm Taika (Taika Kaishin, Đại Hóa cải tân). - Năm 667: Dời đô sang cung Ôtsu (Đại Tân) ở Ômi (Cajn Giang). - Năm 668: Thiên hoàng Tenji (Thiên Trí) lên ngôi. - Năm 672: Cuộc biến loạn năm Nhâm Thân (Jinshin no ran). Thiên đô về cung Kiyomi-ga-hara ở Asuka. Thời hoạt động của công chúa Nukata (Ngạch Điền, xem bài viết về tập thơ Man.yôshu) - Năm 673: Thiên hoàng Tenmu (Thiên Vũ) tức vị. - Năm 694: Văn hóa Hakuhô (Bạch Phượng) phát triển. - Năm 694: Dời đô về Fujiwara-kyô (Đằng Nguyên kinh). - Năm 701: Bộ luật Taihô (Đại Bảo) ra đời. - Thời hoạt động của thi hào và nhà biên tập Kakinomoto no Hitomaro (Thị Bản Nhân Ca Lữ) (xem bài viết về tập thơ Man.yôshu) - Năm 710: Dời đô về Heijô.kyô (Bình Thành kinh) Văn học thời Nara (từ năm 710 đến năm 794) - Năm 711: Biên soạn Kojiki (Cổ Sự Ký) - Năm 713: Lệnh biên soạn tập địa chí Fudoki (Phong Thổ Ký) được ban hành. - Năm 715: Phong Thổ Ký vùng Harima (Harima no kuni fudoki) soạn xong. - Năm 718: Bộ luật Yôrô (Dưỡng Lão luật lệnh) ra đời. - Năm 720: Nihon Shoki (Nhật Bản Thư Kỷ) ra đời - Năm 721: Phong thổ ký vùng Hitachi (Hitachi no kuni fudoki) có lẽ đã soạn vào năm này. - Năm 733: Phong thổ ký vùng Izumo (Izumo no kuni fudoki) được soạn ra. Các nhà thơ như Yamabe no Akahito hoạt động vào thời điểm này. - Năm 740: Dời đô về Kuni-kyô (Cung Nhân kinh) đất Yamashiro (Sơn Bối) - Năm 744: Dời đô về Nanba-kyô (Nạn Ba kinh) - Năm 745: Trở lai Heijô-kyô (Bình Thành kinh) Văn hóa Tenpyô (Thiên Bình) phát triển. - Năm 751: Tuyển tập Kaifuusô (Hoài Phong Tảo) được đề tựa. - Năm 752: Lễ cúng dường điểm nhãn tượng Đại Phật ở chùa Tôdaiji (Đông Đại Tự). - Năm 753: Dựng bia ca tụng dấu chân Phật (Bussokuseki Kahi, Phật Túc Tích Ca Bi). Thời hoạt động của nhà thơ Ôtomo no Yakamochi.( Đại Bạn Gia Trì) - Năm 754: Tăng Giám Chân (Ganjin, 688-763) nhà Đường qua Nhật. - Năm 759: Bài thơ cuối cùng thấy trong tập Man.yôshuu được viết ra - Năm 764: Loạn Emi no Oshikatsu (Huệ Mỹ Giáp Thắng) . - Năm 769: Vụ nữ Thiên hoàng Shôtoku (Xưng Đức) định nhường ngôi cho tăng Dôkyô (Đạo Kính) xảy ra. - Năm 770: Abe no Nakamaro (A Bộ Trọng Ma Lữ) chết ở đất khách bên Trung Quốc. Ông đã từng làm quan ở Giao Châu (Việt Nam thời Đường). Man.yôshuu (Vạn Diệp Tập) có lẽ đã ra đời khoảng này. - Năm 772: Tập bình luận thơ nhan đề Kakyô hyôshiki (Ca kinh phiêu thức) do Đằng Nguyên Tân Thành, Fujiwara Hamanari soạn theo cách thức Trung Hoa. - Năm 784: Dời đô về Nagaoka.kyô (Trường Cương kinh). - Năm 785: Ôtomo no Yakamochi mất. - Năm 789: Tập Takahashi Ujibumi (Cao Kiều thị văn), kể công nghiệp dòng họ Takahashi, xuất hiện. - Năm 794: Dời đô về Heian.kyô (Bình An kinh) TIẾT II
TIẾT II : THẾ GIỚI CỦA THẦN THOẠI Như đã nói trên, người thời thượng cổ, khi tiếp xúc với thiên nhiên, kinh sợ trước sự biểu hiện của những sức mạnh vượt hẳn hiểu biết của mình, đặt tên nó là thần linh.Qua hành động qui phục thần linh bằng đồ vật cúng tế, họ hy vọng sẽ tìm được sự yên ổn cho cá nhân và tập đoàn. Thế rồi, ở nơi tế lễ, họ bắt đầu kể cho nhau nghe về hành vi của thần linh cũng như nguồn gốc của các cuộc tế lễ. Các bậc tổ tiên của họ chết đi cũng được xem như hòa nhập vào thế giới thần linh. Hành trạng của các vị thần-tổ-tiên này được lưu truyền để xác định nguồn gốc của tập đoàn. Cũng vào lúc tế lễ, người thượng cổ truyền lại đời sau sự hiểu biết về lai lịch các địa danh và đầu đuôi mọi sự vật. A) Thần thoại: Sự tích các vị thần được kể lại trong lúc tế lễ gọi là thần thoại (shinwa, myth). Trong nghĩa rộng của nó, thần thoại bao gồm cả truyền thuyết (densetsu, legend) và thuyết thoại (setsuwa, tale) nhưng truyền thuyết liên quan đến con người nhiều hơn là thần, còn trong thuyết thoại thì yếu tố tín ngưỡng đã trở thành phụ thuộc và cái thú vị của nó nằm trong chính nội dung được kể lại. Có thể xem nó như truyện truyền kỳ[10]. Thần thoại vốn được trình bày ở nơi tế lễ nên thường được truyền miệng mà thôi. Tuy nhiên, từ khi chữ Hán truyền bá đến Nhật Bản khoảng thế kỷ thứ 5 và thứ 6, người ta bắt đầu ghi chép lại thần thoại sau khi đã nắm vững lối diễn tả bằng chữ Hán. Qua quá trình đi từ truyền khẩu qua ghi chép, yếu tố văn nói dần dần phai nhạt. Thần thoại sau đó chỉ còn xuất hiện dưới hình thức tản văn. B) Tập Hợp Các Thần Thoại : Khi cộng đồng thể tập họp lại để trở thành quốc gia thì thần thoại cũng được chấn chỉnh, tập hợp để thống nhất. Đó là nguyên do tại sao các tác phẩm sử ký như Kojiki, Nihon shoki, địa lý như Fudoki đã ra đời. Thế nhưng ai đã ra lệnh tập hợp thần thoại, tập hợp như thế nào và với mục đích cụ thể gì? Để trả lời câu hỏi nầy, trước tiên phải nhắc lại một sự kiện lịch sử quan trọng: sự nắm chính quyền của nhân vật gần như thần thoại là Shôtoku Taishi (Thánh Đức Thái Tử) và sự tuyên cáo văn kiện mà ngày nay người Nhật gọi là Hiến Pháp 17 Điều. C) Hiến Pháp 17 Điều Jushichijô Kenpô (Thập Thất Điều Hiến Pháp, 604): Người ta vẫn chưa hội đủ bằng cớ để chứng minh tính cách xác thực của luận điểm cho rằng tác giả Hiến Pháp 17 Điều là Thái tử Nhiếp chính Shôtoku. Niên đại 604 là lúc nó ra đời lại có vẻ hơi quá sớm. Các nhà nghiên cứu ngờ rằng hiến pháp với nội dung cải cách trên đã được làm ra vào thời hậu bán thế kỷ thứ 7, sau cuộc cải cách thời Taika (Đại Hoá Cải Tân, 645), lúc chính sách trung ương tập quyền được thi hành hay lúc liên quân Đại Hòa - Bách Tế (Yamato - Kudara) bị thủy quân hai nước Đường -Tân La (Tang - Shiragi) đánh bại ở Bạch Thôn Giang (Hakusonkô), nay là cửa sông Cẩm Giang, tây nam Hàn Quốc (663) và phải rút về nước. Hậu bán thế kỷ thứ 7 có nhiều biến chuyển lớn ở Nhật (cải cách Taika, loạn Jinshin = Nhâm Thân, 672) và việc gia đình thiên hoàng (thế lực Nam Kyuushuu) giành được quyền bính, tập trung quyền hành vào trung ương. Lúc nầy, Nhật Bản đã gửi sứ bộ sang triều cống nhà Đường (trước đó là nhà Tùy). Sau khi quốc gia đã thống nhất, kinh đô phải được kiến thiết, luật lệ hành chánh phải được đặt ra, việc ghi chép quốc sử thành cần thiết để phục vụ cho nhu cầu đối nội (chính thống hóa quyền lực) và nhất là đối ngoại (xác định trình độ chính trị của vương triều và vị trí trong khu vực). Kinh đô đó là Nara, thành lập năm 708, kiến thiết phỏng theo qui mô của thành phố Lạc Dương[11]. Luật lệ đó là hai bộ luật Taika (Đại Hóa, 645) và Taihô (Đại Bảo, 701).Hai bộ sử là Kojiki (712) và Nihon shoki (720), đều làm theo lối biên niên và có một bộ phận thần thoại (kamiyo = thần đại) trước khi bước vào lịch sử con người (nhân đại = jindai). D) Kojiki (Cổ Sự Ký): Sách này được biết do Ônoyasu Maro[12] (Thái An, Vạn Lữ) sao lục và soạn ra vào năm 712. Theo lời tựa ông viết, Thiên hoàng Tenmu (Thiên Vũ), kẻ thắng lợi trong việc tranh ngôi với cháu sau cuộc biến loạn Jinshin[13] (Nhâm Thân 672), đã ra lệnh tập họp các sách sử trước đó nghĩa là các đế kỷ [14](teiki) và bản từ [15](honji) để so sánh, kiểm điểm, tu chính làm sao cho đời sau được biết “đúng đắn” gốc gác của quốc gia. Sau đó lại hạ lệnh cho xá nhân (người hầu cận) tên là Hieda no Are[16] (Bại Điền, A Lễ) làm việc “tụng tập” (shôshô) chỉnh lý những văn kiện ấy để âm thanh cổ xưa được viết với chữ Hán tương xứng. Tenmu chết, công việc bị bỏ dở dang. Đến năm 711, Ônoyasu Maro theo lệnh Thiên hoàng Genmei (Nguyên Minh) biên soạn lại công trình của Hieda no Are, sang năm sau (712), hoàn thành Kojiki và dâng lên. Ông đã viết bài tựa cho sách. Bản Kojiki tối cổ là bản chép lại dưới thời Kamakura (1185-1333) , hiện còn giữ tại chùa Shinfukuji (Chân Phúc Tự) ở Nagoya. Sách gồm 3 quyển. Quyển thượng kể việc từ đời tạo thiên lập địa đến lúc Thiên hoàng (thứ 1, trong truyền thuyết) Jinmu (Thần Vũ) ra đời.Quyển trung liên quan đến đời trị vì từ thiên hoàng Jinmu đến Thiên hoàng (thứ 15) Ôjin (Ứng Thần). Quyển hạ nói về khoảng thời gian giữa Thiên hoàng (thứ 16) Nintoku (Nhân Đức) và (nữ) Thiên hoàng (thứ 33) Suiko (Thôi Cổ). Trong quyển thượng, Kojiki thuật lại việc tạo thiên lập địa theo thần thoại Nhật Bản: việc hai vị thần Izanaki (Y Da Na Kỳ) và Izanami (Y Da Na Mỹ) đã vâng lệnh Kotoamatsu-kami (Biệt Thiên Thần) từ cõi thần ra đi thành lập một đất nước lý tưởng. Nam thần bèn thọc ngọn giáo xuống một vũng bầy nhầy như thịt sứa để tạo thành một hòn đảo muối.Sau đó, hai người đến đấy ở và kết hôn với nhau. Izanami đã sinh ra nước Nhật (Ôyashimaguni, Đại Bát Đảo Quốc) và các thần núi, biển, gió, cây cỏ nhưng khi đẻ ra thần hỏa thì bị lửa táp, phải về Cõi Chết (Yominokuni, Hoàng Tuyền Quốc). Tiếp đó, nữ thần mặt trời Amaterasu Ômikami (Thiên Chiếu Đại Thần), sinh ra từ con mắt trái của Izanaki khi vị thần này đến giữa biển vùng Himuka (Hyuuga, Nhật Hướng) để tẩy uế vì bị nhuốm cái bẩn thỉu của Cõi Chết khi đi thăm vợ[17]. Amterasu được chọn từ đám chị em để trị vì cánh đồng trời Takama no hara (Cao thiên nguyên, bầu trời). Bà ra lệnh cho con mình là Tenson (Thiên Tôn) giáng lâm xuống nước Nhật. Thiên Tôn đây tức là tổ thần của các thiên hoàng ngày nay. Kojiki lấy sự tích Thiên tôn giáng lâm (Tenson kôrin) làm gốc, kết hợp nó với thần thoại các vùng khác, nhất là vùng Izumo (Xuất Vân) để đề cao tính chính thống của con cháu thiên tôn.Qua đó, ta thấy Kojiki được biên soạn với mục đích rõ rệt của hoàng gia đương thời muốn loại bỏ ảnh hưởng các thế lực chính trị khác, nhất là thế lực của Izumo. Theo lời tác giả Kojiki thì khi Amaterasu ngự giữa Cánh Đồng Trời (Takama no hara), hai em là Tsukiyomi và Susano-o được cử cai trị thế giới Bóng Đêm (Yo no Osukuni) và Thế Giới Biển (Unabara) .Thế nhưng Susano-o là kẻ không chịu phục tùng chị, lại có hành động phá hoại như gây nên động đất, phá hoại hoa màu, trét phân vào bàn thờ… nên bị chư thần đuổi xuống trần gian vùng Izumo. Thần cứu nữ thần ruộng nước Kushinada-hime ra khỏi tay mãng xà và cưới nàng. Con cháu Susano.o sau lập được nước Mizuho (Thủy Tuệ Quốc). Lúc Amaterasu cho Thiên Tôn giáng lâm, con cháu Susano.o vì cai trị không minh để nước hỗn loạn nên phải chịu nhường nước lại để đổi lấy cung điện nguy nga. Đó là huyền thoại nhượng nước (kuniyuzuri) mà dòng dõi các thiên hoàng (thế lực vùng Miyazaki, Nam Kyuushuu) thường dựa vào để khẳng định sự đầu hàng của đối phương (Izumo, thế lực ở Shimane, miền Tây đảo Honshuu) và sự chính thống của bè cánh mình. Trong khi các thần Izumo độc lập biến mất và hoà nhập vào dòng chính, Ninigi no Mikoto, cháu của Amaterasu và thủy tổ của dòng này đã xuống trần ở ngọn núi Takachiho no mine (Cao Thiên Huệ phong) ở vùng Hyuuga (Himuka, Hướng Nhật, nay thuộc tỉnh Miyazaki, phía nam Kyuushuu) và bắt đầu gây dựng một hoàng tộc chính thống, trị vì không gián đoạn trên nước Nhật cho đến ngày nay. Thiên hoàng Jinmu (Thần Vũ), cháu của Ninigi và là thiên hoàng đầu tiên trở thành chủ nhân của lãnh thổ, sau khi bình định nước xong, thấy muốn thực hiện chính trị cho tốt đẹp phải dời triều đình về trung tâm Nhật Bản hiện tại tức vùng Yamato (Đại Hòa, vùng Nara bây giờ) cho nên mới có sự tích Jinmu Tôsei (Thần Vũ đông chinh) tức là Jinmu dẫn quân về miền đông. Jinmu lấy vợ con nhà hào tộc sở tại rồi từ đó, truyền ngôi cho con cháu.Tuy nhiên, theo mộc giản (thẻ gỗ) đào được năm 1998 ở Nara thì danh hiệu thiên hoàng (tennô), một danh từ có tính chất Lão giáo của Trung Quốc được nhập vào, chỉ được dùng thay cho xưng hiệu đại vương (ôkimi) từ thời thiên hoàng Tenmu (trị vì 672-686) hay nữ thiên hoàng Jitô ( 686-697), vợ và là người kế vị ông, mà thôi. Quyển trung và hạ kể lại các thần thoại và truyền thuyết chung quanh cuộc đời các bậc anh hùng mở nước như Thiên hoàng (thứ nhất) Jinmu (Thần Vũ), Yamato Takeru no Mikoto (Nụy (Oa) Kiến Mệnh, còn được gọi là Nhật Bản Vũ Tôn), Hoàng hậu Jinguu (Thần Công), các Thiên hoàng (thứ 16) Nintoku (Nhân Đức) “rất nhân từ, thương dân” và (thứ 21) Yuuryaku (Hùng Lược) bạo ngược nhưng đa tình, cũng như mối tình loạn luân bị cấm đoán của Karu no Miko (Khinh Thái Tử) và em gái cùng mẹ là Sotôri no Ôkami (Y Thông Vương), kết cục phải cùng nhau tự sát. Quyển trung còn mang nặng những chi tiết có thần tính trong khi quyển hạ nói nhiều về con người bình thường hơn. Kojiki đã bắt đầu cho biết có những tranh chấp quyền lực trong giai cấp thống trị như âm mưu đoạt ngôi Thiên hòang thứ 11 Suinin (Thụy Nhân) do chính anh em của vợ mình là Hoàng hậu Sabohime, việc Hoàng hậu Jinguu (Thần Công), vợ góa Thiên hoàng thứ 14 Chuuai (Trọng Ai), đánh giặc Tân La trở về phá vỡ được âm mưu đảo chánh khi mình vắng mặt, truyện Thiên hoàng thứ 15 Ôjin (Ứng Thần) lưỡng lự không biết lập con trưởng hay con thứ. Giá trị về tư liệu lịch sử của Kojiki (mà nhà quốc học Motoori Norinaga đọc theo âm kana thành Furukotobumi) không bao nhiêu nhưng nó đã làm được phận sự thống nhất những truyền thuyết về thị tộc mà hoàng gia là trung tâm. Ngoài ra còn chen vào đó trên một trăm bài ca dao nên đã miêu tả sống động được khung cảnh thế giới thời bấy giờ. Kojiki còn kể lại những câu chuyện cho ta biết về tập tục cổ xưa như gương hy sinh và tình yêu của hoàng tử Yamato Takeru no Mikoto đối với vợ là Ototachibana Hime no Mikoto, người đã nhảy xuống biến làm vật hy sinh để cho chồng thoát khỏi cơn bão tố, để sau đó đi đánh được giặc Emiji. Xem ra, nó giống như việc Jonas bị ném xuống biển cho yên gió bão chép trong Thánh Kinh Cựu Ước và việc vua Mykenai thời cổ Hy Lạp là Agammenon đem con gái tế thần biển cầu sóng yên gió lặng để xuất binh đi đánh thành Troy. Ngoài bài tựa thuần túy bằng Hán văn, Kojiki đã được viết bằng một biến thể của Hán văn nghĩa là mặt chữ là chữ Hán nhưng cách đọc được phiên ra âm Nhật. Lý do là để thể hiện trung thành được quốc ngữ. Những câu quan trọng hay ca dao đều được viết với cách thức mỗi chữ Hán đại diện một âm mà thôi[18]. Đó là lối chữ viết gọi là man.yôgana (nghĩa là chữ mượn kiểu được dùng trong tập thơ Man.yôshuu (Vạn diệp tập). Ônoyasu Maro, người soạn Kojiki, rất khổ tâm vì phải dùng một văn tự ngoại lai để ký lục sự tích của nước mình nên đã dùng phép âm huấn[19] để có thể, qua chữ Hán, giữ được âm Nhật. Kojiki được coi như là một kiệt tác trong loại văn chương thần bí cho dù nhiều học giả ngày nay đặt nghi vấn về xuất xứ của nó..Trong một quãng thời gian dài, nó không được nhắc tới nhiều ở triều đình Nhật Bản, vốn bắt đầu thấm nhuần văn hóa đại lục và có khuynh hướng nhìn nhận giá trị của Nihon shoki. Ngay cả đối với giới tăng lữ Thần đạo, Kojiki cũng không được sử dụng nhiều bằng các bộ cổ sử Nihon shoki, Kogo shuui (Cổ ngữ thập di, 807), và cả đối với ngay một quyển sách ngụy tạo thời Heian là Sendai kuji hongi (Tiên đại cựu sự bản kỷ, còn gọi là Kujiki, Cựu sự ký). Kojiki chỉ được phẩm định lại giá trị bởi các nhà quốc học thời Edo, noi gương phục cổ của các học giả Khổng giáo đương thời, muốn tìm về nguồn gốc dân tộc bằng cách dựa vào những sách vở cổ xưa nhất. E) Nihon shoki (Nhật Bản Thư Kỷ): Tác phẩm này tương truyền do Hoàng thân Toneri[20] (Toneri Shinnô, Xá Nhân Thân Vương) làm tổng tài việc biên tập năm 720 nghĩa là sau Kojiki chỉ có 8 năm, theo lệnh của thiên hoàng (thứ 44) Genshô (Nguyên Chính) . Đó là tập sử biên niên[21] viết bằng chữ Hán mà thôi và ghi lại những biến cố từ thời chư thần lập quốc đến đời (nữ) Thiên hoàng (thứ 41) Jitô (Trì Thống, trị vì 686-697). Nihon Shoki được xem như quyển đầu tiên trong sáu bộ sử của nhà nước (Lục Quốc Sử, Rikkokushi[22]). Năm quyển kia cũng được các quan trong triều soạn theo chiếu chỉ. Đó là Shoku Nihongi (Tục Nhật Bản Kỷ, 797, 40 quyển), Nihon kôki (Nhật Bản hậu kỷ, 840, 40 quyển), Shoku Nihon kôki (Tục Nhật Bản hậu kỷ, 869, 20 quyển), Nihon Montoku Tennô jitsuroku (Nhật Bản Văn Đức Thiên Hoàng thực lục, 879, 10 quyển) và Nihon sandai jitsuroku (Nhật Bản tam đại thực lục 901, 50 quyển) kể chuyện các đời thiên hoàng về sau. Đến thời Heian, quyền thần Fujiwara ngăn cản việc viết sử vì sợ những mưu toan nắm chính quyền của họ bị phanh phui. Nihon shoki gồm 30 quyển, nội dung thần thoại, truyền thuyết có nhiều chỗ trùng lặp với Kojiki nhưng cách ghi chép có phương pháp sử học hơn nhiều. Ví dụ trong quyển nói về chư thần, Nihon shoki dùng kiểu nói “Có sách viết…” để đưa ra nhiều thuyết khác nhau mà so sánh, chứng tỏ đã tham khảo nhiều nguồn tư liệu. Cách trình bày của sách trôi chảy, có nhiều sự thực lịch sử đáng tin.Có lẽ sách được biên do yêu cầu làm sao nâng được uy tín của quốc gia trong quá trình đối ngoại. Ishimoda Tadashi[23] trong Nihon no kodai kokka (Nhật Bản cổ đại quốc gia) dựa trên tư liệu Tùy thư, Đường thư và chính Nihon shoki cho rằng đây là văn kiện để các sứ thần sang nhà Trung Quốc trình bày về nước mình khi trả lời các câu hỏi của hoàng đế nhà Tùy và nhà Đường. Ảnh hưởng lối viết sử thư của Trung Quốc được thấy khá rõ ở đây. Ví dụ như khi kể lại truyền thuyết của vợ Hoàng tử Yamato Takeru Mikoto (trong sách nầy viết tên chữ Hán của hoàng tử là Nhật Bản Vũ Tôn) nhảy xuống biển để hải thần nguôi giận không gây sóng gió, đã cho biết gốc tích bà là con ai, người vùng nào và vùng biển họ đi qua nằm ở đâu. Trong 30 quyển chỉ có quyển 1 và 2 nói về thời các thần, 28 quyển sau nói về thời của con người, có chua ngày tháng năm rõ ràng, cạnh chính văn còn có các loại biệt truyện bên lề. Có những đọan sử rất hào hứng như đoạn liên quan đến việc đảo chánh và tru diệt tập đoàn Soga Emishi và Iruka vào năm 644 (trong quyển 24) do hoàng tử Naka no Ôe (Trung Đại Huynh, sau này là thiên hoàng Thiên Trí tức Tenji) chủ mưu, cuộc trấn áp hoàng tử Arima (Hữu Gian) cũng do một tay Naka no Ôe dưới thời nữ thiên hoàng Saimei (Tề Minh), mẹ ông, năm 658 (quyển 26) và cuộc tranh ngôi giữa hai chú cháu hai Thiên hoàng Tenmu (Thiên Vũ ) và Kôbun (Hoằng Văn, con Tenji) năm Nhâm Thân 672 (quyển 28). Bảng so sánh Kojiki (Cổ Sự Ký) và Nihon Shoki (Nhật Bản Thư Kỷ) Tác phẩm Kojiki Nihon Shoki Xuất hiện Năm 712 Năm 720 Người soạn Hieda no Are đọc cho Ôno Yasumaro chép Toneri Shinno chủ trì biên tập Số quyển 3 (thượng-trung-hạ) 30 quyển Nội dung Từ thời các thần đến thiên hoàng Suiko (tại vị 592-628) Từ thời các thần đến thiên hoàng Jitô (tại vị 690-697) Văn tự ghi chép Chữ Hán đọc theo âm Nhật Thuần túy thể văn chữ Hán Mục đích Xác định địa vị trung tâm của thiên hoàng trên nước Nhật Biểu dương quyền lực quốc gia với ngoại bang Đặc điểm Nhiều kịch tính. Nhiều truyền thuyết. Có tính văn học Có tính cách một cuốn sử thư. So sánh nhiều nguồn thông tin khác nhau. Xuất xứ: Genshoku Shiguma Shinkokugo Binran, Tôkyô, 2002 Trong một thời gian khá dài, Nihon Shoki đã đóng vài trò chính yếu trong sinh hoạt nhà nước và tôn giáo, từ đời Nara mãi đến đời Kamakura và Muromachi. Ngoài ra Shoku Nihongi (Tục Nhật Bản kỷ), một trong Rikkokushi (Lục quốc sử), do Fujiwara no Tsugutada (Đằng Nguyên, Kế Thằng) và Sugano Mamichi (Quản Dã, Chân Đạo) soạn ra theo chiếu chỉ cũng đã hoàn tất năm 797. Nó gồm 40 quyển tiếp nối Nihon shoki và chép lại lịch sử Nhật Bản từ năm 697 (đời thiên hoàng Mommu = Văn Vũ) đến năm 791 (đời thiên hoàng Kanmu = Hoàn Vũ), nghĩa là trọn thời kỳ Nara. Tuy chất lượng biên tập kém so với quyển trước nhưng nó có giá trị sử thư rất lớn. F) Fudoki (Phong thổ ký): Loạt sách hầu như viết bằng Hán văn theo giọng văn thời Lục Triều, văn hành chánh lúc đó, là bộ sách được biên tập theo lệnh của Thiên hoàng (thứ 43) Genmei (Nguyên Minh) năm 713 một năm sau khi Kojiki ra đời. Bộ sách này còn được gọi là Ko Fudoki (Cổ phong thổ ký) để phân biệt với các tập Fudoki đời sau. Các địa phương (kuni) phải giải thích nguyên lai địa danh vùng mình, kê khai sản vật, địa thế, sao chép các truyện xưa tích cũ hay “cựu văn dị sự” do bô lão kể lại vào đó. Nhờ thế, phong thổ, sinh hoạt của từng địa phương được thu thập trình bày. Ngày nay, trong số các Fudoki đó, chỉ còn những tập ký lục địa dư (có giá trị dân tộc học lớn) của năm miền là còn truyền lại[24] nhưng không đầy đủ. Trong đó quan trọng nhất là Izumi no kuni no fudoki (Xuất Vân quốc phong thổ ký). Các sách địa dư nầy được ghi chép ở địa phương, không qua tay trung ương nên tuy lời văn không đẽo gọt nhưng ghi chép trung thực tâm tình và lối sống của dân chúng sở tại nên rất bổ ích. Về văn thể, tuy dùng văn chữ Hán nhưng cũng có chỗ dùng văn biến thể từ chữ Hán và các loại văn sắc lệnh hành chánh (senmyôgaki, tuyên mệnh thư) nữa . Sách Fudoki vùng Izumo đã ghi chép lại truyền thuyết quan trọng về khoanh nước thêm rộng (kunibiki) và nhường nước (kuniyuzuri), có thể hàm ý về việc khai khẩn hay thu phục đất đai và nhường quyền cai trị. Fudoki vùng Harima kể chuyện hoàng tử Takekashima no Mikoto dụ giặc Kuzu ra khỏi doanh trại, vây chúng và nhảy múa 7 ngày 7 đêm chung quanh rồi giết được. Đó là những câu chuyện có ý nghĩa bóng gió đến quá trình thống nhất của nhà nước Nhật Bản. Tuy nhiên cũng có truyện phi chính trị, chỉ mang màu sắc lãng mạn như truyện hai người nam nữ trẻ tuổi yêu nhau trong một đêm hội hát ghẹo utagaki, ra bãi Unai tình tự, mắc cỡ sợ có người thấy, đến sáng ra biến thành hai cây tùng. Truyện nầy được ghi lại trong Fudoki xứ Hitachi. Có cả truyện cô vợ cả hay ghen với cô vợ hai, giải thích điềm chiêm bao để hù dọa chồng khỏi đến thăm bà bé nữa hay truyện một nàng tiên xuống chơi trần thế, đi tắm bị dấu mất quần áo phải ở lại trần gian làm con nuôi ông bà lão, nấu rượu tiên để làm giàu cho họ. Fudoki vùng Tango còn để lại dấu tích truyện chàng đánh cá Urashima Tarô[25] (Phố Đảo Thái Lang) trở về từ Long Cung.Tuy nhiên ở đây ta đã thấy ảnh hưởng màu sắc Đạo Giáo về sự hiện hữu của một cõi thần tiên dưới nước, có thể đã du nhập từ Trung Quốc (Đào Hoa Nguyên Ký của Đào Tiềm đời Tấn) Không rõ là các địa phương đã chấp hành mệnh lệnh biên soạn nghiêm chỉnh tới mức nào. Fudoki vùng Izumo (tỉnh Shimane bây giờ), soạn năm 733 còn được giữ lại nguyên vẹn trong khi Fudoki của các vùng khác hầu hết đã thất lạc, ngoại trừ tư liệu của 5 vùng là Hitachi (tỉnh Ibaraki, khoảng 718), Harima (tỉnh Hyogo, khoảng 723), Bungo (tỉnh Oita, khoảng 733) và Hizen (tỉnh Saga, khoảng 733). Cách viết Fudoki như Hitachi fudoki (Ghi chép phong thổ đất Hitachi), cũng như các tác phẩm trước đó, cơ bản là theo lối văn cắt khúc từng bốn chữ một và theo cách tu từ đẹp đẽ của thể tứ lục biền ngẫu (các câu bốn và sáu chữ đối nhau, theo đúng luật bằng trắc, như những cặp ngựa sóng đôi). Tuy nhiên những đoạn giải thích về địa danh thì không thể sử dụng viết Hán văn một cách đơn thuần nên người viết Fudoki lại dùng “Hán văn biến thể” nghĩa là tiếng Nhật (Hòa ngữ) thể hiện bằng văn tự của người Hán. Cách viết hỗn hợp nầy sẽ là nguồn gốc của hai loại văn học khác nhau: Hán văn (như thi tập Kaifuusô) và Hòa ngữ (thi tập Man.yô-shuu). G) Truyền thuyết của các thị tộc và truyện khuyến giáo: Trong khi chế độ pháp luật (ritsu) và lệnh hành chính (ryô) của nhà nước (luật lệnh = ritsuryô) dần dần được củng cố, các thổ hào địa phương cũng thu thập những truyền thuyết đặc sắc truyền từ thời xa xưa của tập đoàn mình. Hãy còn dấu tích một tư liệu thuộc loại kể trên vào cuối đời Nara là Takahashi Ujibumi (Cao-Kiều-thị văn, 789) tức là tờ sớ (nay đã thất lạc) của dòng họ Takahashi tâu lên triều đình việc tranh tụng quyền tế lễ với họ Azumi (An Đàm). Đầu đời Hei-an lại có Kogo Juu-I (Cổ Ngữ Thập Di (807) tương truyền do Imbe-no-Hironari (Trai Bộ, Quảng Thành) viết để giải thích lai lịch dòng họ mình khi những người này tranh chấp quyền coi cúng tế trong triều đình với họ Nakatomi (Trung Thần). Cả hai đều là bút tích của các thị tộc đề cao uy tín của dòng họ mình, xưng tụng công trạng tổ tiên. Đó cũng là một loại tư liệu sử học và văn học có giá trị. Ngoài những sử liệu của các thị tộc còn có những truyện thuyết giáo (thuyết thoại, setsuwa) của nhà Phật là loại văn học mới bắt đầu có trên đất Nhật từ khi Phật Giáo truyền đến. Quan trọng nhất là Nihon Ryôi Ki (Nhật Bản linh dị ký), còn gọi là Nihonkoku Genpô Zen-aku Ryôi Ki (Nhật Bản Quốc hiện báo thiện ác linh dị ký ). Sách này vốn do tăng Kyôkai, còn đọc là Keikai (Cảnh Giới), chùa Dược Sư biên tập xong khoảng năm Kônin (Hoằng Nhân, 810-814) nên có nhiều truyện liên quan đến thời Nara (710-794) ngay trước đó. Chủ yếu tập sách nầy chứng minh thuyết nhân quả ứng báo và nhằm bố giáo rộng rãi trong dân chúng nên miêu tả rất sống động sinh hoạt của người đương thời, mở đường cho loại văn thuyết thoại thế tục (giai thoại có tính răn đời nói chung) thời Hei-an về sau. H) Tính văn học của Ký Kỷ: Việc biên tập Kojiki và Nihon Shoki (gọi chung là Ký Kỷ) (và ngay cả Fudoki) hàm chứa mục đích củng cố sự tập trung quyền hành của hoàng tộc xuất thân từ tập đoàn Nam Kyuushuu làm cho hai tác phẩm Nhật Bản nói trên không được xem như là “bài thơ tự sự của một dân tộc” như cách nói khi người ta bàn về giá trị của thần thoại. Dầu sao, không phải mọi chi tiết trong đó đều do chính quyền tự ý dựng đứng lên. Ienaga Saburô trong Nihon Bunkashi (Nhật Bản Văn Hóa Sử, Lê Ngọc Thảo dịch)[26] đã tìm thấy những chi tiết tượng trưng cho văn hóa xa xưa của dân tộc Nhật. Truyện hai thần Izanaki và Izanami sinh ra đất đai giống với thần thoại ở các đảo Indonesia (giữa Kalimantan và Celebes) và truyền thuyết của người Maori ở Nam Thái Bình Dương. Truyện hai anh em Hikohohodemi (tức Umisachi và Yamasachi, con trai Ninigi ) của Nhật tranh chấp nhau một cái lưỡi câu cũng giống thần thoại ở Celebes. Cũng đồng quan điểm ấy, trong Nihon Bungakushi Josetsu (Nhật Bản Văn Học Sử Tự Thuyết, quyển 1, trang 46), giáo sư Katô Shuuichi cho rằng thần thoại Nhật Bản không có gì có thể gọi là đặc biệt của người Nhật. Nó chỉ là những mảnh vụn kết hợp 2 nguồn: phương Nam của các đảo Thái Bình Dương (như truyện hai anh em Hikohohodemi vừa kể) và nguồn phương Bắc của vùng Bắc Á. Ví dụ truyện Ninigi no Mikoto, cháu nữ thần mặt trời, giáng lâm trên đỉnh núi Takachiho-no-mine giống sự tích Đàn Hùng (Hwanung, có sách phiên âm là Hằng Hùng) xuống trần từ ngọn Thái Bá Sơn (còn gọi là Paektu hay Bạch Đầu) của Triều Tiên. Đó là chưa kể sự tích “nữ thần mặt trời”giống như Amaterasu được phân bố trong nhiều khu vực ngoài lãnh thổ Nhật Bản. Các chi tiết về bùa phép, đồng cốt và tang lễ chép trong Kojiki cũng được thấy trong thư tịch Trung Quốc Ngụy chí, Nụy nhân truyện. Những bài ca dao chép trong sách nói trên đã nói đến đời sống săn bắn của người dân vùng Yamato, chứa đầy sinh khí của sinh hoạt quần chúng thời nguyên thủy. Kojiki, tác phẩm viết vừa bằng Hán văn lẫn văn Nhật nên thật thà hơn Nihon shoki. Truyện Yamato Takeru no Mikoto oán hận vua cha bắt mình đi chinh chiến lao đao đã cho ta thấy con người nguyên thủy hãy còn đứng ngoài vòng chi phối của tư tưởng trung hiếu nhà Nho. Người cổ đại vì gần gũi với thiên nhiên nên hoang dã, chưa bị những cấm kỵ của lễ nghi. Đoạn nói về “đề nghị” tạo thiên lập địa của thần nam Izanagi với thần nữ Izanami đ ược viết như sau: Thân thể ta đã xong đâu vào đấy nhưng, có một chỗ thừa ra. Vì thế, ta muốn lấy chỗ thừa đó lấp kín vào chỗ không khép lại được của ngươi, để sinh ra đất đai. Ngươi thấy thế nào? (trích Kojiki) Truyện giao cấu như thế và truyện nữ thần Ame no uzume đã chưng vú và lộ âm hộ để nhảy múa trước hang đá trên trời để dụ nữ thần thái dương Amaterasu đang giận dỗi (vì thằng em thô lỗ) và núp trong đó phải chui ra, cho ta thấy tính cách phóng túng trong tình dục của con người cổ đại. Hơn nữa, truyện sau nầy (có nhảy múa) còn chứng minh ảnh hưởng tính cách đồng cốt (shamanism) của văn hóa Bắc Á (Tây Bá Lợi Á, Mông Cổ, Triều Tiên) đối với thần thoại Nhật Bản (và có thể là một hình thức sân khấu thời nguyên thủy). Ký Kỷ (tên tắt gọi chung Kojiki và Nihon Shoki) có thể nói là nơi hội tụ hai dòng văn học: một dòng dân gian bắt đầu từ thời Yayoi (niên đại để chỉ thời gian từ 300 trước CN) đến thế kỷ thứ bảy và một dòng trí thức chịu ảnh hưởng bên ngoài thành hình giữa thế kỷ thứ 7 và thứ 8. Tính dân gian thấy trong Ký Kỷ là lối văn viết như nói chuyện, có lúc lạc đề, có những truyện thêm thắt vào nửa chừng làm mất đi sự cân đối của quyển sách. Đây không thể nói là kiểu viết đến từ đại lục vì ở Trung Quốc đã có sự tôn trọng qui củ, trật tự. Điều này chứng tỏ tuy Ký Kỷ là do tầng lớp cai trị dùng để chính thống hóa triều đại mình vẫn không xóa được dấu vết của truyền thống văn học dân gian tiềm ẩn trong đó. Ký Kỷ tuy có ghi những chuyện với dụng ý chính trị như việc thiên hoàng Nintoku lên nơi cao thấy khói nhà dân thưa thớt, thương trăm họ đói nghèo nên tha thuế và sưu dịch trong ba năm nhưng cũng nói về bà hoàng hậu tính nết ghen tuông của ông đã bỏ cung điện lên núi ở. Nó còn ghi việc vị “thánh đế” kia giả vờ đi tuần du để đến đất Kibi thăm một người đàn bà khác hay việc Nintoku có lần sai người em trai là Hayabusawake đi đón nàng Medori (em của hoàng hậu) về làm thiếp mình nhưng sứ giả và cô gái lại yêu nhau nên thiên hoàng tức giận cho bộ hạ đuổi theo giết họ (sau khi gán cho cậu em tình địch tội mưu phản). Sự “mâu thuẫn” ấy đã làm mất đi tính cách thiêng liêng của vị “thánh đế” Nintoku và làm buồn lòng các nhà giải thích lịch sử theo đường hướng ái quốc cực đoan. Ngược lại, nó cho ta thấy đế vương thời cổ cũng có những tình cảm rất con người như ta thôi. Ký Kỷ đã “đặt” những bài ca dao vốn bắt nguồn từ nông dân vào cửa miệng một số anh hùng trong truyền thuyết nhưng người ta vẫn thấy rõ tính dân gian trong đó vì những bài nầy không đề cập đến những gì cao xa trừu tượng, ca ngợi thành công đại nghiệp gì cả mà chỉ nói tới những tình cảm đơn sơ đời thường như yêu đương, nhớ gia đình, nhớ quê hương. G) Vai trò Triều Tiên Cổ Đại đối với Nhật Bản trong thần thoại: Quốc gia gần nhất trên phương diện địa lý đối với Nhật Bản là Triều Tiên. Thời cổ, nước Triều Tiên chỉ là một nhóm các tiểu quốc nhưng đã có ảnh hưởng rất lớn lên trên lịch sử Nhật Bản. Khoảng thế kỷ thứ 4 và thứ 5 tức tiền bán thời đại Kofun (Cổ Phần, 300-700) “Mộ Cũ”, đã có rất nhiều hình thức văn hóa từ đại lục đến Nhật Bản, lúc đó hãy còn giới hạn trong vùng triều đình Yamato cai quản.Vào thế kỷ thứ 4, tình hình bán đảo Triều Tiên mất an ninh nên người ở đó đã chạy qua tị nạn ở Nhật và mang theo nhiều kỹ thuật. Các tay hào tộc Yamato đã tích cực thâu nhận họ.Ví dụ ngày nay ở vùng Kyôto còn có dòng họ Hata-uji (Tần thị) mà tổ tiên là một người có tên là Yuzuki no Kimi (Cung Nguyệt Quân) đã đem nghề nuôi tằm truyền vào đất Nhật từ đời thiên hoàng (thứ 15) Ôjin (Ứng Thần, niên đại không rõ). Các người di trú (toraijin = độ lai nhân) này đã đem nghề nông, nghề rèn, nghề xây cất…và qui tụ thành những nhóm cùng nghề (shinabe = phẩm bộ). Người chuyên dệt cữi thì vào hataoribe (cơ chức bộ), người làm gấm vóc vào nishigoribe (cẩm chức bộ), người làm đồ gốm thuộc về suetsukuribe (đào tác bộ), người biết ghi chép văn thư thì thuộc về fuhitobe (sử bộ). Ta đã biết người Nhật không có văn tự riêng, phải dùng chữ Hán truyền từ đại lục để ghi chép lời nói. Chỉ mãi về sau họ mới bắt đầu có văn tự biểu âm riêng nhưng những ký hiệu ấy cũng thoát thai từ chữ Hán.Tương truyền giữa thế kỷ thứ 4, thứ 5, quan bác sĩ người Kudara (Bách Tế, một trong ba nước Hàn)[27] tên Wani (âm Hán là Vương Nhân) đã đến Nhật di trú và đem theo bộ sách Nho Giáo Luận Ngữ (Rongo) và tập thơ 250 câu 4 chữ tức Thiên Tự Văn (Senjimon)[28]. Di tích tối cổ của văn tự thời ấy nay còn ghi lại 6 chữ Hán khắc 5 âm Wakatakeru, tục truyền là tên thiên hoàng (thứ 21) Yuuryaku (Hùng Lược, giữa thế kỷ thứ 5, niên đại không rõ) trên một thanh kiếm gọi là Shichishitô (Thất chi đao) hay cây kiếm bảy nhánh, tương truyền do vua nước Kudara và thế tử của họ làm ra để tặng “vua nước Yamato” vào năm 369. Nay thanh kiếm ấy còn được gìn giữ ở đền Ishinokami Jinguu (Thạch Thượng thần cung) ở Nara. Đến thế kỷ thứ 6, thứ 7 thì văn hóa phẩm đã thêm nhiều. Năm 513, ngũ kinh bác sĩ cũng gốc Kudara tên Dan-yôni (âm Hán là Đoàn Dương Nhỉ) tinh thông kinh điển (Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu) đến Nhật và truyền bá đạo Nho. Năm 554, các bác sĩ thông hiểu Dịch học, Lịch học, Y học cũng lần hồi đến Nhật. Ngoài ra, người nước Kôkuri (Cao Cú Lệ) tên Donchô (Đàm Trưng) cũng đem mực, giấy, họa cụ đến Nhật truyền bá hội họa. Hai nhà nghiên cứu J. Carter Cowell và A. Cowell (bà J. Carter Cowell xuất thân đại học Columbia, tiến sĩ sử học, từng sống lâu năm ở Nhật và Đại Hàn) còn đi xa hơn khi đưa ra thuyết rằng một số thiên hoàng trong thần thoại Nhật Bản chính là người Triều Tiên. Theo hai ông bà, thiên hoàng thứ 14 Chuuai (Trọng Ai) và hoàng hậu Jinguu (Thần Công) chỉ là cặp vợ chồng mà chồng là vua nước Tân La (Shilla) đóng đô ở Taegu (Đại Khâu) thuộc đông nam Hàn Quốc bây giờ và vợ là một cô công chúa Phù Dư (Puyo), quốc gia có thời toàn thịnh giữa thế kỷ thứ 1 và thứ 3, lưu lạc từ miền Bắc (Nam Mãn Châu) xuống Bách Tế (Kudara), một quốc gia ở vùng sông Cẩm Giang. Hai người nầy đã dẫn một đoàn kỵ binh thiện chiến lên thuyền qua xâm chiếm đất Yamato của Nhật Bản. Con của hoàng hậu Thần Công sẽ là thiên hoàng thứ 15 Ứng Thần (Ôjin) thấy trong Kojiki, chỉ là người mở đầu triều đại của dân tộc kỵ mã (horseriders) gốc Triều Tiên trên đất Nhật. Kojiki của Nhật Bản đã giải thích ngược lại, cho rằng Chuai và Jingu là người Nhật đã dẫn binh đi đánh Tân La nhưng luận cứ của Kojiki và sử gia Nhật Bản dưới mắt J. Carter Cowell và A.Cowell đã có nhiều điểm mâu thuẫn như hành trình ngược đời của cuộc hành binh lại đi từ bắc xuống nam thay vì từ nam lên bắc, ngoài ra các di vật phát quật từ các cổ mộ cho thấy ảnh hưởng của văn hóa Triều Tiên rất sâu rộng vì những vật dụng tùy táng và các bức bích họa trong các lăng mộ thiên hoàng Nhật Bản thời đó đều mang sắc thái đặc biệt của văn hóa dân tộc kỵ mã. đến từ bán đảo. Báo chí còn cho biết một số cổ mộ quan trọng trong số 900 ngôi đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ như lăng hai Thiên Hòang Ôjin và Nintoku vẫn còn bị người Nhật cấm khai quật, vin cớ động mồ động mả tổ tiên của thiên hoàng tại vị, nhưng có lập luận cho rằng chính phủ Nhật hãy còn muốn tránh cho dân chúng thấy dấu vết quá sâu đậm của văn hóa Triều Tiên trên nước họ. Cũng theo hai sử gia người Mỹ nói trên, người vợ hay ghen của Thiên Hòang Nintoku trên thực tế là một cô công chúa, có tên là Iwa no Hime (Công Chúa Đá) đến từ Nam Triều Tiên,và ai cũng biết đá là vật tổ của bộ lạc Phù Dư, đã chạy từ bắc xuống Nam sau những cuộc đụng độ với dân Cao Cú Lệ (sau đó, nước Phù Dư miền bắc mất năm 494 về tay Cao Cú Lệ). Ngoài ra, thế lực Izumo ở vùng tỉnh Shimane, được nói đến trong Kojiki, đã phải nhường nước cho thế lực Kyuushuu có phải chăng là con cháu của hai hoàng tử con vợ trước của Chuai (Trọng Ai), vua nước Tân La (theo ông bà Carter Cowell, là thiên hoàng thứ 14 của Nhật trong Kojiki) đã qua tận Nhật để tranh hùng với người vợ góa của cha mình là bà Jinguu? Trong tập Shinsen Shôji-roku (Tân tuyển tính thị tộc) làm ra thời Heian, trong số trên 1300 họ thì đã có đến 30% xuất thân từ nước ngoài.Ban đầu những người này sống gần Kyôto-Ôsaka bây giờ nhưng sau tản ra cả nước. Địa danh mang âm sắc Triều Tiên như Kôrai (Cao Lệ) Shiragi (Tân La), Koma (Cao Lệ) hãy còn thấy ở vùng gần Tôkyô. Như thế, ta đã thấy, thời thượng cổ, ảnh hưởng của đại lục đến Nhật Bản qua ngã Triều tiên rất quan trọng. Văn hóa và văn học đại lục dù là Trung Quốc, Ấn Độ hay Ba Tư, do điều kiện địa lý, trao đổi thương mại và liên minh quân sự, hầu như được truyền đến bằng con đường gián tiếp nầy. TIẾT III
TIẾT III: VĂN HỌC VÀ TẾ LỄ : Người thời cổ chấp nhận sức mạnh thần bí của thiên nhiên, nên qua hành động cúng tế, họ muốn ổn định vị trí của mình trong cái vô trật tự của thiên nhiên. Họ muốn trấn áp cái vô trật tự hoang dại đó bằng những nghi thức của tế lễ. Họ tin rằng những câu thần chú đọc trong cái buổi lễ như các chú ngôn (jugon), chú từ (jushi) sẽ tác động được lên hành vi của thần linh vốn tượng trưng bằng sức mạnh của thiên nhiên. Những câu thần chú có sức mạnh đặc biệt, khác với ngôn ngữ hằng ngày, những lời nói ra sẽ cứ như thế mà được thực hiện. Lời hay, đẹp (chú = chúc mừng) thì mang đến điều lành, lời ác, xấu (chú = trù ẻo, nguyền rủa) thì mang đến điều gỡ. Chữ “koto” vừa được hiểu là lời nói (ngôn) lại vừa được hiểu là sự việc (sự) do đó tín ngưỡng coi lời nói có hàm chứa một một sức mạnh thiêng liêng được gọi là “tín ngưỡng ngôn linh” (kotobadama). Ngôn ngữ vừa là công cụ để con người kêu gọi, xin xỏ thần linh và cũng là hình thức thần linh mượn lại để bày tỏ ý kiến của mình cho con người. A) Cầu chúc (Chúc Từ, Norito): Khi các cộng đồng thể đã hợp nhất thành quốc gia thì việc tế lễ trở thành phận sự và trên qui mô của nhà nước. Nội dung của tế lễ và lời cầu nguyện là mong sao cho hoàng gia được trường cửu và nước nhà được bình yên, Những lời chú ấy (jugon và jushi) càng ngày càng được trau chuốt, văn nhã và kéo dài ra thành từ chương.Chúc từ (norito) lại được ghép thêm vần điệu (vận luật = inritsu), đối chọi cân xứng (đối cú = tsuiku) và lập đi lập lại để gây ra ấn tượng trang trọng. Về nội dung, nó có thể là lời khấn khứa cho mùa màng tốt đẹp, giải vận hạn hay chúc thọ vua chúa. Những lời cầu chúc ấy ngày nay còn được ghi lại trong hai tập sách là Engi.shiki (Diên Hỉ thức, 27 biên) và Taiki (Đài Ký, 1 biên). Engi.shiki là một tập ghi chép tỉ mỉ việc áp dụng phép tắc do thiên hoàng Daigo (Đề Hồ, trị vì 897-930) ra lệnh cho bọn thần hạ là Fujiwara no Tokihira (Đằng Nguyên, Thì Bình) và Tadahira (Trung Bình) làm. Gồm 50 quyển, soạn xong năm 927. Chúc từ, phần nhiều làm khoảng thời Nara, được ghi chép từ quyển 27 về sau. Còn Taiki là nhật ký của đại thần Fujiwara no Yorinaga (Đằng Nguyên, Lại Trường) trong khoảng 1136-55, nói về nghi thức trong cung và có ghi lại một thiên chúc thọ (yogoto) của họ Nakatomi, một gia đình đời đời giữ việc cúng tế, soạn ra. B) Tuyên cáo (Tuyên Mệnh Thư, Senmyôsho): Mặt khác, ta lại thấy chúc từ còn mang những hình thức hành chánh thực dụng bằng tản văn như loại tuyên cáo (senmyô, tuyên mệnh), tấu sớ (sôjôtai, tấu thượng thể).Tuyên mệnh có nghĩa truyền đạt ý chí (mikoto, mệnh) của nhà vua nhưng đến đời Hei-an thì những truyền đạt đó nếu viết bằng chữ Hán thì được gọi là chiếu sắc, nếu viết bằng văn Nhật được gọi là tuyên mệnh. Mỗi lần có dịp tức vị, đổi niên hiệu, bình định giặc giã, lập hoàng hậu, lập thái tử thì cần tuyên mệnh nên tuyên mệnh thư hay senmyôsho tức là văn bản bày tỏ ý chí của người cầm quyền. Do đó, về hình thức, nó cũng trang trọng không kém chúc từ.Hiện nay, những tuyên mệnh thư cổ nhất còn được thu thập lại trong Shoku Nihon shoki (Tục Nhật Bản thư kỷ) gồm có 62 biên và liên quan đến đời thiên hoàng (thứ 42) Mommu (Văn Vũ , trị vì 697-707) trở về sau mà thôi. TIẾT IV: CỔ TÍCH : Trong truyền thống văn học cổ đại, ngoài thần thoại, ca dao còn có truyện cổ. Cổ tích hay truyện cổ dân gian dùng để gọi những câu truyện có nguồn gốc từ thời xa xưa, lưu truyền trong dân. Người ta không rõ niên đại của nó và nó thường được truyền miệng trong một khoảng thời gian dài (cho đến khi các nhà sưu tập thêm bớt những yếu tố của thời đại họ để viết ra một cách hoàn chỉnh). Truyện cổ dân gian nhiều khi được xem như truyện nhi đồng mà đối tượng dĩ nhiên là trẻ con. Giống như một con người, một dân tộc cũng có thời trẻ con của nó, cho nên nội dung của các truyện cổ dân gian thường là đơn sơ chất phác mà mục đích có thể là để giải thích một hiện tượng thiên nhiên, truyền lại lớp người sau một kinh nghiệm cuộc sống hay để mua vui. Nhân vật trong đó có thể là thần tiên, thế giới động vật hay thực vật chung quanh họ và đượm màu viễn mơ như trong một giấc mộng. Nó chưa có được cấu trúc hợp lý , tinh vi, có mục đích giải khuây thuần túy và chưa đượm màu sắc luân lý của các truyện giải buồn (otogi-banashi), truyện kể (monogatari) tức là một hình thức tiểu thuyết sơ khai hay truyện răn dạy (setsuwa) của đời sau. Những nhà khảo chứng đầu tiên của Nhật về cổ tích (mukashi.banashi) dưới dạng truyện nhi đồng (dôwa hay warabe no monogatari) có lẽ là hai người viết tiểu thuyết thời Edo : Santô Kyôden (Sơn Đông, Kinh Truyền, 1761-1816) và Kyokutei Bakin (Khúc Đình, Mã Cầm, 1767-1848). Takagi Toshio [29]cho biết Kyoden trong tác phẩm Kottoshuu (Cốt đổng tập) « Tập Truyện Cổ » đi tìm nguồn gốc của truyện « Khỉ và cua đánh nhau » (Saru kani gassen, truyện này giải thích tại sao bây giờ mặt khỉ lại đỏ và càng cua lại có lông). Theo ông, truyện khỉ và cua nầy đã thấy chép trong một tác phẩm tên « Truyện lạ dạy con » (Isei teikun, Dị chế đình huấn) đã có từ 500 trước (nghĩa là thế kỷ 13). Tác phẩm đó lại là vật sao chép các yếu tố đã được các ông già bà cả truyền miệng từ trước nữa. Nguồn gốc các truyện cổ khó minh định vì nó vừa bắt nguồn từ trí tuệ dân gian nhưng cũng có thể đến từ kinh Phật, từ Trung Quốc, Triều Tiên hay từ sử sách Nhật Bản nữa mà hình thức cố định có khi chỉ mới hoàn thành sau nầy (cuối thời Muromachi :1392-1573). Nhà viết tiểu thuyết Bakin thời Edo trong quyển thứ tư của « Ghi lại ngọc thô núi Yên Sơn » (Enseki zasshi, Yên thạch tạp chí) cũng đã cất công khảo chứng 7 truyện cổ dân gian nổi tiếng mà ông ví là những viên ngọc thô lấy ở núi Yên Sơn bên Trung Quốc, cần phải mài giũa để thấy giá trị đích thực của chúng. Đó là « Khỉ và cua đánh nhau » (Saru kani gassen), « Cậu bé anh hùng sinh từ quả đào » (Mono Tarô), « Chim se sẻ bị cắt lưỡi biết đền ơn» (Shitakiri-suzume), « Ông lão làm hoa nở » (Hanasakajiji), «Tài nghề của thỏ » (Usagi ôtegara), « Gan khỉ sống » (Saruno ikigimo), « Chàng Urashima Tarô » (Urashima-shi). Dù vậy, bước vào thời hiện đại, đã có nhiều học giả Nhật Bản đã ra công góp nhặt và phân tích truyện cổ. Người đầu tiên ở Nhật nghiên cứu truyện cổ một cách nghiêm túc có lẽ là nhà dân tộc học Yanagita Kunio (Liễu Điền, Quốc Nam, 1876-1962). Năm 1947, ông đã cho in Nihon mukashibanashi meii (Nhật Bản tích thoại danh vựng) “Thu góp truyện cổ dân gian Nhật Bản” nói về nguồn gốc, lịch sử và các thể loại truyện cổ. Ông xem truyện cổ như “đứa con rơi” của thần thoại, trước tiên bắt đầu với những truyện về người anh hùng (10 thể loại với 83 mô-típ), sau đó lại sinh sôi ra những thể loại phụ như truyện nhân duyên vợ chồng, truyện cỏ cây chim muông và truyện cười (5 thể loại với 153 mô-típ). Học trò của ông, Seki Seigo (Quan, Kính Ngô, 1899-1990), người chú trọng tính quốc tế của truyện cổ và chủ trương nghiên cứu đối chiếu, bởi vì con người cổ đại thường có nhũng thắc mắc chung như tìm hiểu con người đã được tạo dựng ra bằng cách nào, làm sao để có lửa, tại sao đất sinh ra hoa màu... Seki đã biên tập Nihon mukashibanashi shuusei (Nhật Bản tích thoại tập thành) “Tổng tập truyện cổ Nhật Bản” gồm 6 quyển (1950-58) qui tụ 8700 truyện. Sau đó Ineda Kôji (Đạo Điền, Hạo Nhị) và Ozawa Toshio (Tiểu Trạch, Tuấn Phu) đã góp lại truyện cổ Nhật Bản trong Nihon mukashibanashi tsuukan (Nhật Bản tích thoại thông quan) “Nhìn suốt truyện cổ Nhật Bản”, 29 quyển (1977-89), gồm sáu vạn truyện và biến thể của chúng, xem như tập tư liệu đầy đủ nhất từ trước tới nay. Trong phạm vi hạn hẹp của quyển sách này, chỉ xin kể vài truyện được xem như là phổ thông hơn cả, thường được đem vào sách giáo khoa để dạy cho trẻ em. -Truyện Issun Bôshi “Thằng Bé Một Tấc” : Có ông bà lão không con, khấn vái trời phật mới sinh được đứa bé trai tí hon, chỉ cao có một tấc ta (3,03 cm). Đặt tên là “Thằng Bé Một Tấc” và dốc lòng nuối dưỡng. Sau đó, cậu mang thanh gươm (thật ra là cây kim” lên kinh đô làm việc ở phủ công chúa. Một hôm, theo hầu công chúa vào cung, giữa đường bị quỉ xông ra tấn công và nuốt vào bụng. Cậu dùng cây kim chọc bụng quỉ. Quỉ đau quá, phải mửa cậu ra và tháo chạy. Cậu nhờ sức cây chùy vàng của quỉ bỏ lại, biến hình thành người vóc lớn và kết hôn với công chúa. Truyện thuộc mô-típ “trị quỉ” và “cầu hôn”. Đã được Shibukawa chép lại trong Otogizôshi “Truyện Giải Buồn” thời Edo. Tương tự Le Petit Poucet (Thằng Bé Tí Hon) của Pháp. -Truyện Urashima Tarô “Chàng Urashima Tarô” Chàng Tarô mua lại con rùa bị bọn trẻ chọc phá và phóng sinh xuống biển. Chẳng ngờ rùa là người nhà vua Thủy Cung nên chở chàng trên lưng xuống dưới đó chơi. Chàng được kết hôn với công chúa nhưng sau nhớ nhà xin về. Công chúa cho hộp ngọc làm kỷ niệm nhưng dặn đừng mở. Về đến nơi, Tarô thấy làng xóm nhà của đã đổi khác như đã đi xa từ lâu. Tò mò mở hộp thì một làn khói bốc lên và chàng biến thành một ông lão. Truyện này thuộc mô típ “Cứu súc vật được đền ơn”, cũng đã được người đời sau là Shibukawa sử dụng lại. Truyện Urashima Tarô dã được nhắc đến trong các tác phẩm cổ của Nhật như Nihon Shoki “Nhật Bản Thư Kỷ” và Man.yô-shuu “Vạn diệp tập”. Nó không khác mấy truyện Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai (Trung Quốc) hay Từ Thức gặp tiên (Việt Nam). - Tại sao đuôi khỉ lại ngắn và mặt khỉ lại đỏ: Ngày xửa ngày xưa đuôi khỉ vốn dài tới 33 hiro[30]. Ngày nay đuôi khỉ còn ngắn củn là bị gấu lừa. Số là một hôm khỉ đến thăm nhà gấu, vấn kế xem dùng cách nào để bắt được nhiều cá. Gấu mới mách là đêm nào lạnh như hôm nay, cứ ra chỗ có vực sâu, ngồi lên kè đá rồi thòng đuôi xuống nước thì khắc biết kết quả. Nhất định là đủ loại cá sẽ bu tới. Khỉ mừng quá làm theo y như vậy và ngồi đợi. Khi đêm đã quá khuya, đuôi khỉ bắt đầu thấy nặng vì băng đóng lại nhưng khỉ lại ngỡ là cá xúm lại bu. Thấy cá nhiều như thế đã đủ và vì trời lạnh khỉ vội về nên ra sức kéo đuôi lên nhưng không tài nào kéo nổi. Hoảng kinh, khỉ giật một cái thật mạnh thì đoạn từ đầu đến cuối cái đuôi bỗng đứt phựt. Khỉ thành ra cụt đuôi. Còn mặt khỉ đến bây giờ vẫn đỏ vì lúc đó dùng sức nhiều quá. -Truyện Sarukani Gassen “Khỉ và cua đánh nhau” Cua nhặt được nắm cơm, khỉ nhặt được hạt thị. Khỉ đề nghị đổi, cua chịu. Cua gieo hạt, cây thị mọc ra trái. Thấy thế, khỉ bèn hái, leo lên cây, quả chín thì xơi một mình, quả xanh lại vứt xuống nhằm cua. Cua chết nhưng cua con lại sinh ra từ xác cua. Sau đó các bạn của cua như hạt dẻ, ong, phân bò, cối ... rủ nhau đi phục thù cho cua. Khỉ về đến nhà thấy thế núp sau bếp nhưng bị ong chích, phân bò làm trượt chân, cối rơi trúng ngay đầu. Cua con cắt được đầu khỉ. Truyện thuộc mô-típ “kẻ giảo hoạt bị phục thù”. Tuy cách khai triển truyện này không thấy có ở các dân tộc khác nhưng truyện nói lên sự đối địch giữa các giống vật và đồ vật, đề cập đến đặc tính của chúng cũng được thấy ở Mông Cổ, Miến Điện, Trung Quốc, Triều Tiên và dân tộc thiểu số Ainu. -Truyện Shitakiri Suzume “Chim sẻ bị cắt lưỡi đền ơn” Ông bà già không con mới nuôi một con chim sẻ. Một hôm, sẻ lỡ dại anh cháo hồ của bà lão. Bà ta giận cắt lưỡi nó và đuổi đi. Ông lão đi làm về, nghe thế bèn chạy đi tìm nó. Ông chịu khổ nhục uống nước đái ngựa và bò để được bọn mục đồng chỉ đường đến chỗ ở của sẻ. Sẻ vui mừng tiếp ông già, lúc về tặng quà, bảo hãy lựa một trong hai cái giỏ. Ông lão chọn cái giỏ bé, khi về thấy trong đó toàn châu báu. Bà lão thèm thuồng, bắt chước ông già, đến thăm sẻ. Sẻ tiếp rước hờ hửng nhưng cũng cho quà. Bà ta chọn cái giỏ lớn nhưng về mở ra thì chỉ thấy toàn rắn rết. Truyện này thuộc mô típ “ông già bà già” hay “ông lão hàng xóm” để so sánh hai thái độ tốt và xấu và hai kết quả phù hợp với hai thái độ đó. Truyện đã được các nhà tiểu thuyết thời Edo dùng cho các sách bìa đỏ (Akahon) và còn ghi lại trong Enseki zasshi (Yên thạch tạp chí). Ở vùng Yô, một địa phương Miến Điện cũng có một truyện cổ giống như thế. -Truyện Hanasakajii “Ông lão làm hoa nở” Một ông già tốt bụng vớt con chó trôi sông và đem về nuôi. Chó dẫn đường ông đào được kho tàng. Ông già hàng xóm qua xin mượn con chó nhưng khi đi đào chẳng có gì. Lão ta bèn nổi giận giết con chó. Ông lão tốt bụng đem xác nó chôn và trồng một cái cây để làm dấu chỗ đó. Cây lớn lên to. Ông lão lấy cây chế ra cái cối giã bánh dày thì vàng bạc ra đầy. Lão hàng xóm mượn cối về giã thì chỉ có đồ ô uế hiện ra.. Hận quá, lão đốt cả cối. Ông lão tốt bụng lấy tro rãi ra cây khô đều ra hoa, được đức vua khen thưởng. Lão hàng xóm bắt chước nhưng tro lại bay vào mắt đức vua nên bị xử hình. Truyện này thuộc mô típ “tái sinh nhiều lần”, lấy chó làm nhân vật chính. Ở Triều Tiên, Okinawa cũng có truyện như thế nhưng vai chính lại là mèo. Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, Miến Điện có những biến thể nhưng với hai nhân vật là người anh bất hiếu và cậu em có hiếu, thuộc mô típ “anh em tranh giành”. Tấm Cám của Việt Nam và Cô Bé Lọ Lem của Âu Châu cũng cùng một hình thái. -Truyện Hoshi wo Otosu “Chọc Cho Sao Rớt” Cậu em muốn quơ sào để chọc cho sao trên trời rơi xuống. Ông anh thấy thế đề nghị: “Muốn kéo sao xuống dễ dàng, chú nên lên nóc nhà cho nó gần hơn!”. Truyện này thuộc loại truyện cười. Sách Seisuishô (Tỉnh thụy tiếu) “Thức cười ngủ cười” ra đời vào thế kỷ 17 có kể lại một biến thể nhưng nhân vật là chú tiểu và nhà sư. -Truyện Momo Tarô “Cậu Bé Sinh Từ Quả Đào”: Bà lão khi đi giặt đồ nhặt được quả đào trôi sông, cùng với ông lão bổ ra thì thấy bên trong có một chú bé con. Đặt tên là “Thằng Bé Quả Đào”. Cậu này lớn lên như thổi, xin được đến hòn Đảo Quỉ để hàng phục quỉ sứ. Bà lão sửa soạn bánh dày cho đem theo.Đến giữa đường, gặp ba con vật là chó, khỉ và chim trĩ, nhập bọn.Nhờ sự giúp sức của ba con vật, cậu bé diệt được quỉ dữ và đoạt được châu báu mang về, Truyện này là một trong năm truyện cổ nổi tiếng của Nhật. Có những biến thể như về nơi sinh (quả dưa thay vì quả đào). Nơi dân tộc thiểu số Pai ở Trung Quốc cũng có truyện như thế nhưng trong đó, một cô gái, mẹ cậu bé, ăn quả đào trôi sông, có mang và đẻ ra cậu. Enseki zasshi cũng có ghi lại truyện này và thời đại chiến thứ hai, nó được dùng để được dùng để phục vụ tuyên truyền. Nhìn chung, trong truyện cổ tích, tuy để mua vui nhưng cũng truyền đạt một thứ luân lý sơ khai, luân lý đời thường (common sense). Một vài mô-típ quen thuộc của nó (mô típ “mẹ ghẻ”, “biệt ly”, “thách rể”, “đền ơn”...) sẽ đan với nhau và trở thành nền tảng cho truyện kể (monogatari) , hình thức tiểu thuyết sơ khai đến sau. Sau đây là một chuyện liên quan đến mô típ luân lý đời thường (Con bồ câu có hiếu) và một chuyện mang chủ đề biệt ly (Bà vợ chồn). - Truyện con bồ câu có hiếu : Ngày xửa ngày xưa, bồ câu vốn tính không nghe lời. Không bao giờ chịu theo cha mẹ. Bảo lên núi thì nó lại xuống ruộng, bảo ra đồng thì nó lại lên nương làm rẫy. Cha mẹ lúc chết muốn được chôn ở trên núi nhưng biết nó không làm theo lời mình dặn bèn cố ý bảo ngược lại là muốn được chôn ngoài bãi sông. Sau đó họ chết. Thế nhưng bồ câu ta từ ngày cha mẹ mất đi lại hối hận đã không biết vâng lời. Lần này nó mới làm đúng lời cha mẹ mong mỏi nghĩa là đem đem họ an táng ngoài bãi sông. Thế nhưng chôn ở bờ sông thì khi nước lớn, mộ dễ bị trôi. Nó lo lắng không biết làm sao. Vì vậy mỗi lúc trời mưa to nó cứ rầu rĩ, thương cha nhớ mẹ khóc rưng rức.Nó nghĩ phải chi trước kia sớm nghe lời cha mẹ thì đâu ra nông nỗi này. (Truyện vùng Noto). - Truyện bà vợ chồn : Ngày xưa, ở vùng Mangyô thuộc xứ Noto có anh chàng Saburô-bê, một hôm ra ngoài đi tiêu về thì thấy trong nhà mình có hai bà vợ. Nhất định một trong hai bà phải là ma nhưng từ dung mạo cho đến cách ăn nói, kích thước, không có gì khác nhau cả. Đem nhiều việc ra hỏi để thử xem ai thật ai giả nhưng hai người đều trả lời vanh vách như nhau nên anh chàng không biết tính làm sao. Nhân một trong hai người có một điểm đáng ngờ nên Saburô-bê mới đuổi người đó đi và giữ lại người thứ hai. Từ đó gia đình không những làm ăn phát đạt mà còn sinh được hai con trai. Một trong hai cậu, lúc lớn lên, một hôm chơi trốn bắt trong nhà bất chợt khám phá ra cái đuôi của bà mẹ. Bị lộ hình tích, biết không còn sống chung được, người vợ bèn đi thú thật với chồng mình vốn là chồn rồi gạt lệ, bỏ hai con lại mà ra đi.Từ đó mỗi năm đến mùa lúa chín, người vợ chồn kia hay đứng bên ruộng của Saburô-bê, vừa đi vừa hát « Đè gié lúa xuống! ». Thành ra lúa nhà anh chàng lúc nào cũng ít hạt hơn nhà khác nên khi quan kiểm lúa đi xem xét đều tha cho anh khỏi phải nộp cống. Thế nhưng lúc đem lúa về nhà tuốt ra thì lúa nhà anh hạt lại nhiều hơn bất cứ lúa nhà nào. Nhờ đó, cuộc sống của gia đình anh càng ngày càng sung túc. (Truyện ở Noto Kashima). Nói chung, hiện nay ta chưa có thể, hay nói đúng hơn, chắc sẽ chẳng bao giờ chứng minh được cổ tích với hình thức chỉnh đốn mà ta biết bây giờ có thực sự là những câu chuyện truyền khẩu trong dân gian không và nó đã ra đời vào thời điểm nào và với hình thức nguyên thủy ra sao. TẠM KẾT
TẠM KẾT : Trong giai đoạn lịch sử văn học kế tiếp, thần thoại sẽ được nối tiếp bằng những tiểu thuyết dã sử như « Truyện Kiếp Vinh Hoa » (Eiga Mongatari) và « Đại Kính » (Ôkagami). Riêng cổ tích sẽ được phát triển, hệ thống hóa hơn để thành nền móng cho truyện kể, bắt đầu với « Truyện Ông Già Đốn Trúc » (Taketori Monogatari), còn ca dao sẽ khơi nguồn cho các ca tập như « Vạn diệp tập » (Man.yô-shuu) hay truyện thơ kiểu « Truyện Ise » ( Ise Monogartari). CHÚ GIẢI
1] Thời kỳ trước khi có đồ đất nung ra đời (Pre-ceramic Age), nghĩa là tương đương với thời đồ đá cũ (Paleolithic Age) và trước thời kỳ kết thừng (Jômon Period, khi người ta biết vẽ hoa văn hình dây thừng trên lọ gốm).
[2] Thời kỳ đánh dấu bằng đồ gốm trơn phần nhiều dùng đựng thức ăn và để nấu ăn, phát quật năm 1884 ở khu Yayoi (khu Hongô, trung tâm Tôkyô), khi kỹ thuật trồng lúa nước và đồ sắt từ đại lục đã truyền vào, trước thời đại cổ mộ (Kofun, Tumulus period). [3] Chú ( majinai) những câu chữ (có tính cách mê tín dị đoan) thường không có ý nghĩa, mượn sức mạnh thần bí để trừ tai ách. Được phân loại thành chú ngôn (jugon), chú từ (jushi) và chú văn (jumon). [4] Truyền miệng gọi là khẩu thừa (kôshô) hay khẩu tụng (cũng đọc là kôshô), giữa dân chúng với nhau hay qua một hạng người chuyên nghiệp là thành phần kataribe (ngữ bộ) chuyên môn ghi nhớ và truyền miệng cho người khác những gì học được. [5] Nếu văn chương truyền khẩu có thể bắt nguồn từ thế kỷ thứ 4,5 thì những tập văn xuôi đầu tiên chỉ ra mắt vào đầu thế kỷ thứ 8 và tuyển tập thơ đầu tiên xuất hiện nửa thế kỷ sau. [6] Asuka mệnh danh nền văn hóa mang tính chất Phật Giáo đầu tiên vùng đất phía nam Nara cạnh lưu vực sông Asukagawa, từ đời (nữ) thiên hoàng Suiko (Thôi Cổ, tại vị 592-628) và kéo dài một cách gián đoạn trên một trăm năm kể từ năm 594. [7]Thời đại nằm giữa thời Asuka và Tenpyô, kéo dài từ cuối thế kỷ thứ 7 sang đầu thế kỷ thứ 8. Đánh dấu bằng cuộc biến loạn năm Nhâm Thân (Jinshin no ran, 672) và sự xác định uy thế của ngôi vị thiên hoàng sau đó. Chịu ảnh hưởng phong cách thanh tân của văn hóa Sơ Đường. [8] Còn đọc là Tenhei, niên hiệu của Thiên hoàng (số 46) Shômu (Thánh Vũ, tại vị 724-749), thời kỳ bắt đầu từ cuối triều Nara (710) cho đến khi thiên đô về Hei-ankyô (794), Kyôto. [9] Nhân vật thuộc hoàng tộc (574-622), cháu của (nữ) Thiên hoàng Suiko (Thôi Cổ), học vấn uyên thâm, chính trị lỗi lạc, cha đẻ nhà nước Nhật Bản, đã giao lưu với Trung Quốc và chấn hưng Phật Giáo. Người được xem như khuôn mẫu cho chính trị gia mọi thời. [10] Ý nghĩa cuả từ thuyết thoại (setsuwa) đã đổi khác đi vào thời trung cổ trở đi và khi nói đến văn học thuyết thoại (setsuwa bungaku), có nghĩa là nói đến loại văn học vừa có tính cách tự sự, truyền kỳ, giáo huấn, ngụ ngôn và bình dân. Tính nghệ thuật của nó tuy không cao nhưng phản ánh được sinh hoạt tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội. [11] Khác với René Sieffert, Katô Shuuichi cho là Nara mô phỏng Trường An chứ không phải Lạc Dương. [12] Ônoyasu Maro (?-723), học rộng, thờ trải 3 đời Thiên hoàng (thứ 42,43,44) Monmu (Văn Vũ), Genmei (Nguyên Minh) và Nguyên Chính (Genshô), không những đã soạn Kojiki mà còn tham gia vào việc biên tu Nihon Shoki. Mộ chí của ông được tìm thấy năm 1979 ở xóm Konose thuộc thành phố Nara.. [13] Cuộc biến loạn năm Nhâm Thân 672 (Jinshin no Ran) do sự tranh giành ngôi thiên hoàng giữa chú là hoàng tử Ô-ama (Đại Hải Nhân hoàng tử , sau trở thành Thiên hoàng Tenmu tức Thiên Vũ) và cháu là hoàng tử Ô-tomo (Đại Hữu) , con trai Thiên hoàng Tenji (Thiên Trí). Lý do khá phức tạp, trong đó có cả mối hận tình của Ô-ama bị anh là Tenji lấy mất vợ. [14] Teiki (đế kỷ) tức gia phả các đời vua chúa. [15] Honji (bản từ) hay truyện xưa tích cũ, nghĩa là truyền thuyết, thần thoại liên quan từ hoàng gia,quí tộc đến thứ dân [16] Hieda no Are tương truyền là một cô đồng (miko), năm sinh năm chết không rõ, có trí nhớ tốt, giỏi thuộc lòng. Có thể là người có tài nhớ được nhiều bài tụng trong các cuộc tế lễ đời xưa. [17] Giống truyện Orpheus trong thần thoại Hy Lạp xuống cõi âm tìm vợ là Erydice. [18] Viết theo lối này sẽ làm chữ Hán mất hẳn ý nghĩa nguyên thủy của nó. Chỉ có người Nhật hiểu với nhau. Ví dụ “tonikaku” có nghĩa “dù sao” viết là “thố nhi giác” nhưng chẳng liên quan đến “thỏ” (thố) hay “sừng” (giác) gì cả. [19]Đọc theo âm hay Âm độc (Onyomi) giữ cả cách đọc lẫn ý của chữ Hán ví dụ Thu đọc là Shu. Huấn độc (Kun.yomi ) nghĩa là đọc chữ Hán theo lối Nhật (ví dụ cùng chữ Thu ấy đọc là Aki). [20]Thân Vương Toneri (Xá Nhân Thân Vương, 676-735), con trai Thiên hoàng (thứ 40) Tenmu (Thiên Vũ), thờ 4 triều các Thiên hoàng (thứ 42,43,44,45) Mommu (Văn Vũ), Genmei (Nguyên Minh), Genshô (Nguyên Chính), Shômu (Thánh Vũ). Ông học rộng, thông minh mẫn tiệp, là một nhà thơ có tên trong Man.yôshuu. Trong tiếng Nhật cổ, Toneri (Xá Nhân) dùng để chỉ những người thuộc lực lượng cận vệ, thường là con cháu quí tộc. [21] Biên niên là lối viết sử trình bày tất cả các chi tiết theo trật tự thời gian, khác với lối truyện ký có phân chia bản kỷ (đế vương), liệt truyện (nhân vật quan trọng) vv… [22]Rikkokushi (Lục Quốc Sử) sáu bộ sử chép bằng văn thể chữ Hán việc từ thời đại chư thần dựng nước đến thời Thiên hoàng (thứ 58) Kôkô (Quang Hiếu, trị vì 884-887), bắt đầu bằng quyển Nihon shoki ( viết năm 720) và kết thúc bằng Nihon sandai jitsuroku (Nhật Bản Tam Đại Thực Lục, 901) [23] Ishimoda Takashi (Thạch Mẫu, Điền Chính), dẫn bởi Kataao Shuuichi, quyển1, trang 41. [24] Năm địa phương để lại phong thổ ký là các xứ Hitachi (vùng Tokyo), Harima, Izumo (vùng Kyoto), Bungo và Hizen (vùng Kyuushuu). Trong số đó, chỉ có năm biên soạn của Izumo Fudoki (733) là được biết chinh xác. [25] Truyện Urashima Tarô tương đương với truyền thuyết Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai của Trung Quốc, ông tiều Rip Van Winkle của Mỹ hay Từ Thức gặp tiên của Việt Nam. [26] Ienaga Saburô, sđd, trang 18-28. [27] Bách Tế (Paeckhe, Kudara), tiểu quốc nằm ở phía tây bán đảo Triều Tiên, một trong ba nước Hàn. Cửa ngõ truyền văn hóa Nho Giáo và Phật Giáo vào đất Nhật. Đồng minh của triều đình Yamato trong cuộc đối kháng với hai nước láng giềng Cao Cú Lệ ( Kôkuri) và Tân La (Shiragi) . Bị liên quân Đường -Tân La diệt năm 660. [28] Nakazawa Nobuhiro, Nihon no Bunka (Văn hóa Nhật Bản), Natsume-sha, 2002, trang 34. [29] Takagi ,Toshio, Dôwa no kenkyuu (Nghiên Cứu Truyện Nhi Đồng), Kodansha, Gakujutsu Bunko, Tokyo, 1977. [30] Hiro (tầm), đơn vị đo lường được định nghĩa là 5 đến 6 shaku (xích), ước lượng một tầm dài từ 1, 515m đến 1,818m. Thường để đo chiều sâu dưới nước. Ở đây ý nói dài thật dài. |
|
#4
|
||||||||
|
||||||||
|
Chương 3 : Man.yô-shuu (Vạn Diệp Tập) Tìm hiểu cái đẹp của dòng thơ Waka trong tuyển tập thơ tối cổ Nhật Bản. Nguyễn Nam Trân Lời tôi ca trên đồng lúa Lời tôi ca nắng mai hồng Lời tôi ca cơn sóng nhỏ dòng sông… Lời tôi ca xanh đại dương Lời tôi ca những con đường… Lời ca mãi muôn đời Lời ca yêu mến người. La Hữu Vang (1970) ![]() I)
I) HAIKU VÀ WAKA: Ngày nay khi bàn về thi ca Nhật Bản, người ta hầu như chỉ nhắc đến haiku. Trên thế giới có bao nhiêu Haiku-ist, từ người già đến em bé. Dĩ nhiên đó là điều đáng mừng cho văn học Nhật Bản vì ảnh hưởng sâu rộng của loại thơ ngắn gọn, cô đọng mà học giả phái cấu trúc người Pháp Roland Barthes đã ví von với những “vết xước trên khung thời gian”. Đó là chưa kể việc có thêm một bài thơ thì bớt đi một viên đạn, điều rất quan trọng để giữ sự hòa bình an thái cho tinh cầu xanh của chúng ta. Thế nhưng sự toàn cầu hóa và đại chúng hóa haiku không làm ta quên rằng thi ca Nhật Bản không chỉ là haiku mà còn biết bao nhiêu hình thức khác, trong đó có waka, Hán thi và thơ mới. Cho đến thế kỷ 17 thì haiku chỉ là một sản phẩm phụ và “thấp hèn” của waka. Nếu không hiểu waka thì khó lòng thưởng thức haiku và thơ mới (shintaishi) một cách trọn vẹn. Bài viết nầy có mục đích thử lội ngược dòng văn học sử để tìm hiểu những nét đẹp của waka (Hòa ca), hình thức thi ca nguyên thủy Nhật Bản nghĩa là những bài thơ viết bằng kana, văn tự biểu âm của người Wa (Hòa, Nhật cổ). Waka ta biết bây giờ có hai nguồn cội: ca dao cổ đại và Hán thi nhưng xa xưa nhất là ca dao cổ đại. Jôdai kayô (ca dao thời cổ) phát xuất từ những bài hát (uta = ca) trong khi tế lễ để cảm tạ thần linh, trình bày lập đi lập lại theo một lề lối nhất định nào đó, kèm với múa và dụng cụ âm nhạc đơn sơ. Nó còn có tác dụng nâng cao năng suất lao động của tập đoàn.Như thế, uta của thời cổ đã bắt nguồn từ hai lý do trên. Phần văn vần (ca từ) của uta được gọi là kayô vậy. Để khỏi lầm lẫn với từ kayô mà người Nhật dùng ở những giai đoạn sau trong nghĩa rộng hơn nghĩa chữ “ca dao” của tiếng Việt, phần nầy chỉ xin được đóng khung trong lãnh vực jôdai kayô (thượng đại ca dao) hay ca dao cổ đại. Khi cộng đồng thể cổ đại trưởng thành thì qua kinh nghiệm những lần được trình bày các cuộc tế lễ, hội họp, nội dung của Ca cũng phong phú và hình thức trau chuốt hơn. Người thời cổ hay tụ họp vào mùa xuân hay mùa thu trên núi non, ngoài bãi biển, trong chợ, bên cầu để ca múa và ăn uống. Hình thức tụ họp này gọi là utagaki (ca viên) hay kagai. Xuân là lúc con người cầu xin thần linh cho mùa màng được trúng và thu là lúc cảm ơn đã đạt được thụ hoạch mong muốn.Utagaki cũng là cơ hội nam nữ gặp gỡ, tìm người yêu.Utagaki nổi tiếng nhất ở trên núi Tsukuba nơi nam nữ tụ họp hát ca đối đáp và có những trao đổi xác thịt với nhau trong khi tế lễ. Nhà nghiên cứu Katô Shuuichi gọi đó là những cuộc “loạn giao” (sexual orgy) nghĩa là ai muốn ngủ với ai cũng được. Hitachi Fuudôki (khoảng sau 713), tác phẩm có tính cách địa dư chí của vùng Hitachi, có chép 4 bài ca rõ ràng có liên quan tới utagaki và nhắc tới “cuộc chơi trên bãi biển” (hama - asobi). Trong đó có bài nói đến tâm sự anh con trai trách người con gái nghe lời và đi theo cậu trai khác không chịu ngủ với anh ta. Có bài viết về một anh nọ tiếc công đã đi đến núi Tsukuba mà phải ngủ một mình, chỉ mong sao trời sáng. Xin trích dịch một trong những bài đó: Gió ngoài khơi thổi nhẹ, Bãi Takahama. Cho anh “yêu” em nhé, Gọi em là « vợ » ta, Nghèo, xấu, anh nào sá! (bài Takahama no trong Hitachi Fudoki) Người gọi là « em » trong bài nầy không là một người con gái nhất định nào, chữ “vợ” (tsuma) cũng chưa hề có ý nghĩa trân trọng hay pháp lý như bây giờ và “muốn yêu” chỉ có thể hiểu theo ngôn ngữ đời xưa là muốn chung đụng xác thịt (học giả David Chibbett dịch là “make love”) với nhau. Cũng trong Kojiki, sự biểu hiện khoái cảm nhục thể trong liên quan nam nữ đã được thể hiện qua bài trường ca mà nàng Nunakaha-hime hát cho thần Yachihoko (Bát Thiên Mâu) tức thần Ôkuninishi như sau: Vòng tay người giây dâu, Ôm ngực trẻ tuyết mịn. Tay ngọc quàng tay ngọc, Thân thể quyện vào nhau, Chân người duỗi dài ra, Nằm xuống bên ta ngủ. (Bài Takuzuno shiroki tadamuki trong Kojiki) Lòng mong mỏi vào sự sinh thực của đất đai hoa màu và của con người (chỉ là giải tỏa nhu cầu thể xác và tôn giáo kiểu tập đoàn chứ chưa có thể gọi là luyến ái cá nhân), thu hoạch khi săn bắn và tình cảm sơ khai gắn bó với quê hương có lẽ là hai nguồn gốc chính của ca dao cổ đại Nhật Bản: Bắt đầu uta chỉ có tính cách dân dã, gắn liền với đời sống dân gian (dân dao) nhưng sau khi quốc gia thành hình thì nó đã được đem vào các nghi lễ của cung đình cho nên ta cũng có ca dao cung đình nữa. Những tác phẩm đó thường được gọi là ô-uta (đại ca) được hát kèm theo nhạc khí của cơ quan phụ trách nhạc cung đình tên là Gagakuryô Ô-utadokoro (Nhã Nhạc Liêu Đại Ca Sở). Ca dao thời cổ đã được ghi lại trong Kojiki (Cổ Sự Ký), Nihon shoki (Nhật Bản Thư Kỷ) , Fudoki (Phong Thổ Ký)[1] và Kinkafu (Cầm Ca Phổ). Ca dao cổ đại chép trong các sách ấy có khi gắn liền với những nhân vật tiếng tăm như những bài gọi là “bài ca nhớ nước” (kunishinobi no uta) hay “ngợi khen đất nước” (kunihome no uta) mà tác giả hoặc gán cho thiên hoàng trong thần thoại tên là Keikô (Cảnh Hành) trong khi đi tuần thú, hay cho người anh hùng Yamato no Takeru no Mikoto (con ông ta) tận lực dẹp giặc đến chết. Lúc lâm trọng bệnh trên đường viễn chinh, người anh hùng hướng về quê hương và ca ngợi : Yamato nhất nước, Đồng xanh nép núi cao. Chập chùng giăng mấy lớp, Yamato đẹp sao! (bài Yamato wa kuni no mahoroba trong Kojiki) Ca dao chép lại trong Kojiki và Nihon Shoki được gọi chung là Kiki kayô (Ký Kỷ ca dao). Kojiki có 110 bài, Nihon Shoki có chừng 130 bài, nếu bỏ những bài trùng lập thì ta có tất cả khoảng 190. Khác với dân dao vốn độc lập, Kiki kayô kết hợp với thần thoại và truyền thuyết hay có khi biến thành truyện kể nhưng nội dung vẫn thể hiện sự cúng tế, chiến đấu, luyến ái, yến ẩm, bi thương… tức là cảnh ngộ của cuộc sống con người cổ đại nên quá đó, ta biết được mọi hình thức sinh hoạt của họ. Theo nhà nghiên cứu Katô Shuuichi, ca dao cổ đại Nhật Bản có một số lượng lớn về thơ luyến ái, khác với Kinh Thi của Trung Quốc nhiều hàm ý chính trị, cũng như khác với cả nội dung dân ca Omorosôhi của quần đảo Okinawa, vốn cũng bắt nguồn khoảng thế kỷ thứ 5, thứ 6. Về hình thức, loại ca dao này sử dụng nhiều makura-kotoba (chẩm từ = chữ chính yếu) và jo-kotoba (tự từ = chữ giáo đầu), có vần điệu đẹp đẽ và đối qua đối lại. Makura-kotoba (makura là cái gối để gối đầu, ý nói gần gũi và trang trọng) là một câu chữ có hình ảnh đẹp để làm điểm tựa (tenkyo) hay hạt mầm (tane) dẫn nhập vào bài ca.[2] Đó là một hình thức tu sức có tính cách tỉ dụ giúp cho nội dung thô sơ theo sau sống động lên hơn khi khả năng liên tưởng kết hợp chúng với nhau. Trong loại Kiki kayô, có điểm lạ là nó đã bắt đầu bằng 6-8 rồi sau đó hình thức 6-8 đã được thay thế bằng 5-7. Thể loại không nhiều nhưng ta có thể nhắc đến kata-uta (phiến ca), sedô-ka (triền hay toàn đầu ca), tanka (đoản ca) và naga-uta (trường ca). -Kata-uta: 5-7-7, thể loại đơn sơ nhất. -Sedô-ka: 5-7-7 và 5-7-7. hình thức kết hợp hai kata-uta. Có tính đối đáp và tập đoàn. Thấy nhiều dưới dạng truyền khẩu. Vì “triền” hay “toàn” có nghĩa là “quay về” nên “triền đầu” phải chăng có nghĩa là trở lại lúc đầu? -Tanka: 5-7-5-7-7: hình thức tiêu biểu của waka (thơ Nhật) về sau. -Naga-uta: 5-7-5-7 –5-7…7, độ dài không ấn định. Trong số ca dao ghi chép tại, có thể kể đến văn bản tên gọi Bussoku sekika (Phật túc thạch ca) là 21 bài ca được khắc trên tấm bia đá ( ca bi = kahi) tên gọi Bussokuseki kahi [3](Phật túc thạch ca bi) ở chùa Dược Sư tại Nara, ca tụng công đức Phật.Những bài này làm theo lối tanka đặc biệt mỗi câu có bảy chữ. Hình thức này rất hiếm dù ở trong Kojiki hay Nihon shoki cũng vậy. Ngoài ra, giữa thời Heian, vào năm 981, trong tập nhạc dùng cho đàn Nhật (hòa cầm= wagon), tên gọi Kinkafu (Cầm ca phổ), có chép lại 21 bài ca dao viết bằng lối chữ man.yô-gana tức chữ kana viết trong Man.yô-shuu. Năm bài trong tập nầy trùng với ca dao thấy trong hai tập Ký Kỷ. II)
II) NHỮNG TẬP THƠ WAKA ĐẦU TIÊN: Như đã nói, khi quốc gia thành hình thì ca dao cũng thay đổi theo: một mặt do sự hưng thịnh của tầng lớp quí tộc và quan liêu, mặt khác tổ chức đời sống xã hội lấy đô thị làm trung tâm đã khiến cho ca dao mất dần tính cách tập đoàn và đượm màu sắc chủ thể cá biệt hơn. Ca dao dần dần được trau chuốt, mất tính cách tự do, bị ràng buộc trong những hình thức cố định như ngũ ngôn, thất ngôn…và được soạn theo những ca thể định hình với các tên gọi như chôka hay naga-uta ( trường ca), tanka (đoản ca), sedô–ka (triền đầu ca hay ca đối đáp). Đến khi hình thức ca vịnh có tính cách cá nhân được phát triển đến mức nào đó thì các ca tập của từng cá nhân đã được ra đời.Theo ghi chú thấy trong Man.yô-shuu (Vạn diệp tập) thì thời ấy có những ca tập (kashuu = xin hiểu là tập thơ) tên gọi Kokashuu (Cổ ca tập), Kakinomoto no Hitomaro Kashuu (Thị Bản Nhân, Ma Lữ[4] ca tập), Kasa no Kanamura Kashuu (Lạp Kim Thôn ca tập), Takahashi Mushimaro Kashuu (Cao Kiều Trùng Ma Lữ ca tập), Tanabenosaki Maro Kashuu (Điền Biên Phúc Ma Lữ ca tập), Ruijuu Kashuu (Loại tụ ca tập) nhưng hiện nay không thấy lưu truyền lại quyển nào cả. Riêng Man.yô-shuu là một tác phẩm lớn tập hợp thơ quốc ngữ Nhật (waka) vào giữa thế kỷ thứ 8, ra đời khoảng năm 758 nghĩa là độ chừng 46 năm sau Kojiki, 38 năm sau Nihon shoki nhưng chỉ có 7 năm sau tập thơ chữ Hán Kaifuusô (Hoài Phong Tảo). III)
III) MAN.YÔ-SHUU (VẠN DIỆP TẬP): Man.yô-shuu, tập thơ quốc ngữ tối cổ của Nhật Bản, gồm 20 quyển ghi chép chừng 4500 bài thơ, trong đó 4200 là tanka, 260 chôka và 60 sedôka. Tên của nó có nghĩa là “một vạn chiếc lá”[5], có thể hiểu xa hơn, “ thu thập thơ muôn đời”. Trong bài tựa bằng chữ kana của Kokin Waka-shuu (Cổ Kim Hoà Ca Tập) về sau, nhà thơ Ki no Tsurayuki đã nhắc lại việc biên soạn Man.yôshuu như sau: “Truyền thống của ca (uta) như thế là bắt đầu từ lâu lắm nhưng ca được phát triển rộng lớn nhất là thời kỳ các thiên hoàng ở Nara. Thời nầy có thi nhân đại tài tên là Kakinomoto no Hitomaro.Ông Maro, dòng dõi quí tộc cao cấp, làm quan chính tam phẩm, là bầy tôi hầu hạ thiên hoàng, đi đâu cũng có nhau. Trong khi tuần thú vùng Nara, thiên hoàng vịnh lá đỏ trôi trên sông Tatsuta như gấm thì Maro mượn chòm mây trắng để so sánh với hoa anh đào núi Yoshino. Sau đó, Yamabe no Akahito, người có tài thơ không kém Maro và các thi nhân ưu tú khác lần lượt xuất hiện. Thiên hoàng bèn cho thu thập tất cả thơ thời đó thành tập và gọi là Man.yô-shuu”. Tuy năm biên soạn và tên người biên soạn còn chưa được minh định hoàn toàn nhưng theo sự phỏng đoán, có lẽ đây là một công trình ròng rã nhiều năm, dựa trên từ những tác phẩm đi trước như Kokashuu (Cổ ca tập) của Kakinimoto no Hitomaro (Thị Bản, Nhân Ma Lữ). Nhân vật đóng góp ở giai đoạn cuối cùng được biết nhiều nhất có lẽ là Ôtomo no Yakamochi (Đại Bạn, Gia Trì). Man.yô-shuu không có tính thống nhất cho lắm nên được xem như trải qua một quá trình biên soạn lâu năm và do nhiều người. Bản hiện còn có lẽ là bản ra đời vào cuối thời Nara (710-784). Tuy không thống nhất nhưng nhìn toàn bộ, Man.yô-shuu xuất hiện dưới ba hình thức chính: sômon (tương văn) và banka (vãn ca) và zôka (tạp ca). Ngoài ra, có thể phân loại theo lối diễn tả: lối bày tỏ tâm tình trực tiếp, lối thác ngụ tâm tình trước một sự vật hay cảnh vật, lối tỉ dụ ví von bóng gió chứ không nói thẳng. Lại có thể phân loại theo bốn mùa, hay độ dài ngắn, có đối đáp hay không, hoặc theo thời điểm sáng tác… Sômon (tương văn) có nghĩa là hỏi thăm tin tức về nhau, phần lớn là thơ giữa người trong gia đình như cha mẹ, anh em và giữa nam nữ yêu đương, viết cho nhau. Còn về banka (vãn ca), nhân vì chữ “vãn” có ý là kéo (vãn) xe tang, nên đó là thơ thương tiếc, khóc lóc người chết. Cuối cùng, Zôka (tạp ca) là những bài thơ không gồm trong hai thể loại trên, chủ yếu liên quan đến du ngoạn, lữ hành, yến tiệc, phần lớn những sự việc ở nơi công cộng. Số tác giả có thơ được thu thập trong Man.yô-shuu rất đông đảo, trên từ thiên hoàng dưới đến người thường, đủ mọi từng lớp dân chúng của nhiều địa phương từ vùng Yamnato trung tâm cho đến miền đông xa xôi (Đông Quốc, nay thuộc vùng Tôkyô) hay đảo Kyuushuu (Cửu Châu) ở phía nam. Thời gian sáng tác kéo dài từ khoảng thế kỷ thứ 4 đến hậu bán thế kỷ thứ 8, ước chừng 450 năm.Tuy nhiên những bài thơ sáng tác trước thời thiên hoàng Jomei (Thư Minh, tức vị năm 629) thường chỉ được truyền tụng nên không có niên đại sáng tác rõ ràng. Trong đó phải kể đến những bài thơ mà người ta gán cho hoàng hậu của thiên hoàng (thứ 16) Nintoku (Nhân Đức, trị vì khoảng tiền bán thế kỷ thứ 5), của thiên hoàng (thứ 21) Yuuryaku (Hùng Lược, hậu bán thế kỷ thứ 5), Sotôri no ôkimi (Y Thông Vương) hay thái tử Shôtoku (Thánh Đức, đầu thế kỷ thứ 6). Ngoài ra, phần lớn tác phẩm của Man.yô-shuu được sáng tác trong một thời kỳ khoảng một thế kỷ rưỡi kể từ năm 629. Cho đến thời Nara, chữ quốc ngữ kana chưa phát triển nên người ta phải dùng chữ Hán, một văn tự biểu ý, như là một văn tự biểu âm để ghi chép âm Nhật. Cách dùng như thế đã được áp dụng từ thời viết Kojiki rồi nhưng nó đạt được mức độ thành thuộc với Man.yô-shuu nên cách ghi đó được mệnh danh là man.yô-gana (Vạn Diệp giả danh) nghĩa là chữ Kana dùng trong Man.yô-shuu.[6] Phong cách thơ trong tập này đã biến chuyển theo dòng thời gian dài và được chia làm 4 thời kỳ nhưng hai thời kỳ quan trọng hơn cả là thời thứ 2 và thứ 3. 1) Thời kỳ thứ nhất (629-672): Thời này tính từ thời thiên hoàng Jomei đến loạn năm Nhâm Thân hay Jinshin-no-ran, biến cố đã đưa thiên hoàng Tenmu lên ngôi. Đó là sơ kỳ của Vạn Diệp, lúc mà ảnh hưởng ca dao cổ đại hãy còn rơi rớt nhưng tình cảm cá nhân đã thể hiện mạnh mẽ. Thơ thời đó tuy thô sơ nhưng thanh tân, trong sáng, lưu loát, có vẻ đẹp đặc biệt mà đời sau không có. Hình thức của thơ bắt đầu được đóng khung trong khuôn khổ 5 chữ hay 7 chữ. Những bài thơ được ghi lại trong giai đoạn này thường do các tác giả xuất thân từ hoàng tộc. Nổi tiếng nhất có các thiên hoàng Yuuryaku (Hùng Lược), Jomei (Thư Minh), Tenji (Thiên Trí), Tenmu (Thiên Vũ) và thân vương (ở đây xin hiểu là công chúa) Nukata (Ngạch Điền). Jomei là thiên hoàng đời thứ 34, trị vì khoảng năm 629-641, cha của anh em Tenji và Tenmu. Ông có bài thơ như sau khi leo lên ngọn Kaguyama: Yamato núi bủa giăng, Dưới trời hỏi núi nào bằng Kagu. Leo lên đỉnh nhìn tuyệt mù, Khói lan đồng rộng, chim vù đảo xa. Đẹp sao là đất nước ta! (Bài Yamato ni wa, quyển 1, thơ thiên hoàng Jomei) Nukatano ôkimi (Ngạch Điền thân vương) là con gái của Kagamino ôkimi (Kính Vương), không rõ năm sinh năm mất. Bà trước đã là vợ của (thiên hoàng thứ 40) Tenmu (hồi còn là hoàng tử Ô.ama tức Đại Hải Nhân) và đã có con với ông này, sau bị nạp vào hậu cung của (thiên hoàng thứ 38) Tenji (lúc trẻ tên là hoàng tử Naka no Ôe no Ôji tức Trung Đại Huynh), anh của Tenmu. Việc bà lần lượt lấy hai chồng không có gì đáng làm lạ vì hôn nhân đương thời là do những cuộc dàn xếp có tính cách chính trị. Bà là nữ thi nhân waka quan trọng độc nhất lúc đó. Sau đây xin đơn cử vài bài thơ thời kỳ thứ nhất của Man.yô-shuu và dịch thoát ra tiếng Việt: Bến Nikita đợi trăng, Kìa vầng nguyệt tỏ triều dâng nước ròng. Nhanh tay chèo lái theo dòng! (Bài Nikitazu ni, quyển 1, thơ Nukata no Ôkimi)[7] Tương truyền bài thơ nầy vịnh cảnh nữ thiên hoàng (thứ 37) Saimei (Tề Minh, trị vì 655-661) lên đường đi đánh nước Tân La (Shiragi, thuộc Triều Tiên). Bà Nukata còn liên quan đến hai bài thơ tình nổi tiếng: Trên đồng hoa tí m [8] tìm ai, Chàng qua vườn cấm vẫy tay tỏ lòng. Người canh có thấy chàng không? (Bài Akanesasu, quyển 1, thơ Nukata no Ôkimi) Đẹp như hoa tím lung linh, Nếu giận ai đó gửi thân cho người. Cớ sao ta nhớ em hoài? (Bài Murasaki no, quyển 1, thơ Ô-ama no Miko) Tương truyền bài “Lang thang vườn cấm” và “Đẹp như hoa tím” là hai bài thơ tình của Ô.ama no miko (hoàng tử Đại Hải Nhân, sau là thiên hoàng Tenmu) trao đổi với người vợ cũ nay lấy chồng khác, Nukata no ôkimi (công chúa Ngạch Điền ), nói về tình quyến luyến với nhau. Chồng công chúa (tức thiên hoàng Tenji), vốn là nhà chính trị tài ba, lúc còn là hoàng tử đã diệt họ Soga và thực hiện cuộc cải cách hành chánh Taika, không phải là không biết chuyện, cũng có bài vịnh về mối tình tay ba nầy mà ông ví với mối tình của ba ngọn núi Đại Hòa Tam Sơn (Kaguyama, Mirunashiyama và Unebiyama): Kagu, Mirunashi, Tranh nhau cũng bởi yêu vì Unebi. Nay người tranh vợ khác gì ! (Bài Kaguyama wa, quyển 1, thơ Naka no ôe no ôji) Như thế thì thơ Man.yôshuu đã có tính cách cá nhân hơn thơ chung chung của Kojiki rồi. Các cuộc tranh chấp quyền lực cung đình đưa đến nhiều thảm cảnh. Năm 658, thiên hoàng Tenji đã khép hoàng tử Arima (Arima no Miko, Hữu Gian Hoàng Tử, 640-658, con trai thiên hoàng Kôtoku) vào tội mưu phản (dười thời nữ thiên hoàng Saimei, mẹ Tenji) và đem ra hành hình. Trong hai bài thơ bi ai chép lại ở Man.yô-shuu có một bài nội dung như sau: Bên ao Iwashiro, Nhánh tùng ai buộc, có chờ nhau chăng ? Ngày ta trở lại đây thăm. (Iwashiro no, Man.yôshuu, quyển 2, bài 54) Có thể một người bạn của hoàng tử Arima đã buộc hai nhánh tùng lại với nhau như một lời khấn nguyện vận may cho hoàng tử và đã gieo cho ông một niềm hy vọng. Nếu như hoàng tử không trở về để tháo nhánh tùng, có nghĩa là ông ra đi vĩnh viễn. Ông đã bị xử treo cổ lúc mới 18 tuổi. Cũng là một thảm kịch liên quan đến tranh chấp quyền lực chính trị đã đẻ ra bài thơ của Ôtsu no Ôji (hoàng tử Đại Tân, 663-686), một ông hoàng văn vũ toàn tài, con của Tenmu phải chết dưới tay người vợ góa nhiều tham vọng của cha mình tức nữ thiên hoàng Jitô (Trì Thống, 645-702), nguyên là con gái thứ hai của Tenji (và dĩ nhiên không phải mẹ của hoàng tử). Giai thoại cho rằng trước khi chưa bị khép vào tội chết, Ôtsu bí mật đến gặp bà chị, Ôku no hime (công chúa Đại Bá), một người miko hay trinh nữ phụng sự ở đền thần Ise (Y Thế thần cung). Hoàng tử còn để lại bài thơ với niềm hy vọng: Sau đây là bài thơ của hoàng tử viết trước khi giã biệt cõi đời: Hôm nay ao Iware, Chắc là lần cuối được nghe vịt trời. Mai mây che khuất ta rồi. (Momozutau, Man.yôshuu, quyển 3, bài 416) Hoàng tử Arima bị tử hình 50 năm sau khi chùa Hôryuuji (Pháp Long Tự) hoàn thành (607) và hoàng tử Ôtsuu chết năm 686 tức 2 năm sau chùa Yakujishi (Dược Sư Tự) được xây lên (684) thế nhưng thời ấy tư tưởng vô thường Phật giáo chưa đi vào thơ văn. Trong bài tuyệt mệnh nầy chỉ thấy lòng ao ước sống còn cũng như bài Hán thi ( bài Kim ô lâm tây xá [9]) tương truyền chính ông đọc trước giờ lâm hình, chép trong tập Hán thi Kaifuusô (Hoài Phong Tảo). Công chúa Ôku đã đoán trước cái chết đứa em ruột, có làm hai bài thơ nói lên tất cả lo âu. Sau khi hoàng tử chết và được chôn ở ngọn núi Futakamiyama, bà lại có thơ : Mai đây cho đến cuối đời, Futa phía núi mỗi ngày lặng trông. Nhớ em, chị xót trong lòng. (Bài Utsusomino, Man.yôshuu, quyển 2, thơ Ôku no Hime miko) 2) Thời kỳ thứ hai (672-710): Tương ứng với khoảng thời gian từ cuộc biến loạn năm Nhâm Thân đến khi chính quyền thiên đô về Heijô-kyô (Bình Thành kinh) kéo dài cỡ 40 năm. Đó là thời kỳ toàn thịnh của cuộc sống cung đình đóng đô ở Fujiwara-kyô (Đằng Nguyên kinh) dưới thời trị vì của các thiên hoàng (thứ 41) Jitô (Trì Thống, trị vì 686-697) và (thứ 42) Mommu (Văn Vũ, trị vì 697-707), khi mà chế độ pháp luật bắt đầu từ cuộc cải cách hành chánh năm Taika (Đại Hóa Cải Tân, 645) được củng cố và phát triển (qua Taihô Ritsuryô tức bộ luật Đại Bảo, 701). Cuộc sống phồn vinh và an định của cung đình đã làm thi ca phát triển mạnh, waka (hòa ca, thơ quốc âm) càng thêm tinh xảo với việc ấn định những qui tắc tu từ (đã nói ở trên) như makura-kotoba (chẩm từ), jo-kotoba (tự từ), tsuiku (đối cú) và việc phân biệt thơ dài chôka (trường ca) với thơ ngắn tanka (đoản ca). Trong thời gian này những nhà thơ chuyên môn cung đình đã xuất hiện. Tiêu biểu là Kakinomoto no Hitomaro. Kakinomoto no Hitomaro (Thị Bản Nhân Ma Lữ):
Ông sinh và mất năm nào không rõ, chỉ biết là một chức quan nhỏ thờ hai triều Jitô và Mommu (690-707). Thơ ông vừa hùng tráng, vừa trang trọng, có những bài vịnh tán để ngợi khen hoàng tộc, có những bài vãn ca ai điếu họ vào dịp tang ma. Ông có công trong việc hoàn chỉnh thể trường ca. Cùng với Yamabe no Akahito (Sơn Bộ Xích Nhân), ông được đời sau xưng tụng là đại thi hào ( uta no hịjiri, ca thánh). Tác phẩm còn để lại là thi tập mang tên ông Kakinomoto no Hitomaro-shuu (Thị Bản Nhân Ma Lữ ca tập). Một mặt, ông làm những bài thơ có tính cách cá nhân như thơ thương nhớ vợ, một mặt ông để lại nhiều thơ cung đình trong Man.yô-shuu và được coi là nhà thơ số một đã đóng góp trong tập nầy.Tuy nhiên, trong số khoảng 365 bài gọi là trích từ ca tập nói trên nay đã thất truyền e rằng không phải tất cả đều là của ông mà còn là của các thi nhân đương thời mà ông chép lại. Ông thiện về chôka mà bài thơ ai điếu hoàng tử Takechi với 149 câu được xem là bài thơ dài nhất trong Man.yô-shuu. Thơ ông trang trọng, thanh nhã, bắt nguồn từ hai dòng Hán thi và quốc âm nhưng biết phối hợp chúng một cách tài tình.Ông đã sáng tạo trên một trăm makura-kotoba tức “ câu chữ gối đầu” làm nguồn thơ cho người làm thơ về sau. Giai đoạn cuối đời của ông thế nào không ai rõ . Học giả Umehara Takeshi phân tích những bài thơ cuối cùng của ông, đưa ra thuyết là ông bị thất sủng phải đi đày ở vùng Iwami và tự kết liễu đời mình nơi đó.Từ thế kỷ 12, người ta tôn sùng ông như bậc thần linh và dùng cả thơ ông vào cả việc bùa chú. Xin đơn cử một vài bài thơ của ông làm trong giai đoạn nầy. Trước tiên là một tiết trong bài ca ai điếu (banka) mà Kakinomoto no Hitomaro viết thay người chồng của công chúa Asuka khi bà nầy mất: Thật đau đớn, gào vì lẻ bạn, Chim đi tìm mỗi sáng mộ ai. Bóng hình ủ rủ hôm mai, Ngày hè cỏ úa , đêm dài bước sao. Như thuyền trôi biết biển nào! (Sarekamo ayani kanashimi, Man.yô-shuu, quyển 2, bài 196) Ở đây ta đã thấy xuất hiện những hình thức tu từ vận dụng khả năng liên tưởng như “chim lẻ bạn”. “cỏ hè uá nắng”, “sao đêm”, thuyền trôi trên biển”…. Ông còn viết một bài thơ đoạn hậu (hanka, phản ca) cho một bài thơ dài (chôka, trường ca ) ai điếu vợ mình: Lá vàng phủ lối sơn khê, Làm sao ta biết mình về nơi nao! (Akiyama no momiji wo shigemi, Man.yô-shuu, quyển 2, bài 108) Trong bài ai điếu cá nhân nầy, có lẽ vì tâm sự thành thực hơn nên đơn giản, không có hình thức tu từ nào quá lộ ra ngoài. Sau đây là hai bài thơ khác với chủ đề thiên nhiên và có phong vị trữ tình: Phương đông, trời vừa ửng lên, Lung linh nắng sớm loang trên cánh đồng. Ngoảnh đầu, nguyệt xế từng không. (bài Himugashino, Man.yô-shuu, quyển 1, thơ Kakinomoto no Hitomaro) Trăng thu năm ngoái lững lờ, Vẫn còn chiếu sáng như xưa thu nào. Người em cùng ngắm nay đâu! (bài Kozo miteshi, Man.yô-shuu, quyển 2, thơ Kakinomoto no Hitomaro) Các tác giả khác của Vạn Diệp thời kỳ thứ hai: Ngoài Kakinomoto no Hitomaro, thời này còn có Takechi no Kurohito (Cao Thị, Hắc Nhân) nổi tiếng về thơ tả cảnh làm trên đường du lịch và Naga no Okimaro (Trường Y, Cát Ma Lữ) giỏi về thơ ứng đối tại chỗ. Một nữ thi nhân, Ôto mono Sakanoue (Đại Bạn, Phản Thượng Lang Nữ), có thể tiêu biểu cho khuynh hướng trữ tình thời đó. Bà là cô của thi nhân nổi tiếng Ôtomo no Yakamochi (Đại Bạn, Gia Trì) và là mẹ vợ ông ta. Thơ nói về tình yêu của bà có bài như sau: Chàng nói đến có khi không đến, Để khi chàng nói chẳng đến đâu, Thì em tựa cửa mong sao, Cho chàng đến, dẫu biết nào có ai. (Komu to iu mo, Manyô-shuu, quyển 4, bài 527) Tình cảm của thi nhân cung đình thời Heian biểu lộ qua Man.yô-shuu là những tình cảm tế nhị thanh tao mà trong đó thiên nhiên (trăng, gió, chim chóc, hoa cỏ) đóng một vai trò quan trọng, khác hẳn ca dao thời cổ và cũng sẽ khác những dòng thơ sau nầy. 3) Thời kỳ thứ ba (710-733): Thời kỳ này ước chừng 23 năm kể từ lúc thiên đô về Heijô.kyô (Bình Thành kinh) cho đến năm Tempyô (Thiên Bình) thứ 5 nghĩa là buổi ban đầu của thời Nara (Nại Lương). Lúc đó chế độ pháp luật đã vững vàng, việc biên soạn hai quyển Ký và Kỷ đã xong xuôi. Tư tưởng Nho, Thích, Lão từ lục địa được du nhập vào đất Nhật nên thơ quốc âm waka đã nhuốm màu tư tưởng. Tính cách cá nhân trong thơ bộc lộ rõ nét hơn. Thơ trở nên tinh vi và phức tạp so với trước. Số thi nhân (kajin = ca nhân) hoàng tộc giảm đi nhưng số người làm thơ thuộc tầng lớp khác tăng thêm, phong cách thơ cũng đa dạng hơn. Nền tảng của Man.yô-shuu đã thành hình vào lúc nầy. Những nhà thơ tiêu biểu cho thời nầy có Yamabe no Akahito[10] (Sơn Bộ Xích Nhân, năm sinh và mất không rõ), người có những bài thơ tả cảnh với lời thơ trong trẻo, Yamanoue no Okura[11] (Sơn Thượng, Ức Lương, 660-733?) vì thấm nhuần tư tưởng Trung Quốc và Phật Giáo nên hay ngâm vịnh những mâu thuẫn và thống khổ của kiếp người, Ôtomo no Tabito[12] (Đại Bạn Lữ Nhân, 665-731) có phong cách u sầu, thoát tục và Takahashi no Mushimaro[13] (Cao Kiều Trùng Ma Lữ, năm sinh và mất không rõ) với những bài trường ca trữ tình điêu luyện. Bến Waka nước triều đầy, Bãi cạn chìm hết xui bầy hạc bay, Vừa kêu, đáp xuống lau dày. (Bài Waka no ura ni, quyển 6, thơ Yamabe-no-Akahito) Vườn ta muôn cánh hoa mơ, Bay theo làn gió, mà ngờ tuyết rơi! (Bài Waga sono ni, quyển 5, thơ Ôtomo-no-Tabito) Việc đời nhớ tiếc chi xa, Nâng chén rượu đục phải là hời không? (Bài Shirushi naki, quyển 5, thơ Ôtomo-no-Tabito) 4) Thời kỳ thứ tư (734-759): Trùng với khoảng 25 năm từ năm Tempyô (Thiên Bình) thứ 6 đến năm Tempyô Hôji (Thiên Bình Bảo Tự) thứ 3. Đó là thời kỳ giữa của triều Nara, có nhiều dao động về mặt chính trị như sự thất thế của dòng họ Fujiwara (Đằng Nguyên) từ cái chết của người cầm đầu cánh này, Fujiwara no Fuhito (Đằng Nguyên, Bất Tỉ Đẳng), vào năm 720 và những cuộc biến loạn xảy ra sau đó. Vì phản ảnh thời thế nên thơ waka lúc ấy mất hẳn sức sống và tri tính mà thiên về cảm thương, ưu nhã. Cảm hứng và biểu hiện đã thành những khung cố định, chuyển tiếp qua phong cách thi ca của triều Heian (Bình An) đến sau.Loại thơ dài chôka suy thoái, chỉ còn thơ ngắn tanka liên hệ nhiều với cuộc sống xã giao thù tạc hằng ngày là hãy còn thịnh. Thi nhân tiêu biểu cho thời này là Ôtomo no Yakamochi với những vần thơ u sầu và lối biểu hiện tinh tế. Ôtomo no Yakamochi: Ôtomo no Yakamochi (Đại Bạn, Gia Trì, 718-785), con của Tabito, làm quan đến chức Chuunagon (Trung Nạp Ngôn) tức quan tham nghị bậc trung. Trong Man.yô-shuu, ông để lại trên 400 bài thơ và được xem như là người biên soạn tập thơ nầy. Thơ Yakamochi có những vần thanh nhã và gần gũi với thiên nhiên. Thường là những bài waka thật ngắn: Cạnh phòng ta, bụi trúc con, Xạc xào tiếng gió khi hoàng hôn rơi. (Wa ga yado no, Man.yô-shuu, quyển 19, bài 4291) Ngày xuân ngập nắng lung linh, Sáo tung trời biếc cho mình lẻ loi. (Uraura ni, Man.yô-shuu, quyển 19, bài 4292) Vượt sông Haitsuki, Mỏi chân thúc ngựa cũng vì nước dâng. Núi Tate băng đã tan ? (Bài Tateyama no, Man.yô-shuu, quyển 17) Vườn xuân đẹp cánh đào hồng, Trên đường, cô gái vào trong ánh đào. (Bài Haru no sono, Man.yô-shuu, quyển 19) Đông ca (Azuma.uta): Trong Man.yô-shuu, quyển thứ 14 còn ghi chép khoảng 240 bài Azuma-uta (Đông Ca) tức là ca dao miền Đông. Vùng Azuma (Đông Quốc) thủa ấy được định vị trí từ Shizuoka (Tĩnh Cương) gần núi Phú Sĩ cho đến vùng Mutsu[14] (Lục Áo) thuộc Tôhoku (Đông Bắc) hiện tại, hãy còn hoang vu, ít vết chân người. Những bài thơ này thường là của tầng lớp thứ dân nên nội dung thô sơ và có nhiều dấu vết của ngôn ngữ địa phương, biểu lộ tình cảm mộc mạc của họ trong cuộc sống hàng ngày.Trong số đó đã có 196 bài xem như là thơ luyến ái.Thơ Azuma-uta không hay nói đến cái chết như các bài banka trong thơ cung đình. Tên các thần thánh thấy trong Kojiki và Nihon shoki cũng không có mặt trong thơ miền Đông. Đó là một đặc điểm khác của phần cuối tập Man.yô-shuu vậy. Ngoài ra trong quyển 14 này và nhất là quyển 20 có thâu thập lại gần 90 bài thơ của lính thú (sakimori = phòng nhân) sinh quán ở vùng Đông bị trưng binh xuống miền Nam (Kyuushuu) để phòng thủ các vùng Tsukushi (Trúc Tử), Iki (Nhất Kỳ) và đảo Tsushima (Đối Mã). Những người lính thú, theo luật, ba năm được đổi phiên một lần. Loại thơ nầy có tên là sakimori-uta (phòng nhân ca). Thơ của lính thú phần nhiều biểu lộ tâm tình thương nhớ quê hương và gia đình: Lũ con nắm chặt áo cha, Ta bỏ chúng lại để ra cõi ngoài. Mẹ không còn nữa, con ơi! (bài Karakoromu, Man.yô-shuu, quyển 20, thơ Osada no Toneri Ôshimaga). Ba bài thơ sau đây là của các anh yoboro (tạp binh, không chức tước, không tên tuổi) làm ra lúc bị gửi đi trấn thủ lưu đồn 3 năm trên đảo Tsukushi. Họ viết được những vần thơ trữ tình đẹp tuyệt vời mà giới quí tộc Heian không thể nào viết nỗi. Khi anh lính thú nhớ về người vợ trẻ: Như huệ núi Tsukuba, Đêm xưa em đẹp ngọc ngà giường anh. Ngày nay còn ghé mộng lành. (bài Tsukubane no, Man.yô-shuu, quyển 20, bài 4369) Họ làm những bài thơ than thở số phận hẩm hiu đời lính: Lính thú tứ xứ xuống thuyền, Nhìn cảnh ly biệt dạ phiền, bó tay! (bài Kuniguni no, Man.yô-shuu, quyển 20, bài 4381) Quan kia sao ác làm chi! Tôi đang nằm bệnh bắt đi biên phòng. (bài Futahogami, Man.yô-shuu, quyển 20, bài 4382) Vợ lính cũng gửi tâm sự vào thơ (hay có người đã nói thay cho họ): Chồng ai đấy, lính ra biên? Nghe một chị hỏi mà thèm làm sao! Số may, chẳng biết lo âu. (bài Sakimori ni, Man.yô-shuu, quyển 20, bài 4382) Ngoài thơ lính thú, còn phải kể thơ các học tăng (Abe no Nakamaro hay Yamanoue no Okura) sang nhà Đường và thơ của nhân viên sứ bộ sang Tân La tức Shiragi (145 bài) đã làm cho Man.yô-shuu đa dạng và phong phú. IV)
IV) ẢNH HƯỞNG CỦA MAN.YÔ-SHUU ĐẾN ĐỜI SAU: Phong cách của Man.yô-shuu có tính cách đặc biệt nên người đời sau như (Tướng Quân mạc phủ Kamakura đời thứ ba và là một văn nhân trác việt) Minamoto no Sanetomo (Nguyên, Thực Triều) đã chứng tỏ chịu ảnh hưởng của một cung cách gọi là “thể điệu Man.yô” (Manyô-chô) trong tác phẩm Kinkai Waka-shuu (Kim hòe hòa ca tập) của ông[15]. Người thời Edo như Keichuu (Khế Trùng, 1640-1701) trong Man.yô Taishôki (Vạn diệp đại tượng ký) và Kamo no Mabuchi (Hạ Mậu Chân Uyên, 1697-1769) trong Man.yô-kô (Vạn diệp khảo) cũng bỏ nhiều công nghiên cứu về nó với mục đích tìm hiểu bản chất của con người Nhật Bản có trước khi văn hóa Trung Quốc đến xâm nhập. Gần đây nữa, những nhà thơ như Masaoka Shiki (Chính Cương Tử Quy,1867-1902) và Saitô Môkichi (Trai Đằng, Mậu Cát,1882-1953) đều chịu ảnh hưởng của Man.yô-shuu. Các nhà thơ cận kim lại tìm về phong cách Man.yô-shuu để làm mới tanka. CHÚ GIẢI
[1] Tên các tập sử thư và địa dư chí tối cổ của người Nhật. [2] Có những makura-kotoba bí hiểm nhưng có khi dễ hiểu ví dụ nubatama (quả dâu đen, blackberry) là chữ dùng khi ví với buổi tối, màn đêm, chiêm bao hay giấc ngủ... [3] Năm 753, có người tên Bunya-no-mahito Chinu (Văn Ốc chân nhân Trí Nỗ) muốn làm việc khuyến thiện vì người mẹ đã mất, cho khắc chân Phật và nhiều bài ca tán tụng công đức của Phật theo thể 5-7, 5-7,5-7 vào bia đá. Hiện còn được bảo tồn ở khuôn viên chùa Dược Sư ( Yakushiji, Nara). [4] Ma Lữ (đọc là Maro) cũng dùng như Hoàn (Maru). Thời xưa, nó là một tiếp vĩ ngữ đặt sau tên người đàn ông. Không có ý nghĩa đặc biệt. [5] Diệp có nghĩa là « lá », vừa có nghĩa là “đời” nhưng trong bài tựa bằng chữ Kana của Kokin Wakashuu, Ki no Tsuranuki có câu “Waka là hạt giống gieo trong lòng người để nẫy ra vô sớ lời như vô số lá”. Chữ kotoba (lời nói) trong Nhật ngữ được viết bằng hai chữ Hán “ngôn diệp”. [6] Lối ghi âm khá phức tạp, nhiều khi không còn liên quan gì đến chữ Hán nữa. Chỉ có thể có nghĩa khi “lực sĩ” đọc theo âm Hán là rikishi (người có sức mạnh) hay “xuân” đọc theo âm Nhật là “haru” (mùa xuân) nhưng hoàn toàn vô nghĩa như khi viết “a mễ đô trí” để diễn ý “ametsuchi” (trời đất, thiên địa) hay “hứa kỷ lữ” để diễn ý kokoro (lòng, tâm). Do đó việc sử dụng kiến thức Hán Việt để thưởng thức văn chương Nhật Bản hay bút đàm với họ chỉ có giới hạn nếu không nói lắm khi nguy hại. [7] Kobayashi Yasuharu, Arasuji de yomu Nihon no Koten (Tóm tắt tác phẩm cổ điển Nhật Bản), trang 20. [8] Tạm dịch tên hoa murasaki, một loại hoa , cánh trắng, rễ tím, dùng để nhuộm hoặc làm thuốc giải độc, chữa bệnh ngoài da. Vườn thuốc vì có giá trị dược thảo nên được canh phòng. Lúc nầy Tenji đang bận đi săn (tức là hái thuốc, kusurigari) [9] Kim ô lâm tây xá, Cổ thanh thôi đoản mệnh, Tuyền lộ vô tân chủ, Thử tịch ly gia hướng .Tạm dịch : Trống giục thu đời ngắn. Bóng ác đã về đoài. Suối vàng không quán trọ, Đêm biết ngủ nhà ai ? (Bài này mô phỏng theo một bài thơ Trung Quốc). [10] Yamabe no Akahito, không rõ năm sinh năm mất, cũng là một chức quan nhỏ dưới triều Nara và về sau được đời so sánh cùng với Kakimoto no Hitomaro như là hai đại thi hào (ca thánh) của waka. [11] Yamanoue no Okura (660-733?) từng theo sứ bộ đi TrungQuốc nhà Đường (Khiển Đường Sứ), nhà thơ khuynh hướng tư tưởng. Giỏi về thơ chữ Hán, bạn của Ôtomo no Tabito. [12]Ôtomo no Tabito (665-731), cha Ôtomono Yakamochi. Từng cai quản súy phủ Dazai (Dazai no sochi) ở Kyuushuu, tương đương tổng trấn. Làm quan đến bậc Dainagon, một chức quan cố vấn bậc cao tham dự vào triều chính. [13] Takahashi no Mushimaro, không rõ năm sinh năm mất. Người vùng Hitachi (Thường Lục) phía bắc Tokyo bây giờ. Có thuyết cho rằng đã góp phần biên soạn địa dư chí vùng nầy (Hitachikuni Fudoki) [14] phía trên Sendai, chung quanh Morioka bây gìờ [15] Kim có nghĩa là Kamakura (Liêm Thương) vì chữ Liêm có bộ Kim. Hòe chỉ bậc đại thần. Đây ý nói tập thơ của người đại thần ở Kamakura (Sanemoto khiêm xưng). |
|
#5
|
||||||||
|
||||||||
|
Chương 4 : TRUYỆN ÔNG GIÀ ĐỐN TRÚC (TAKETORI MONOGATARI) THỦY TỔ CỦA TIỂU THUYẾT NHẬT BẢN. Sự ra đời của Truyện Hoang Đường, Truyện Thơ, Nguyễn Nam TrânTruyện Ngắn, Truyện Lịch Sử. ![]() TIẾT I
TIẾT I: HÌNH THỨC VĂN HỌC GỌI LÀ TRUYỆN KỂ (MONOGATARI) : Thần thoại ghi chép trong Kojiki và Nihon shoki vì là văn kiện chính thức của nhà nước nên được phép trình bày ở chốn công cộng. Tuy nhiên vẫn còn nhiều truyện phần lớn nói về thần tiên yêu quái vẫn lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Đến đời Hei-an (794-1185), chịu ảnh hưởng của các loại sách sử và tiểu thuyết Trung Quốc, người Nhật mới bắt đầu ghi chép các truyện dân gian ấy lại dưới dạng chữ Hán. Mặt khác, loại chữ kana thuần túy Nhật Bản đã xuất hiện và phổ biến đã giúp người ta khả năng trình bày sự việc bằng Nhật ngữ một cách thoải mái. Họ bèn dựa vào hình thức viết lại thần thoại và truyền thuyết để xây dựng một hình thức văn học mới, đó là hình thức truyện (vật = mono) kể ( ngữ = katari) ( danh từ kép là monogatari = vật ngữ). A) Các hình thức sơ khai của tiểu thuyết (monogatari) : Lúc đầu, truyện kể được xem như có thể chia thành hai loại : truyện hoang đường (truyện bịa đặt, truyện dựng ra) hoặc truyện thơ (nói thơ).Truyện hoang đường (tsukuri monogatari) kể về những gì không thể có trong cuộc sống hằng ngày. Nó lấy những tình tiết không tưởng làm trung tâm, nặng màu sắc truyền kỳ. Truyện xa xưa nhất thuộc loại nầy và còn giữ lại được là “ Truyện ông già đốn trúc ” Taketori Monogatari (Trúc thủ vật ngữ, ra đời khoảng cuối thế kỷ thứ 9 hoặc đầu thế kỷ thứ 10) là một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt và mang màu sắc truyền kỳ. Tuy thế, cũng cùng một hệ thống với nó vẫn có những truyện có tính cách hiện thực và thiên về tả chân hơn. Đó là Utsuho Monogatari[1] (Vũ tân bảo vật ngữ, hậu bán thế kỷ thứ 10), Ochikubo Monogatari (Lạc oa vật ngữ, cuối thế kỷ thứ 10). Mặt khác, cũng vào khoảng nầy, đã có loại truyện thơ (uta-monogatari) ra đời. Truyện thơ khởi đầu từ việc nói thơ, kể thơ (utagatari), nếu so với truyện hoang đường thì ít hư cấu hơn và lấy thơ làm phương tiện diễn tả. Truyện thơ tiêu biểu có Ise-monogatari (Y Thế vật ngữ, ra đời khoảng đầu đến giữa thế kỷ thứ 10), Yamato-monogatari (Đại Hòa vật ngữ, giữa thế kỷ thứ 10) và Heichuu-monogatari (Bình Trung vật ngữ, cũng khoảng giữa thế kỷ thứ 10). Về sau thể loại monogatari sẽ được phát triển rộng rãi với nhiều hình thức khác như truyện dã sử, ký sự chiến tranh, truyện giải buồn... Cả hình thức tiểu thuyết xã hội thị dân của hai tác giả Saikaku và Akinari thời Edo cũng là một phân nhánh của nó nữa. B) Taketori Monogatari (Trúc thủ vật ngữ) : Về “ Truyện ông già đốn trúc ” (Taketori monogatari) còn được gọi là “ Truyện cô tiên Kaguya ” không rõ ai là tác giả[2] và ra đời lúc nào, nhưng có thể truyện nầy đã được viết cuối thế kỷ thứ 9 bởi một ông quan hay tăng nhân giỏi chữ Hán cỡ các ông Kino Haseo, Sôshô Henjô, Minamotono Tôru hay Minamotono Shitagô vì trong ngữ vựng, cách đọc, văn phạm đều có dấu vết của văn hóa đại lục.Ví dụ như việc truyện này tuy sử dụng văn tự hiragana, dùng nhiều hình thức tu từ của waka như kakekotoba và engo, lại nhắc đến việc thưởng trăng rằm tháng tám, một tập tục chỉ bắt đầu ở Trung Quốc đời Đường vào khoảng niên hiệu Trinh Quán (859-876). Người ta còn phỏng đoán nó được viết trước năm 905 vì nội dung có nhắc thời điểm truyện ra đời là lúc núi Fuji đang phun lửa, trong khi các tài liệu lịch sử cho biết năm Enki ngũ niên (905), núi đã ngưng phun. Chương E-awase “ Cuộc thi xếp tranh ” trong Truyện Genji có chỗ đánh giá Taketori là “ thủy tổ của thể văn truyện kể ” mà nhiều người xem là hình thức sơ khai của tiểu thuyết. Taketori viết theo thần thoại về một lão già kiếm ăn bằng nghề đốn trúc (taketori) đem về làm đồ thủ công, một hôm giữa rừng núi bỗng gặp được cô tiên bé xíu Nayotakeno Kaguya-hime ngồi trong lóng trúc tỏa ra ánh sáng (cô tiên nầy vốn là người trên cung trăng bị đọa xuống thế gian). (Truyện cũng từng là chủ đề thơ trong Man.yô-shuu). Ông già đem cô về nuôi, cô lớn lên như thổi. Đến khi thành người con gái xinh đẹp thì cô lại khước từ lời cầu hôn của hai vị hoàng tử, ba cậu công tử và cả đức vua. Năm nhà quí tộc không thực hiện được những thách đố của cô, có người phải bỏ mạng. Còn đức vua dùng vũ lực bó buộc cô thì cô biến mất. Rồi đến tiết trung thu, cô theo sứ giả Cung Trăng đến đón và thăng thiên cho dầu đức vua đã cho hai nghìn lính bủa vây để truy cản. Truyện Taketori đã sử dụng khéo léo mô-típ những truyền thuyết có trước đó như truyền thuyết về con thiên nga hóa thành người con gái, từ khước lời cầu hôn của chàng trai để trở về trời (Bạch Điểu Xử Nữ Thuyết Thoại, Hakhuchô Shojo Setsuwa) mà truyện Hagoromo[3] (Vũ Y, con hạc nhổ lông dệt áo nuôi chồng) là một biến thể, hay mô-típ người con trai (truyện về Ôkuninushi no Mikoto, Đại Quốc Chủ, Mệnh) thực hiện những đòi hỏi khó khăn của cha người con gái khi muốn kết hôn với nàng (Nan đề tế đàm, Nandai muko-tan = Truyện thách rể) [4]. Năm thách thức đó là phải tìm cho được bình bát bằng đá của Đức Phật, cành cây trên ngọn núi Bồng Lai, chiếc áo bằng lông con chuột lửa, hòn ngọc đeo ở cổ rồng hay ốc xa cừ trong tổ yến. Trong khi kể đến lớp các vị công tử đến cầu hôn, tác giả cũng đưa ra một số nhận xét dí dỏm, châm biếm về tướng mạo cũng như tính tình lừa lọc, ngạo mạn hay dốt nát của các chàng trai ấy. Ngay cả đức vua cũng không hơn gì. Khi ngỏ lời cầu hôn, ngài mua chuộc lão tiều bằng một chức quan nhưng nàng Kaguya-hime vẫn tỏ ra dửng dưng. Truyện tuy kết cấu trên truyền thuyết cổ xưa phi hiện thực nhưng đã vẻ được một cách sinh động thế giới con người thời ấy (và có thể với dụng ý phê phán). Và đó chính là đặc điểm của thể loại văn học monogatari vậy. Nội dung miêu tả một cách lãng mạn về cái vô nghĩa những toan tính của trần gian. Nó như muốn nhắc nhỡ con người việc muốn giữ cho mình cái đẹp vĩnh viễn là điều không thể đạt được. Tuy nhiên, truyện này còn kể cảnh biệt ly sướt mướt giữa lão già và cô gái. Nó cho ta thấy cõi trời là cõi vô tình, chỉ có con người mới có tình cảm. Cô tiên Kaguya chỉ có tình cha con khi mang tấm lòng trần. Như thế, tác giả đã nhấn mạnh đến cái cao đẹp của tình người. Về hình thức, truyện được viết bằng chữ Hán đọc lối âm Nhật (kun-yomi), theo thể hồi tưởng, tạo được không khí một câu truyện kể. Dung hợp được tính hư cấu và tính hiện thực của các hình thức cổ tích, nói lên được bản tính con người, Taketori xứng đáng được xem là điểm khởi hành của văn học truyện kể. Gần đây có nhà nghiên cứu cho biết truyện cổ “ Ban Trúc Cô Nương ” (Cô gái trong cây trúc có đốm) của Tây Tạng có nhiều chỗ tương tự với Taketori [5] và nhấn mạnh đến mối liên quan về nguồn gốc đại lục của truyện nầy. C) Utsuho Monogatari (Vũ Tân Bảo Vật Ngữ) : Truyện “ Bộng Cây ” (Utsuho Monogatari) cũng lấy đề tài từ truyền kỳ. Vai chính của truyện tên là Fujiwara Nakatada (Đằng Nguyên, Trọng Trung) thuộc về một gia đình bốn đời thiện nghệ về đàn cầm (koto) và những tình tiết đưa đẩy làm Nakatada nhờ ngón đàn do thần nhân truyền cho tổ phụ (là Fujiwara no Toshikage) khi ông cụ đi sứ sang Trung Quốc và bị đắm tàu, mà sau anh ta cưới được con gái thiên hoàng. Truyện miêu tả sống động, tỉ mỉ về xã hội quí tộc và con người đương thời. Utsuho (bộng cây), tựa của truyện, là tên của chỗ lẩn trốn của hai mẹ con Nakatada thời hàn vi, lạc loài, trong ruột rỗng của một cây sugi (bách Nhật Bản) lớn. Sau cha của Nakatada là một nhân vật quyền thế tên là Kanemasa mới tìm lại được hai mẹ con. Không rõ tác giả của truyện là ai nhưng thuyết cho là của Minamotono Shitagô[6] (Nguyên, Thuận) được nhiều người ủng hộ. Nếu không thì nó phải được viết bởi một trí thức cung đình tinh thông cả Hòa lẫn Hán. Qua nội dung truyện nầy, người ta đã nhận ra dấu vết của ảnh hưởng triết lý Hòa Hán và vai trò đồng đẳng dựa Phật giáo và Thần đạo đối với lớp quí tộc Heian. Utsuho cũng mô tả sinh hoạt cung đình như cuộc kén rể trong đám 16 thí sinh của nhà quan Tả Đại Thần Masayori, cha của người đẹp Ate-miya. Nó cũng nói về những cuộc tranh chấp quyền lực và quyền thừa kế trong cung đình qua việc chọn đứa con nối dõi cho Đông Cung Thái Tử vv... Utsuho được xem như cuốn truyện dài nhất viết bằng kana trước khi Truyện Genji ra đời. Utsuho gồm 22 quyển, dài khoảng 3/5 Truyện Genji, có thể đã được viết vào khoảng giữa thế kỷ thứ 10 (952-965) nên nếu bảo nó là cuốn truyện dài đầu tiên trên thế giới thì có lẽ cũng không ngoa. Nó chưa có được bố cục hoàn toàn ăn khớp với nhau như Truyện Genji mà chỉ là kết hợp những bộ phận đơn lẻ tuy cốt truyện thì có tính thống nhất với chủ đề là chiếc đàn thần mà ông để lại cho cháu và người cháu sau đó truyền cho con gái của mình. Utsuho được xem như kết quả một thí nghiệm Nhật Bản hóa của tiểu thuyết đại lục tương tự sự Nhật Bản hóa thi ca đại lục bằng môi giới của Wakan Ryôei-shuu (Hòa Hán lãng vịnh tập). Utsuho đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành những tác phẩm đến sau, cả Truyện Genji (miêu tả xã hội khép kín của cung đình) lẫn Konjaku Monogatari (miêu tả xã hội bản địa bên ngoài cung đình). D) Ochikubo Monogatari (Lạc Oa Vật Ngữ) : Truyện “Hầm Nhà” (Ochikubo Monogatari) cũng không rõ tác giả, có thể là một vị quan nào đó. Truyện kể với ngôi thứ ba, xen kẽ bằng đối thoại và thư tín, xoay quanh chủ đề mẹ ghẻ con chồng cũng như nhiều tác phẩm văn xuôi thời đó và có hơi hướng Nho giáo. Các nhà nghiên cứu phương Tây như S. Mauclaire (1984) thường nhấn mạnh đến sự tương đồng của mô típ mẹ ghẻ con chồng của truyện này với truyện dân gian Cendrillon (Cô Bé Lọ Lem) của Âu châu[7]. Như thế thì có thể nói Ochikubo cũng đồng một mô típ với truyện dân gian Tấm Cám của Việt Nam nữa. Nhân vật chính trong truyện là nàng Ochikubo no kimi (Lạc Oa Quân) bị người mẹ kế và các cô em khác mẹ ngược đãi, phải sống dưới hầm nhà (ochikubo). sau trở thành vợ cả của viên Sakon Shôshô (Tả Cận thiếu tướng), võ quan cận vệ cấp cao, rồi nhờ oai chồng mà trả được mối thù. Tuy nhiên sự phân biệt thiện ác, bị ngược đãi và phục thù thấy trong truyện này không hẳn do triết lý nhân quả của Phật Giáo mà có lẽ chỉ phát xuất từ tư tưởng bản địa. Trước tiên nó xảy ra trong khoảng thời gian ngắn và ngay trong cuộc đời này, chưa có sự can thiệp của Quan Âm, Địa Tạng, chưa có khái niệm về kiếp trước kiếp sau, điều này sẽ thấy trong các tác phẩm mang màu sắc Phật Giáo về sau. Cùng chủ đề mẹ ghẻ con chồng có Truyện ni cô đền Sumiyoshi (Sumiyoshi monogatari, Trú Cát Vật Ngữ), đã thất lạc, chỉ còn giữ lại được một cải tác về nó. Xa hơn nữa, có thuyết cho rằng Ochikubo còn chứa đựng lòng mong mỏi được phục hồi địa vị của lớp quí tộc (trong đó có tác giả cuốn truyện) đã mất quyền bính. Điều này không phải vô lý khi ta biết rằng thời buổi đó, giới quí tộc đã suy vi trước thế lực dòng họ Fujiwara và đang mơ ước tìm lại thế đứng của mình cũng như cô gái trong truyện đi tìm gốc tích cao sang và chính đáng để đảo ngược tình thế trong gia đình. Cũng như Utsuho, Ochikubo cho ta thấy được nếp sinh hoạt của người đương thời cũng như biến chuyển tâm lý các nhân vật đó một cách sống thực. Truyện không dựa vào các yêu tố siêu nhiên hay phi phàm. Học giả Katô Shuuichi cho rằng đó là điều đáng nêu lên vì ngay cả ở Anh hay Pháp, loại truyện có đặc tính sống thực như thế không ra đời trước thế kỷ 17. E) Ise-monogatari (Y Thế Vật Ngữ) : Truyện lấy tên Ise, địa danh cũ của phân nửa tỉnh Mie bây giờ. Truyện Ise không biết do ai viết nhưng được ước định vào khoảng đầu đến giữa thế kỷ thứ 10 nghĩa là gần như cùng thời đại với Taketori. Truyện xoay chung quanh cuộc đời tình ái của nhân vật mà người ta phỏng đoán là Ariwara no Narihira (Tại Nguyên, Nghiệp Bình, 825-880). Trong truyện, anh ta được nhắc đến một cách kín đáo là “ Mukashi, otoko ” (Xưa, có chàng... ). Truyện gồm 125 đoạn ngắn, lấy thơ làm phần chủ yếu cho mỗi đoạn. Nhân vật chính, “Xưa, có chàng... ” của cuốn truyện, vốn con nhà trâm anh thế phiệt, vì gặp buổi quyền thần khống chế, đâm buồn rầu nên ngụp lặn trong vòng tình ái. Dĩ nhiên, nhân vật chính nầy không rập khuôn chàng Ariwara no Narihira ngoài đời mà được mô tả tự do theo hư cấu. Sự thực, có một vương tử điển trai và đa tình tên gọi Ariwara no Narihira mà cuộc đời được ghi lại trong Sandai jitsuroku (Tam đại thực lục, 901). Chàng là con trai thứ 5 của một hoàng tử và làm tướng trong đội ngự lâm quân, nổi tiếng vì tính tình trăng hoa và tài làm thơ waka. Có thể những bài waka gán cho Narihira là tác phẩm của Ki no Tsurayuki hay một người nào khác có tầm cỡ như vậy và đem đăng vào Kokin-shuu cũng không chừng. Nói chung, Ariwara no Narihira là hình tượng chàng Don Juan trong văn học Nhật, không khác chi ông hòang đa tình Genji của Shikibu thời Heian và chàng trai phóng đãng Yonosuke của Saikaku thời Edo. Tuy luyến ái nhớ nhung giữa nam nữ là cốt lõi nhưng Truyện Ise cũng nói đến những tình cảm thương nhớ (omoi) khác như tình gia tộc, tình bằng hữu. Ise-monogatari đã để lại ảnh hưởng quan trọng đến các tác phẩm đời sau. Ban đầu, Truyện Ise chỉ mô phỏng theo tập thơ cá nhân của Ariwara nhưng sau đó được bổ sung để trở thành tập Truyện Ise hiện tại. Truyện nầy còn được gọi là Zaigo chuujô monogatari (Tại Ngũ trung tướng[8] vật ngữ) hay Zaigo ga monogatari (Tại Ngũ vật ngữ) vì Zaigo Chuujô là tên hiệu và chức tước của Ariwara. Văn chương của Ise cũng thô sơ như văn của Taketori nhưng nhờ xen kẽ tản văn và waka nên có một nét duyên dáng đặc biệt. Câu chuyện kể từ lúc nhân vật làm lễ đội nón (sơ quán = uikôburi) nghĩa là thành nhân cho đến lúc lâm chung. Tuy trung tâm của câu chuyện là mối tình của vai chánh (Ariwara no Narihira) với nàng Ise no Saiguu (Y Thế Trai Cung) (đoạn 96) nhưng truyện cũng đề cập đến các nhân vật nam, nữ khác (trong đó có mối tình thầm vụng của ” chàng ” với hoàng hậu Nijô) và những hình thức thể hiện tình yêu nơi con người nói chung. Điều này cho ta thấy quan niệm tình yêu rất rộng rãi đương thời, không nề hà giai cấp (hoàng hậu) hay tôn giáo (trinh nữ đền thần). Nhân vật nam không hề bị trói buộc bởi tư tưởng Nho, Phật hay cả Thần Đạo. Xưa có một chàng vừa đến tuổi thành nhân, hãy còn hết sức trong trắng, một ngày lên đường săn bắn ở làng Kasuga, vùng ngoại ô kinh đô Nara, bỗng nhòm trộm thấy hai chị em cô gái xinh đẹp nhà kia và sinh lòng yêu. Làm ra vẻ người lớn, mới cắt vạt áo bào của mình và đề một bài thơ tặng mỹ nhân : Đồng xuân hoa tím, người thơ, Để lòng ai rối như tơ áo bào. Qua đó, chàng mượn ý một bài waka của Minamotono Tôru để bày tỏ tấm tình thanh nhã của mình... (Theo Ise Monogatari, đoạn mở đầu) Sau đó chàng có một mối tình với một cô con gái quí phái, người sẽ là hoàng hậu Nịjô. Đó là một mối tình bị cấm đoán cho nên hai người phải đưa nhau đi trốn. Nàng bị các ông anh tìm bắt mang về và đến đầu xuân, nàng đột ngột thành hôn với thiên hoàng. Một năm sau, chàng vẫn không quên được mối tình ấy, mới trở lại ngôi nhà ngày xưa nàng đã sống, ngắm hoa mơ nở trong sân dưới ánh trăng khuya. Nhưng chàng không sao tìm đâu cho ra bóng hình những tháng ngày âu yếm cũ. Nhân đó chàng mới vịnh một bài : Đâu trăng xưa, đâu hoa xưa ? Có ta năm cũ còn trơ bóng hình. Suốt đêm, chàng hồi tưởng kỹ niệm có với nàng. Đến khi trời sáng, mới than khóc và lủi thủi ra về. (Theo Ise Monogatari, đoạn thứ tư) Tuy nhiên, câu chuyện đặc sắc nhất có lẽ là mối tình của Ariwara no Narihira với một bà lớn tuổi yêu chàng, chứ không phải với những cô trẻ đẹp mà chàng chạy theo. Câu cuối của truyện đó phản ánh triết lý của tác giả : “ Ở đời, người ta chỉ quan tâm đến người họ yêu mà hờ hững với người họ không yêu. Thế nhưng cách sống của chàng Ariwara no Narihira là không phân biệt kẻ chàng yêu với kẻ chàng không yêu ”. Chủ đề của Ise là sự yêu chuộng và đi tìm cái cao nhã (miyabi) tức vẻ đẹp lý tưởng theo lối nghĩ của giới quí tộc Heian, phân biệt với cái thô lậu (hinabi) quê mùa trong dân gian. Qua những vần waka tặng qua đáp lại, Truyện Ise tạo nên một không khí mơ hồ, khơi gợi trí tưởng tượng của độc giả, dẫn đường họ vào thế giới trữ tình của truyện kể một cách tự nhiên. Ise được xem như một truyện thơ (uta.monogatari) tối cổ còn giữ được. Nó sẽ ảnh hưởng nhiều đến các tác phẩm monogatari đi sau như Yamato, Heichuu và Genji. Đi xa hơn nữa, sự cao nhã (miyabi) còn liên quan đến quan niệm mỹ thuật gọi là yuugen (u huyền) trong các yôkyoku (dao khúc) tức ca từ để hát trong tuồng Nô thời trung cổ, cũng như mỹ quan nghệ thuật tạo hình thời Edo của phái Kôrin (Quang Lâm) lẫn các tác phẩm tiểu thuyết loại “ đắm sắc ” (kôshoku) của Ihara Saikaku. Ảnh hưởng của Ise vào thời ấy còn được thấy qua sự xuất hiện của Nise Monogatari “Truyện Ise giả mạo ” và Kuse Monogatari [9]“ Truyện thói tật ” của Ueda Akinari nữa. F) Yamato monogatari (Đại Hòa Vật Ngữ) : Truyện về vùng đất Yamato (Yamato monogatari) cũng không biết do ai soạn. Có thuyết cho là thiên hoàng Kazan (Hoa Sơn) hay Ariwara no Shigeharu (Tại Nguyên, Từ Xuân). Nó được phỏng đoán đã hình thành vào giữa thế kỷ thứ 10, sau truyện Ise. Yamato không rõ là cái tên dùng địa danh “ vùng Yamato ” để đáp lễ lại “ vùng Ise ” của Truyện Ise hay có nghĩa là “ đất Nhật ” để đối chiếu với nhà Đường. Truyện thơ nầy không có nhân vật trung tâm, chỉ nói về cuộc sống và những trao đổi thơ văn tặng đáp hay luyến ái của những người có thật vào thời thiên hoàng (thứ 59) Uda (Vũ Đa, trị vì 887-897) lúc đã lui về ẩn cư ở Teiji.in (Đình Tử Viện). Phần sau của câu truyện qui tụ chung quanh các truyền thuyết, sự tích lưu hành trong dân chúng như truyện nói về con sông Ikutagawa (Sinh Điền Xuyên) nơi có nàng Unai Otome (Thố Nguyên Xử Nữ) tự trầm vì không biết ngả về ai trong hai người con trai cùng yêu và tranh giành nàng, cũng như truyện Ashikari (Người cắt lau) kể về người đàn ông lưu lạc phải cắt cây lau bán độ nhật sau được đoàn tụ với vợ mình, truyện Ubasuteyama (Ngọn núi vứt bà già) đưa ra cảnh khổ của người dân không đủ miếng ăn phải đem mẹ già lên vứt trên núi (đoạn 156). Những truyện nầy có điểm chung là phô bày tình cảm trong trắng, đơn sơ và cảm động. Truyện Yamato ban đầu viết xong khoảng năm 951, sau được tăng bổ, có ước chừng 300 bài thơ và gồm 173 đoạn. Cũng như Truyện Ise, nó là một truyện thơ (uta.monogatari) quan trọng. G) Các truyện kể khác : Ngoài ra, còn có truyện Truyện chàng Heichuu (Heichuu monogatari, Bình Trung Vật Ngữ) dựa lên sự tích cuộc đời ái tình của một Don Juan Nhật Bản khác là chàng Taira Sadafun (Bình, Trinh Văn), nhưng về mặt phóng túng thì kém Truyện Ise. Cũng không ai rõ tác giả chỉ phỏng đoán được nó đã thành hình vào giữa thế kỷ thứ 10. Nó gồm 38 đoạn, còn được gọi là Heichuu nikki (Bình Trung nhật ký). Về các truyện lấy thơ ca làm trung tâm, phải kể thêm Tônomine Shôshô monogatari (Đa Vũ Phong Thiếu Tướng[10] vật ngữ) và Takamura monogatari ( Hoàng vật ngữ). Tác phẩm trước nói về truyện tướng Fujiwara Takamitsu (Đằng Nguyên, Cao Quang) xuất gia trên ngọn núi Tô no mine, còn được gọi là Takamitsu nikki (Cao Quang nhật ký). Tác phẩm sau kể lại cuộc đời của Ono-no-Takamura (Tiểu Dã, Hoàng), một văn nhân quí tộc tên tuổi, cho nên mới có tên là Takamura Nikki ( Hoàng nhật ký). TIẾT II
TIẾT II: TRUYỆN KỂ TỪ SAU TRUYỆN GENJI: Truyện kể nổi tiếng nhất là Truyện Genji[11]. Trước Genji đã có khoảng 30 truyện và sau nó có khoảng 60 truyện mà ngày nay người ta chỉ nghe nói tới tên. Điều này chứng tỏ phong trào viết truyện kể rất thịnh hành thời Heian và số truyện ta đọc được ngày nay chỉ là 1/10 số lượng đã có[12]. Từ sau Genji, các truyện kể (monogatari) đã có hình thái và nội dung của chúng đã khá hoàn chỉnh. Cuối đời Hei-an, ta thấy có nhiều tác phẩm nói về sự suy vi của xã hội quí tộc cung đình nhưng không có tác phẩm nào sinh động bằng Genji. Những tác phẩm mang hình thức của truyện kể còn lưu truyền đến nay như Yowa-no-nezame (Dạ bán Tẩm Giác), Hamamatsu Chuunagon monogatari (Tân Tùng Trung Nạp Ngôn vật ngữ), Sagoromo monogatari (Hiệp Y vật ngữ) đều dồi dào tình tiết và sử dụng hư cấu như cung cách của Genji. Yowa-no-Nezame miêu tả chi tiết trạng thái tâm lý nhân vật, Hamamatsu monogatari dựng với bối cảnh Trung Quốc đời Đường, Sagoromo monogatari giàu tình tiết phức tạp và Torikaebaya monogatari (Truyện Đổi Giống, không có tên viết bằng chữ Hán) là một truyện mô tả khá táo bạo về luyến ái nam nữ. Được biết Yowa-no-nezame (còn đọc Yoru-no-nezame) có nghĩa là Thức Giấc Nửa Đêm, cũng còn có nghĩa Nàng Nezame Giữa Canh Khuya ra đời giữa thế kỷ 11, tương truyền do bà Sugawara no Takasue no Musume (con gái ông Quản Nguyên Hiếu Tiêu) viết. Truyện liên quan đến mối tình không toại nguyện của công nương Nezameno Ue (Tẩm Giác Thượng), con gái quan Thái Chính Đại Thần, với một vị quan tên Gon Chuunagon (Quyền, Trung Nạp Ngôn), chồng của chị mình. Hamamatsu Monogatari, gồm 6 quyển, cũng là tác phẩm của tác giả Sarashina Nikki và Yowa-no-nezame tức bà con gái ông Sugawara Takasue (Quản Nguyên, Hiếu Tiêu) , ra đời cùng thời, cũng nói về mối tình bất thành của chàng Hamamatsu Chuunagon, nặng màu sắc luân hồi của Phật Giáo với những câu chuyện đầu thai huyễn hoặc như việc nhân vật chính nghe nói cha mình đã đầu thai làm đệ tam hoàng tử nhà Đường nên vượt biển sang bên đó để tìm. Sagoromo monogatari, 4 quyển, có lẽ ra đời chậm hơn vào cuối thế kỷ 11, do Rokujô Saiin Senji (Lục Điều Tế Viện tuyên chỉ) soạn. Truyện kể về nỗi sầu khổ của Sagoromo Taishô (Hiệp Y đại tướng) vì yêu công chúa họ Genji tức nàng Genjino Miya (Nguyên Thị cung). Nội dung chịu nhiều ảnh hưởng của Truyện Genji (nhân vật của Sagoromo làm ta liên tưởng đến những Fujitsubo, Genji, Yuugao, Aoi, Murasaki...trong Genji), tuy có bố cục đường hoàng nhưng không khí câu chuyện lại đồi trụy. Cũng phải nhắc đến Truyện Đổi Giống (Torikaebaya Monogatari) nói về ảnh hưởng của giáo dục đối với con người. Sách viết cuối thế kỷ 11 và không rõ tác giả. Nội dung nói về hai chị em được nuôi dạy trong một khung cảnh ngược đời[13]. Cô chị được nuôi như con trai và cậu em trai được nuôi như con gái, để đưa họ đến nhiều mối tình oái oăm với người “ cùng phái ”. TIẾT III
Trong thời điểm này cũng có những tác phẩm ngắn như Truyện Quan Tham Nghị Bờ Đê (Tsutsumi Chuunagon[14] monogatari, Đê Trung Nạp Ngôn Vật Ngữ), gồm có 10 thiên độc lập với nhau kể những mẩu chuyện ngắn chung quanh nếp sống nhàn hạ của giới quí tộc. Đây là một tập truyện không rõ ai viết. Chín truyện có thể nhiều người đàn ông viết còn truyện “ Anh Gon Chuunagon nhát gái ” tương truyền là tác phẩm của một nữ quan tên Koshikibu (Tiểu Thức Bộ). Nhân vật Tsutsumi Chuunagon Fujiwara no Kanesuke (Đằng Nguyên, Kiêm Phù, ông cố của Murasaki Shikibu), người đứng tên trên sách có thể là người đã từng biên tập nó chăng ? Ông nầy vốn cất nhà bên bờ đê nên người ta gọi ông là ông “ quan tham nghị bờ đê ”. Đặc điểm của truyện là mô tả cuộc sống đa diện của con người, nói lên cá tính của các nhân vật mà hành vi vượt ra khuôn phép thông thường như nàng con gái không màng trang điểm mà chỉ yêu thích sâu bọ (Mushizume no Kimihime). Bên cạnh nhà cô tiểu thư thích ngắm bướm có cô tiểu thư con gái quan tham nghị cấp cao. Cha mẹ cô chăm sóc hết sức kỹ càng. Khi lớn lên, cô rất xinh xắn và hiếu kỳ. Tiểu thư sưu tập rất nhiều loại côn trùng. Cô thường bảo : “ Tôi không hiểu tại sao thiên hạ lại ngu ngốc đến nổi cứ mê man ngắm hoa với bướm. Chỉ có kẻ nào muốn tìm hiểu sự thực và muốn hiểu rõ nguyên lý của sự vật mới đáng cho tôi để ý”. Cô bỏ đủ loại côn trùng vào trong những cái hộp có màn và quan sát sự tiến hóa của chúng. “ Loài vật mà tôi thích quan sát nhất là mấy con sâu, chúng nó giúp cho ta học được nhiều chuyện ”. Cô vén tóc ra sau, đặt con sâu vào lòng bàn tay và quan sát nó từ sáng đến chiều...Vì các cô gái hầu cận thất kinh trước hành vi của cô, cô bèn tụ tập một nhóm con trai, những cậu không biết sợ là gì, cho chúng cầm lấy mấy con sâu trong tay và hỏi tên, loại nào không biết tên thì cô lại đặt tên cho.... Kẻ chung quanh lo lắng bảo : “ Cô đang bị dè bĩu đấy. Người ta chỉ chuộng cái gì xinh đẹp. Nếu thiên hạ biết được cô thích chơi sâu bọ thì họ xem cô ra gì ! ” “ Tôi chẳng cần ! Chỉ có người biết quan sát sự vật để tìm ra được một điều gì mới đáng kể thôi...Con sâu này sẽ hóa bướm. Quần áo lụa là người ta mặc là do những con sâu nầy sinh ra trước khi nó mọc cánh để thành bướm. Khi nó hóa bướm rồi, tại sao người ta lại đâm ra quên việc đó và coi nó không ra gì nữa ? ”... (Trích Truyện Cô Gái Chơi Sâu Bọ) Có những truyện bông đùa kiểu như truyện anh chàng ban đêm đi bắt cóc người yêu lại vác nhầm về bà cụ cố (Hanazakura oru shôshô), truyện bọn trai háo sắc nghe trộm hai cô hầu đàm tiếu về hành vi các cô chủ trong cung (Hanada no nyôgo), anh chàng đẹp trai, có văn hóa cao nhưng không dám đụng tới gái (Gon Chuunagon) hay cô nàng quýnh quáng thay vì đánh phấn lại bôi mặt lọ lem khi nghe bạn trai bất chợt đến thăm (Haizumi) vv... Tsutsumi được coi như tập đoản thiên tiểu thuyết tối cổ của Nhật còn được giữ lại. Theo nhà phê bình Katô Shuuichi, Tsutsumi có thể là một loại chuyện đặt ra để phúng thích các truyện kể đương thời tương tự việc Cervantes viết Don Quixotte để chế riễu các truyện ca ngợi tinh thần hiệp sĩ đầy dẫy trong thời Trung Cổ Âu Châu. Nó nhằm đả phá quan niệm cao nhã (miyabi) của văn hóa quí tộc và đánh dấu thời kỳ quá độ giữa văn hóa vương triều và văn hóa vũ gia. TIẾT IV
TIẾT IV : TRUYỆN LỊCH SỬ : Cuối đời Hei-an, phong trào sáng tác truyện kể yếu đi và nội dung các tác phẩm trở thành nghèo nàn. Mặt khác, sinh hoạt của xã hội quí tộc cũng xuống dốc khơi dậy trong lòng người khuynh hướng quay về thương tiếc quá khứ đẹp đẽ nay không còn nữa.Trong chiều hướng đó, các truyện lịch sử đã ra đời. Truyện lịch sử nói ở đây là những truyện kể dựa trên sự thực lịch sử nhưng khác với những cuốn sử thuần túy như Rikkokushi (Lục quốc sử) vì những chi tiết, cách dàn dựng của câu truyện đưa ra đều rất đặc biệt. Tác phẩm chính có Eiga Monogatari (Vinh hoa vật ngữ), Ôkagami (Đại kính), Imakagami (Kim kính) v.v... Lục Quốc Sử, sáu bộ sử do quan lại soạn ra : Tên sách Niên đại liên hệ Năm ra đời Người soạn chính 1 Nihon Shoki (Nhật Bản Thư Kỷ) Thời các thần đến thiên hoàng 41 (Jitô) 720 Toneri Shinnô 2 Shoku-Nihonki (Tục Nhật Bản Kỷ) Thiên hoàng 42 (Mommu) đến 50 (Kanmu) 797 Fujiwara Tsugutada, Sugano no Mamichi 3 Nihon Kôki (Nhật Bản Hậu Kỷ) 50 (Kanmu) đến 53 (Junnna) 840 Fujiwara Otsugu, Fujiwara Fuyutsugu 4 Shoku-Nihon Kôki (Tục Nhật Bản Hậu Kỷ) 54 (Jinmyô) 869 Fujiwara Yoshifusa, Tomono Yoshio 5 Nihon Montoku Tennô Jitsuroku (Nhật Bản Văn Đức Thiên hoàng Thực Lục) 55 (Montoku) 879 Fujiwara Mototsune, Miyako no Yoshio 6 Nihon Sandai Jitsuroku (Nhật Bản Tam Đại Thực Lục) 56 (Seiwa) đến 58 (Kôkô) 901 Fujiwara Tokihira, Sagawara Michizane A) Eiga Monogatari (Vinh hoa vật ngữ) : Truyện kiếp vinh hoa (Eiga monogatari) này có lẽ do hai người viết. Tương truyền bà Akazome-emo (Xích Nhiễm Vệ Môn) viết phần chính biên khoảng năm 1030 và bà Idewa-no-ben (Xuất Vũ Biện) viết phần tục biên khoảng 1092. Tác giả phần chính biên Akazome-e-mon sinh ra và mất năm nào không rõ, chỉ biết đó là một nhà thơ waka vào giữa thời Hei-an. Bà là vợ của Ôe Masahira (Đại Giang, Khuông Phù) và làm nữ quan hầu cận cho phu nhân Rinshi (Luân Tử), vợ quyền thần Fujiwara no Michinaga (Đạo Trường) và con gái của hai người là hoàng hậu Chuuguu Shôshi[15] (Trung Cung Chương Tử). Ngoài Eiga, Akazome-emon còn để lại thi tập riêng Akazome-emon Shuu (Xích Nhiễm Vệ Môn tập). Tác giả thứ hai, bà Idewanoben, là người hầu cận hoàng hậu Shôshi (tức Akiko). Phần chính biên gồm 30 quyển, tục biên 10 quyển. Sách muốn tiếp nối công trình của Rikkokushi (Lục quốc sử) nên bắt đầu ghi chép về khoảng thời gian 887-1092, từ thời đại Thiên hoàng (thứ 59) Uda (Vũ Đa, trị vì 887-897) trở xuống đến Thiên hoàng (thứ 73) Horikawa (Quật Hà, trị vì 1087-1107) nghĩa là ước chừng hai thế kỷ lịch sử theo lối biên niên. Nó chủ yếu ca ngợi thời toàn thịnh của chức Quan Bạch Thái Chính Đại Thần quyền nghiêng thiên hạ là Fujiwara no Michinaga[16] (966-1027) và hồi tưởng cuộc sống vinh hoa, lễ lạc hội hè của chốn cung đình với một giọng văn bùi ngùi. Nhân vật Michinaga dòng dõi họ Nakatomi, dòng họ có công với Thiên hoàng Tenji thời xưa. Họ này được vua ban cho tên Fujiwara và sau đó chia thành bốn dòng (Bắc, Nam, Thức, Kinh). Michinaga thuộc dòng Bắc, hiển hách hơn cả về mặt chính trị. Ông bắt đầu lên sân khấu từ quyển ba trong chương “ Quan Trung Tướng Tam Phẩm ” (San.i Chuushô) để cưới phu nhân Rinshi, tiểu thư con quan Tả Đại Thần. Từ đó công danh ông lên như diều gặp gió, tác oai tác phúc, đến lúc về già, khí vận suy thoái, ba cô con gái làm hoàng hậu, hoàng phi vv... nối đuôi nhau chết (quyển 25, 26 và 29) thì cuộc đời kết thúc ở chương 30 “ Rừng chim hạc ” (Tsuru no hayashi). Quang cảnh cái chết được sách ví von như lúc Đức Thích Ca nhập diệt. Tuy tác phẩm nầy thiếu tinh thần phê phán trước sự thực lịch sử nghĩa là những hành động độc tài và bá đạo của gia đình Fujiwara nhưng rất có ý nghĩa vì đã tạo thế đứng cho một thể loại văn học mới : truyện lịch sử. Lối viết sử bằng kana cũng bắt đầu với Eiga. B) Ôkagami (Đại kính): Tên sách có nghĩa là tấm Gương lớn, phản chiếu được lịch sử. Không rõ ai là tác giả nhưng được suy định nó đã ra đời vào đầu thế kỷ 12. Sách cũng là một tác phẩm lịch sử lấy quá trình nắm quyền hành và sự hưng thịnh của quyền thần Michinaga làm trung tâm, viết theo lối truyện ký khoảng thời gian giữa 850-1025 từ Thiên hoàng (thứ 55 ) Montoku (Văn Đức, trị vì 850-858) đến Thiên hoàng (thứ 68) Go-Ichijô (Hậu Nhất Điều, tri vì 1016-1036). Khác với Eiga chỉ ca tụng công đức Michinaga, Ôkagami đả động đến việc tranh chấp quyền hành chính trị của người đương thời và có ý thức phê phán sắc bén. Do đó, nhiều thuyết suy định tác giả của nó phải là một nhân vật có tầm cỡ như Fujiwara no Yoshinobu (Đằng Nguyên, Năng Tín), Minamoto no Toshiaki (Nguyên, Tuấn Minh), Minamoto no Akifusa (Nguyên, Hiển Phòng) hay Ôe no Masafusa (Đại Giang, Khuông Phòng) nhưng chưa lấy gì làm chắc. Nội dung câu truyện chia thành năm phần, xoay chung quanh hai nhân vật giả tưởng là Ôya Yozugi (Đại Trạch, Thế Kế, 190 tuổi) và Natsuyama Shigeki (Hạ Sơn, Phồn Thụ, 180 tuổi). Hai ông già nầy ngồi kể lại cho đám samurai trẻ tuổi những gì xảy ra trong quá khứ. -Phần thứ nhất: Giới thiệu khung cảnh và nhân vật kể truyện. -Phần thứ hai: Bản kỷ về 14 đời thiên hoàng, viết theo lối “kỷ truyện thể” của Tư Mã Thiên. Thiên hoàng Montoku đã là cháu ngoại của Fujiwara no Fuyutsugu (Đằng Nguyên , Đông Tự) rồi. Dòng Fujiwara đóng vai ngoại thích từ ấy. -Phần thứ ba: Liệt truyện 20 đời đại thần giữ chức Nhiếp Chính và Quan Bạch v.v…, chủ yếu toàn là người nhà Fujiwara. -Phần thứ tư: Truyện dòng dõi Fujiwara từ Kamatari (Liêm Túc, 614-669, vốn họ Nakatomi đời Nara), tổ phụ, cho đến Yorimichi (Lại Thông, 992-1074), con trai Michinaga.Vinh hoa cực điểm lúc thiên hoàng Go-Ichijô, cháu ngoại Michinaga lên ngôi. -Phần thứ năm: Truyện xưa, thơ xưa, sự việc liên quan đến nghệ thuật thuở trước. Tuy hai lão già kể truyện cho lớp sau nghe như “đối thoại” trên sân khấu và sự tích kể trong đó tuy có chỗ hoang đường nhưng phần nhiều dựa trên sự thực. Trước hết, xin trích đoạn nói về đại thần và học giả Sugawara no Michizane (Quản Nguyên Đạo Chân, 845-903), người được coi như bậc thánh về học vấn của Nhật, bị đi đày: Vào thời thiên hoàng Daigo, trong triều có quan Tả Đại Thần Fujiwara no Tokihira và Hữu Đại Thần Sugawara no Michizane cùng nhau coi chính sự. Về tuổi tác thì Tokihira cỡ 28, 29 còn Michizane 57, 58. Trong khi Sugawara là một học giả lỗi lạc thì sức học của Tokihira chỉ xoàng xoàng thôi nên thiên hoàng thường để ý tới Michizane hơn. Vì Tokihira cứ dèm pha là Michizane không thuộc gia đình Fujiwara như mình mà lại có thế lực nên rốt cuộc Michizane bị tống làm chức thủ hiến ở phủ Dazai thuộc Kyuushuu. Trên đường đi đày, Michizane viết một bài waka gửi cho pháp hoàng (thái thượng hoàng đã xuất gia) Uda bày tỏ nỗi lòng: Thân như rác nổi giữa dòng, Xin đưa sào vớt, dám mong lượng trời. Ở Kyuushuu Michizane ngày đêm mong đợi nỗi oan được tỏ để có thể về lại kinh đô nhưng không ai đoái hoài đến. Quá buồn rầu, hai năm sau ông qua đời. Đêm ông mất, linh hồn bay về kinh đô và trấn đóng ở cung Mantenguu vùng Kitano (bắc Kyôto). Từ đó trở đi, trong hoàng cung thường bị thần hỏa đến viếng. Đời thiên hoàng Enyuu, buổi sáng hôm sau, khi phải trùng tu lại cung cấm, bọn thợ mộc tìm thấy một tấm ván có một hàng chữ do mối đục rất khéo: Có xây lại cũng hoài công, Xây xong lại đốt, khi lòng chưa nguôi. Cũng như “ tấm ván đặt dưới mái nhà” (mune) không đặt khít vào chỗ được,” tấm lòng” (mune) của Michizane cũng chưa nguôi hận, cho dù có xây đi xây lại cung kia, ông cũng sẽ đến đốt cho bằng được. Sau đây là đoạn văn trong Ôkagami nói về khí phách của quyền thần Fujiwara no Michinaga thời còn trẻ: Có hôm, cha của Michinaga là Kane-ie than thở trước mặt ba người con: “Ta thấy thằng (anh con nhà bác) Kintô làm cái gì cũng nên nổi. Tại sao mà nó giỏi đến thế nhỉ? Con cái nhà nầy dẫm lên cái bóng của nó còn chưa được. Buồn quá đi mất!”. Nghe bố nói, Michitaka và Michikane chỉ biết cả thẹn. Mỗi mình Michinaga là khác hẳn hai anh, buột ra một câu : “ Bóng thì dẫm lên làm gì. Phải dẫm lên mặt chứ!”. Y như lời, về sau Michinaga lấn lướt Kintô một cách dễ dàng. Dù con gái Kintô có lấy con trai Michinaga là Norimichi nhưng Kintô sợ đến cả chàng rể, không bao giờ dám ngẩng mặt lên nhìn hắn. Một người làm nên cơ nghiệp như Michinaga thì lúc còn bé thật đã có Thần Phật ở bên cạnh phù hộ rồi vậy. Michinaga trong Ôkagami là một nhân vật vừa hiểm vừa ác. Ông ta đã từng phế đông cung thái tử để thay cháu ngoại mình vào đó (quyển 2, chương Morotada). Có lần nghe tin chính phi của thái tử (tức em gái mình) dan díu với ai có thai, đã tìm đến tự tay bóp vú bà ta cho đến lúc vọt sữa ra để kiểm chứng tin đồn (quyển 4, chương Kaneie). Ta hiểu là giới quí tộc được tả ra trong Ôkagami không giống chút nào với giới quí tộc “thanh cảnh” dưới ngòi bút của tác giả Truyện Genji. C) Các Tấm Gương Khác: Ôkagami đã mở màn cho một thể loại tên gọi “Tấm Gương” (Kagami-mono, Kính vật) nghĩa là loại văn học ghi chép, phản ánh những sự kiện lịch sử. Sau nó có Gương mới (Imakagami, Kim kính), Gương trong (Mizukagami, Thủy kính), thể biên niên, cuối thế kỷ 12), Gương thêm (Masukagami, Tăng kính), thể biên niên, giữa thế kỷ 14), cộng lại tất cả gọi là “Tứ kính” (4 truyện phản ánh lịch sử ). Imakagami viết khoảng sau năm 1174. Có thuyết cho tác giả là Fujiwara no Tametsune (Đằng Nguyên, Vi Kinh hay Thục Siêu). Sách viết lối truyện ký về khoảng thời gian 1025-1170 tức là từ năm Manjuu (Vạn Thọ thứ 2 (1025) đến giữa đời thiên hoàng (thứ 80 ) Takakura (Cao Thương, trị vì 1168-1180), dài ước 150 năm. Tuy chủ đề dựa theo sự thực lịch sử như Ôkagami nhưng văn vẻ chẳng kém Eiga. D) Phạm vi ghi chép của sử biên niên và truyện lịch sử Thời đại Sử Biên Niên (Lục quốc sử & Vinh hoa) Thiên hoàng Truyện Lịch Sử (Tứ kính) Nara (từ thượng cổ đến 850) -Nihon shoki -Shoku-nihongi -Nihon kôki Shoku-nihon kôki Thời chư thần Jinmu (thứ 1) đến Jinmyô (thứ 54) -Mizukagami (Gương trong) Heian (từ 850 đến 1036) -Nihon Montoku Tennnô Jitsuroku -Nihon Sandai Jitsuroku Montoku (55) đến Go-Ichijô (68) Ô-kagami (Gương lớn) Heian ( từ 1036 đến 1107) -Eiga Monogatari Go-Ichijô (68) đến Horikawa (73) Imakagami (Gương mới) Kamakura (từ 1183 đến 1339) Go-Toba (82) đến Go-Daigo (96) Masukagami (Gương thêm) TẠM KẾT
TẠM KẾT: Một sự kiện đặc sắc gây ngạc nhiên cho chúng ta là bộ môn tiểu thuyết dưới hình thức truyện kể đã xuất hiện rất sớm ở Nhật Bản (với Taketori khoảng năm 905) và ngạc nhiên hơn nữa nếu đem đặt sự kiện này giữa dòng lịch sử văn học nhân loại nói chung. Không những thế tiểu thuyết Nhật Bản lại vô cùng phong phú và phần lớn được gìn giữ lâu dài cho tới ngày nay qua biết bao nhiêu biến cố chiến tranh và thiên tai. Nó còn làm ta phải suy nghĩ lại trước khi lập luận là trong mọi lãnh vực, kể cả văn học, Nhật Bản không có gì, chỉ mô phỏng mà không biết sáng tạo. CHÚ GIẢI
[1] Vì tính cách tả chân cuộc sống và tâm lý quí tộc cung đình thời Heian trong truyện, Katô Shuuichi còn xem Utsuho như cuốn tiểu thuyết (novel) đầu tiên trong lịch sử không những Nhật Bản, Trung Quốc mà còn của cả thế giới! [2]Có thuyết cho là Mimurodo Inbe (Ngự Thất Hộ Trai Bộ), một viên quan coi việc tế tự thời cải cách năm Taika ( xem Hayashi Tetsuya trong Kokubungaku Nyuumon, 2004). [3] Yuzuru (Tịch Hạc, 1949) hay “Hạc Chiều”, kịch hiện đại nổi tiếng của Kinoshita Junji (Mộc Hạ Thuận Nhị, sinh năm 1914) đã mượn đề tài dân gian này. [4] Mô-típ thách người đến cầu hôn thực hiện những việc khó khăn thường thấy trong thần thoại như kiểu Hùng Vương thứ 18 thách Sơn Tinh và Thủy Tinh ở nước ta. [5] Xem Shin-Kokugo Binran, sđd, tr.81. [6] Minamoto-no-Shitagô (Nguyên, Thuận, 911-982), dòng dõi thiên hoàng Saga, một trong Lê Hồ Ngũ Nhân (Nashitsubo-no- Gonin) đã soạn Gosen Wakashuu (Hậu Tuyển Hòa Ca Tập). Còn là tác giả từ điển Wa.myôshô (Hòa Danh Sao). [7] Chuyện Cô Bé Lọ lem cũng được thấy rất sớm ở Trung Quốc theo một nghiên cứu mới đây về Dậu Dương Tạp Trở của Đoàn Thành Thức (thông tin của Discovery Channel, 2006). [8] Quan chế thời Heian phân biệt Tả, Hữu Đại Tướng ( Taishô), Trung Tướng (Chuujô) và Thiếu Tướng ( Shôjô) khi nói đến các chức võ quan cao cấp trong đội ngự lâm quân. [9] Để ý cách chơi chữ : Nise và Kuse đối với nguyên tác Ise. [10] Chức võ quan cao cấp hàng thứ ba trong đội cận vệ ngự lâm quân, sau đại tướng và trung tướng, chia làm hai cánh tả, hữu (tả cận, hữu cận). Thường xuất thân con nhà quí tộc. [11] Xin xem bài viết riêng về Truyện Genji (bài số 5) [12] theo Katô, Shuuichi, sđd [13] Trong một chừng mực nào đó, Koto (Cổ Đô), tác phẩm hiện đại của Kawabata Yasunari (1899-1972) cũng có cốt truyện tương tự. [14] Tsutsumi Chuunagon vốn là tên người đời gọi ông Fujiwara no Kanesuke (Đằng Nguyên, Kiêm Phụ, 877-933), vì ông sống cạnh bờ đê (tsutsumi) con sông Kamo ở Kyôto. Cuộc sống của ông để lại nhiều giai thoại nhưng liên quan giữa ông và tên sách chưa thiết lập được. [15] Thời xưa, tên nhà quyền quí được đọc theo âm Hán (onyomi) như Chương Tử đọc là Shôshi, Định Tử đọc là Teishi. Như thế , trịnh trọng hơn. Ngày nay, dù là người trong hoàng tộc, tên cũng đọc được theo lối âm Nhật (kunyomi). Sôshi thành ra Akiko, Teishi ra Sadako. Khi viết sách, các học giả Nhật đọc theo âm Hán, giáo sư René Sieffert chẳng hạn lại đọc theo âm Nhật. [16] Fujiwarano Michinaga có bà cô là hoàng hậu, 2 chị em gái lại là hoàng hậu của 2 thiên hoàng, bốn con gái lấy 3 thiên hoàng và là ông ngoại của 2 thiên hoàng khác. |
|
#6
|
||||||||
|
||||||||
|
Chương 5 : Truyện Genji (Genji Monogatari) Di sản văn hóa thế giới. Niềm tự hào của Nhật Bản. Nguyễn Nam Trân ![]() Trích:
TIẾT I
TIẾT I: ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HỌC TRUNG CỔ NHẬT BẢN : Danh từ trung cổ dùng để chỉ giai đoạn ngót nghét bốn thế kỷ từ khi vương triều Nhật Bản thiên đô về Hei-an kyô (năm Diên Lịch, Enryaku 13 hay 794) cho đến khi mạc phủ Kamakura được thiết lập (Kiến Cữu, Kenkyuu 3 tức 1192). Những người đóng vai trò chủ yếu trong nền văn học trung cổ thời Heian này không ai khác hơn là quí tộc triều đình Hei-an quây quần chung quanh dòng họ Fujiwara (Đằng Nguyên) nắm quyền bính thời bấy giờ. Cuối thời Nara, chính trị đâm vào chỗ bế tắc cho nên việc thiên đô từ Nara về Hei-an (Kyôto) có mục đích xây dựng lại một trật tự chính trị và pháp độ mới. Trước hết là mô phỏng Trung Quốc từ việc kiến trúc đô thành sau đến việc tiếp thu nghi thức của nhà Đường.Thơ văn chữ Hán trở thành văn học cửa công, đồng nghĩa với sinh hoạt cung đình. Thơ quốc âm Waka bị đẩy lui vào bóng tối, chỉ được dùng trong chỗ riêng tư. Đó là thời điểm vương triều xuống sắc chỉ biên soạn ba thi tập chữ Hán, nổi tiếng nhất là Ryôun-shuu (Lăng Vân Tập). A) Sự phục hồi văn chương quốc âm : Tuy nhiên, từ hậu bán thế kỷ thứ 9, trong tầng lớp quí tộc đã chớm thấy khuynh hướng suy nghĩ độc lập và ý thức muốn thoát khỏi ảnh hưởng nhà Đường. Cùng lúc với sự sáng chế ra chữ kana (giả danh) để ghi các âm tiết , thơ quốc âm đã hưng thịnh trở lại để trở thành một thể loại văn chương có thể đối đầu với Hán văn. Thơ Waka viết bằng kana đã phát triển theo một đường lối riêng và các kỹ thuật như engo[1] (duyên ngữ) và kakekotoba[2] (quải từ) đã đem đến cho nó một sức sống mới.Các nhà quí tộc đã tụ tập nhau tổ chức những buổi xướng họa thi tài (ca hợp hay uta-awase). Rốt cục đến đầu thế kỷ thứ 10, có sắc chiếu của thiên hoàng ra lệnh biên soạn “Tập thơ Waka Từ Xưa Đến Nay” Kokin Waka-shuu (Cổ kim Hòa ca tập) và từ đó thơ quốc âm được nâng cao. Một khi kana đã được dùng rộng rãi trong đời sống hằng ngày rồi thì tự nhiên tản văn kana cũng phát triển theo và dưới nhiều dạng thức khác nhau. Văn chương với hình thức hư cấu dựa trên những truyền thuyết dân gian nhờ thế đã ra đời. Đó là thể loại truyện hư cấu (tsukuri banashi). Ngoài ra, loại truyện diễn ca (uta monogatari) xuất phát từ thế giới quí tộc cung đình và mang tính cách trữ tình đặc biệt của thế giới đó cũng được viết lại bằng tản văn. Về thể loại thứ nhất, ta có thể kể đến những tác phẩm như “Truyện ông già đốn trúc” (Taketori monogatari, Trúc thủ vật ngữ), “Truyện bộng cây” (Utsuho monogatari, Vũ tân bảo vật ngữ), “Truyện hầm nhà” (Ochikubo monogatari, Lạc oa vật ngữ)… thường nói về những kẻ gặp khốn khó hay bị ngược đãi phải sống trong bộng cây hay dưới hầm nhà nhưng sau nhờ có tài hay có sắc mà tìm được hạnh phúc. Loại thứ hai gồm những tác phẩm như “Truyện ở Ise” (Ise monogatari, Y Thế vật ngữ), “Truyện vùng Yamato” (Yamato monogatari, Đại Hòa vật ngữ) hay “Truyện chàng Heichuu” (Heichuu monogatari, Bình Trung vật ngữ) là những truyện phiêu lưu tình cảm và nhục cảm. Bên cạnh nó, ta thấy văn học chính thức với thể văn ghi chép những sự việc bằng Hán văn mang tên là thể nikki (nhật ký) cũng bắt đầu sử dụng chữ kana. Đầu tiên là “Nhật ký Tosa” Tosa nikki (Thổ Tá nhật ký), ghi chép chuyến đi từ địa phương về triều của một vị quan nhưng đã bộc lộ những nghiền ngẫm có tính cách nội tâm. Chính phương pháp biểu hiện bằng tản văn của Tosa nikki đã khơi mào cho nền văn học nhật ký của giới nữ lưu về sau. B) Vai trò của nữ giới trong văn học: Trong suốt thời gian từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 11, lúc chính trị Nhật Bản nằm trong tay chức sắc Sesshô[3] (Nhiếp chính) và Kanpaku (Quan bạch) [4] (thời gọi là Nhiếp Quan chính trị), giới phụ nữ mới là những người đã đóng góp rất nhiều cho văn học kana tuy tên tuổi của họ nhiều khi không truyền lại tới đời sau. Người mẹ của Fujiwara Michitsuna (Đằng Nguyên, Đạo Cương) (không ai rõ tên) vì muốn phê bình tính hư cấu của văn học monogatari (văn học truyện kể) nên đã viết tác phẩm “Truyện Kiếp Phù Du” Kagerô monogatari (Tinh Đình[5] vật ngữ) để qua đó, bày tỏ quan điểm chuộng sự trung thực và sự tự do biểu lộ tình cảm trong lối viết truyện của mình. Cách viết của bà đã ảnh hưởng rất nhiều đến những tác giả nữ giới về sau và ta đã thấy nó qua các tác phẩm như “Nhật ký bà Izumi Shikibu” Izumi Shikibu nikki (Hòa Tuyền Thức Bộ nhật ký), “Nhật ký bà Murasaki Shikibu” Murasaki Shikibu nikki (Tử Thức Bộ nhật ký), “Nhật Ký thời ở Sarashina” Sarashina nikki (Cánh Cấp nhật ký). Trong tác phẩm của các cây viết lúc ấy còn có Truyện Genji tức Genji monogatari (Nguyên Thị vật ngữ) và Sách gối đầu tức Makura no sôshi (Chẩm thảo tử). Khỏi phải nói, tác phẩm lừng danh Truyện Genji là thành quả tột bậc của văn chương nữ giới. Qua nó, người ta thấy có thể chỉ sử dụng hư cấu cũng có thể tìm hiểu đến ngọn ngành tâm lý thực sự của con người. Bên cạnh Genji monogatari, Makura no sôshi (Chẩm thảo tử) là tập tùy bút (zuihitsu, thể loại văn học mới của thời đó) tinh tế và trau chuốt, vẻ lại được thế giới mỹ quan với bối cảnh là sinh hoạt cung đình. Sau khi đạt được đỉnh cao là Truyện Genji, ta sẽ thấy văn học truyện kể monogatari dần dần suy thoái.Tuy hãy có những trường thiên như “Nửa đêm thức giấc” Yoru no Nezame (Dạ bán Tẩm Giác), Truyện quan tham nghị Hamamatsu” Hamamatsu Chuunagon monogatari (Tân Tùng Trung Nạp Ngôn vật ngữ), “Truyện tướng Sagoromo” Sagoromo monogatari (Hiệp Y vật ngữ) hay đoản thiên như “Truyện do quan tham nghị “bờ đê” Tsutsumi góp nhặt” Tsutsumi Chuunagon monogatari (Đê Trung Nạp Ngôn vật ngữ) nhưng không tác phẩm nào có thể so sánh nổi với Truyện Genji. TIẾT II
TIẾT I: ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HỌC TRUNG CỔ NHẬT BẢN : Danh từ trung cổ dùng để chỉ giai đoạn ngót nghét bốn thế kỷ từ khi vương triều Nhật Bản thiên đô về Hei-an kyô (năm Diên Lịch, Enryaku 13 hay 794) cho đến khi mạc phủ Kamakura được thiết lập (Kiến Cữu, Kenkyuu 3 tức 1192). Những người đóng vai trò chủ yếu trong nền văn học trung cổ thời Heian này không ai khác hơn là quí tộc triều đình Hei-an quây quần chung quanh dòng họ Fujiwara (Đằng Nguyên) nắm quyền bính thời bấy giờ. Cuối thời Nara, chính trị đâm vào chỗ bế tắc cho nên việc thiên đô từ Nara về Hei-an (Kyôto) có mục đích xây dựng lại một trật tự chính trị và pháp độ mới. Trước hết là mô phỏng Trung Quốc từ việc kiến trúc đô thành sau đến việc tiếp thu nghi thức của nhà Đường.Thơ văn chữ Hán trở thành văn học cửa công, đồng nghĩa với sinh hoạt cung đình. Thơ quốc âm Waka bị đẩy lui vào bóng tối, chỉ được dùng trong chỗ riêng tư. Đó là thời điểm vương triều xuống sắc chỉ biên soạn ba thi tập chữ Hán, nổi tiếng nhất là Ryôun-shuu (Lăng Vân Tập). A) Sự phục hồi văn chương quốc âm : Tuy nhiên, từ hậu bán thế kỷ thứ 9, trong tầng lớp quí tộc đã chớm thấy khuynh hướng suy nghĩ độc lập và ý thức muốn thoát khỏi ảnh hưởng nhà Đường. Cùng lúc với sự sáng chế ra chữ kana (giả danh) để ghi các âm tiết , thơ quốc âm đã hưng thịnh trở lại để trở thành một thể loại văn chương có thể đối đầu với Hán văn. Thơ Waka viết bằng kana đã phát triển theo một đường lối riêng và các kỹ thuật như engo[1] (duyên ngữ) và kakekotoba[2] (quải từ) đã đem đến cho nó một sức sống mới.Các nhà quí tộc đã tụ tập nhau tổ chức những buổi xướng họa thi tài (ca hợp hay uta-awase). Rốt cục đến đầu thế kỷ thứ 10, có sắc chiếu của thiên hoàng ra lệnh biên soạn “Tập thơ Waka Từ Xưa Đến Nay” Kokin Waka-shuu (Cổ kim Hòa ca tập) và từ đó thơ quốc âm được nâng cao. Một khi kana đã được dùng rộng rãi trong đời sống hằng ngày rồi thì tự nhiên tản văn kana cũng phát triển theo và dưới nhiều dạng thức khác nhau. Văn chương với hình thức hư cấu dựa trên những truyền thuyết dân gian nhờ thế đã ra đời. Đó là thể loại truyện hư cấu (tsukuri banashi). Ngoài ra, loại truyện diễn ca (uta monogatari) xuất phát từ thế giới quí tộc cung đình và mang tính cách trữ tình đặc biệt của thế giới đó cũng được viết lại bằng tản văn. Về thể loại thứ nhất, ta có thể kể đến những tác phẩm như “Truyện ông già đốn trúc” (Taketori monogatari, Trúc thủ vật ngữ), “Truyện bộng cây” (Utsuho monogatari, Vũ tân bảo vật ngữ), “Truyện hầm nhà” (Ochikubo monogatari, Lạc oa vật ngữ)… thường nói về những kẻ gặp khốn khó hay bị ngược đãi phải sống trong bộng cây hay dưới hầm nhà nhưng sau nhờ có tài hay có sắc mà tìm được hạnh phúc. Loại thứ hai gồm những tác phẩm như “Truyện ở Ise” (Ise monogatari, Y Thế vật ngữ), “Truyện vùng Yamato” (Yamato monogatari, Đại Hòa vật ngữ) hay “Truyện chàng Heichuu” (Heichuu monogatari, Bình Trung vật ngữ) là những truyện phiêu lưu tình cảm và nhục cảm. Bên cạnh nó, ta thấy văn học chính thức với thể văn ghi chép những sự việc bằng Hán văn mang tên là thể nikki (nhật ký) cũng bắt đầu sử dụng chữ kana. Đầu tiên là “Nhật ký Tosa” Tosa nikki (Thổ Tá nhật ký), ghi chép chuyến đi từ địa phương về triều của một vị quan nhưng đã bộc lộ những nghiền ngẫm có tính cách nội tâm. Chính phương pháp biểu hiện bằng tản văn của Tosa nikki đã khơi mào cho nền văn học nhật ký của giới nữ lưu về sau. B) Vai trò của nữ giới trong văn học: Trong suốt thời gian từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 11, lúc chính trị Nhật Bản nằm trong tay chức sắc Sesshô[3] (Nhiếp chính) và Kanpaku (Quan bạch) [4] (thời gọi là Nhiếp Quan chính trị), giới phụ nữ mới là những người đã đóng góp rất nhiều cho văn học kana tuy tên tuổi của họ nhiều khi không truyền lại tới đời sau. Người mẹ của Fujiwara Michitsuna (Đằng Nguyên, Đạo Cương) (không ai rõ tên) vì muốn phê bình tính hư cấu của văn học monogatari (văn học truyện kể) nên đã viết tác phẩm “Truyện Kiếp Phù Du” Kagerô monogatari (Tinh Đình[5] vật ngữ) để qua đó, bày tỏ quan điểm chuộng sự trung thực và sự tự do biểu lộ tình cảm trong lối viết truyện của mình. Cách viết của bà đã ảnh hưởng rất nhiều đến những tác giả nữ giới về sau và ta đã thấy nó qua các tác phẩm như “Nhật ký bà Izumi Shikibu” Izumi Shikibu nikki (Hòa Tuyền Thức Bộ nhật ký), “Nhật ký bà Murasaki Shikibu” Murasaki Shikibu nikki (Tử Thức Bộ nhật ký), “Nhật Ký thời ở Sarashina” Sarashina nikki (Cánh Cấp nhật ký). Trong tác phẩm của các cây viết lúc ấy còn có Truyện Genji tức Genji monogatari (Nguyên Thị vật ngữ) và Sách gối đầu tức Makura no sôshi (Chẩm thảo tử). Khỏi phải nói, tác phẩm lừng danh Truyện Genji là thành quả tột bậc của văn chương nữ giới. Qua nó, người ta thấy có thể chỉ sử dụng hư cấu cũng có thể tìm hiểu đến ngọn ngành tâm lý thực sự của con người. Bên cạnh Genji monogatari, Makura no sôshi (Chẩm thảo tử) là tập tùy bút (zuihitsu, thể loại văn học mới của thời đó) tinh tế và trau chuốt, vẻ lại được thế giới mỹ quan với bối cảnh là sinh hoạt cung đình. Sau khi đạt được đỉnh cao là Truyện Genji, ta sẽ thấy văn học truyện kể monogatari dần dần suy thoái.Tuy hãy có những trường thiên như “Nửa đêm thức giấc” Yoru no Nezame (Dạ bán Tẩm Giác), Truyện quan tham nghị Hamamatsu” Hamamatsu Chuunagon monogatari (Tân Tùng Trung Nạp Ngôn vật ngữ), “Truyện tướng Sagoromo” Sagoromo monogatari (Hiệp Y vật ngữ) hay đoản thiên như “Truyện do quan tham nghị “bờ đê” Tsutsumi góp nhặt” Tsutsumi Chuunagon monogatari (Đê Trung Nạp Ngôn vật ngữ) nhưng không tác phẩm nào có thể so sánh nổi với Truyện Genji. Genji đến thăm Tamazakura Nàng là một nhân vật quan trọng trong Truyện Genji vì có đến 10 chương nói về nàng. Có thể nàng cũng chỉ là một cái cớ để Genji (hay chính tác giả Murasaki Shikibu) có dịp trình bày nhân sinh quan (về giáo dục con cái, âm nhạc hay tiểu thuyết) của mình. Nàng là đưa con rơi của Tôno Chuujô, người bạn và anh vợ của Genji, và nàng Yuugao, người đẹp ma quái đã mất sớm năm 19 tuổi.Vì Genji luyến tiếc mẹ nàng nên đem về nhà bảo bọc. Khi lớn lên, tài mạo tuyệt vời nên có nhiều vương tôn công tử theo đuổi, trong số đó có Kashiwagi, người anh cùng cha khác mẹ nhưng không biết tông tích nàng, lẫn ông cha nuôi đa tình Hikaru Genji, người muốn biến nàng thành một Murasakino Ue thứ hai. Câu chuyện sau đây xãy ra lúc Genji 35 tuổi, Tamakazura 21 và Murasaki no Ue 25: Genji luôn luôn nghĩ đến Tamakazura, chàng thường đến thăm nàng và giúp đỡ mọi chuyện.…Một buổi chiều, chàng lẳng lặng tìm đến phòng nàng. Tamakazura đang ngồi trước án thư, kính cẩn cúi đầu chào rồi e thẹn nhìn qua chỗ khác, trông càng thêm đẹp. Bất chợt, Genji thấy nàng sao mà giống mẹ nàng quá. Chàng muốn khóc. -Cô tha thứ cho ta, nhưng ta không thể cầm lòng. Khi ta gặp cô lần đầu, ta không tưởng cô giống mẹ cô đến mức này… Có một quả quít trong lẳng trái cây trước mặt nàng. “Hương quít tay áo người xưa, Còn vương tay áo em thơ bây giờ”. -Sau bao nhiêu năm rồi, ta không làm sao quên được. Nhiều khi ta nghĩ mình đang nằm mơ, và giấc mơ ấy choáng ngợp hồn ta. Xin cô tha lỗi cho ta sự đường đột. Thế rồi Genji cầm lấy tay nàng… (Trích chương 24: Tamakazura) Thế nhưng, Genji đã thất bại trong việc chinh phục cô con gái nuôi. Nàng lấy một ông chồng già vai chú của thiên hoàng và là nhân vật quan trọng thứ ba trong triều sau Genji và Tô no Chuujô. Có lẽ Tamakazura muốn lẩn tránh người cha “nguy hiểm” Genji và cũng tìm sự bảo bọc về đời sống vật chất như những người đàn bà thời đó biết tính toán khi tìm đến hôn nhân. Sau khi chồng chết, Tamakazura nuôi dạy năm đứa con, ba trai hai gái. Hai người con gái nàng sau trở thành phi tần của hai thiên hoàng nhưng cũng gặp cảnh ghen tuông trong cung, làm nàng sầu muộn không ít. h) Akashi no Ue (Hòn Đá Sáng, Cát Trắng): Nàng là người địa phương Akashi (vùng đảo Awaji phía nam Kobe bây giờ) chứ không phải người kinh đô, đã kết hôn với Genji trong lúc chàng bị đi đày. Vốn người tự phụ, nếu không gặp ai xứng ý thì không chịu lấy chồng, từ chối bao nhiêu lời cầu hôn cho đến khi gặp Genji, con người lưu lạc. Nàng là mẫu người có ý chí, Genji vừa yêu vừa kính trọng. Thuở nhỏ nàng nghe lời cha, về già nàng sống vì con (con gái nàng sau lấy thiên hoàng, gọi là hoàng hậu Akashi)..Tuy nhiên, nàng cũng tỏ ra là người dào dạt tình cảm và nhục cảm như thấy qua cảnh tái ngộ với chồng sau ba năm xa cách. Là người vùng biển Akashi, nơi có cát trắng tùng xanh, phong cảnh đẹp như tên của nàng. Lòng nàng lúc nào cũng hướng về cố hương nên đã trang trí phủ đệ ở Kyôto sao cho gợi nhớ được khung cảnh quê nhà. TIẾT III
TIẾT III: GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG CỦA TRUYỆN GENJI: A) Phương pháp cấu tứ của Truyện Genji: Như chúng ta có thể tự hỏi, Murasaki Shikibu đã lấy đâu ra tư liệu để viết một cuốn tiểu thuyết dài và giàu có tình tiết như vật. Thiết tưởng bà có hai nguồn: nguồn Nhật Bản và nguồn Trung Quốc [24]. Có thuyết cho rằng mối tình của nhân vật hoàng đế Kiritsubo (Đồng Hồ) và nàng Kôi (CánhY), mẹ của, Genji, giống như tình cảnh của thiên hoàng Kazan (Hoa Sơn, 968-1008) với người yêu của ông,. Bà hoàng hậu này chết lúc mang thai đứa con của hai người và làm ông thương nhớ khôn nguôi, đến nổi thoái vị và bỏ đi tu. Truyện có chép trong Eiga Monogatari (Vinh Hoa Vật Ngữ) , cuốn sử truyện Nhật Bản chép sự tích thời đó với nhiều tình tiết giống y trong Truyện Genji tuy chưa có thể chứng minh là giữa hai cuốn, cuốn nào đã nhận ảnh hưởng của cuốn nào. Ngoài ra, trong Truyện Genji, Murasaki Shikibu có nói về vai trò tư liệu của Tam Sử Ngũ Kinh[25] tức là những tác phẩm Trung Quốc. Khi đọc Genji, người ta dễ liên tưởng đến những gì đã chép trong Sử Ký, Hán Thư và Bạch Thị Văn Tập, đặc biệt về mối tình của Hán Vũ Đế với Lý Phu Nhân và của Đường Minh Hoàng với Dương Quí Phi. Nhất là việc hai vị hoàng đế đa tình trên đã nhờ đến phương thuật để đi tìm người yêu dấu bên kia thế giới, cũng như hoàng đế Kiritsubo đi tìm nàng Kôi (mẹ Genji), Genji đi tìm Murasaki no Ue và con trai ông, Kaoru, đi tìm Ukifune. Đó là chưa kể ngôn ngữ thi ca của Bạch Cư Dị và Nguyên Chẩn bàng bạc phảng phất khắp trong Truyện Genji.Trong số đó, bài tân nhạc phủ Lý Phu Nhân, bài Trường Hận Ca và Trường Hận Ca Truyện (tác phẩm tản văn xuất phát từ Trường Hận Ca) xem ra có ảnh hưởng to lớn hơn cả. Nhà nghiên cứu Shinma Yoshikazu[26] nhấn mạnh đến vai trò của Bạch Cư Dị trong cách cấu tứ của Truyện Genji Không những ông cho biết không khí của Trường Hận Ca và Lý Phu Nhân đã bãng lãng khắp cuốn truyện, làm nổi bật chủ đề “người đàn bà yêu dấu đã mất và người đàn ông luyến tiếc đau khổ” mà còn đặt mối tương quan giữa bài “Hoa Ngô Đồng”(Đồng Hoa ) (thơ Nguyên Chẩn) và “Đáp Lại Bài Hoa Ngô Đồng” Đáp Đồng Hoa (thơ Bạch Cư Dị) cũng như hai câu thơ trong Trường Hận Ca (Xuân phong đào lý hoa khai nhật, Thu vũ ngô đồng lạc diệp thì) với nhân vật hoàng đế Đồng Hồ (Kiritsubo). Ông tự hỏi bài “Bàn Về Hôn Nhân” (Nghị Hôn ) (trong loạt thơ Tần Trung Ngâm) phải chăng đã gợi hứng để tác giả Truyện Genji viết về cuộc thảo luận về phụ nữ của bốn chàng trai một đêm mưa tháng năm trong chương Hahakigi (Cây Kim Tước Chi), còn hình ảnh của con chồn biến thành mỹ nữ để mê hoặc người trong các bài thơ “Con chồn gò xưa”(Cổ Trủng Hồ ) hay “Bài hành về người họ Nhiệm” (Nhiệm Thị Hành) vv…có dính dáng gì đến nàng Yuugao u sầu và yếu ớt như người của cõi âm mà Genji đã gặp trong đêm khuya. Cũng thế, mấy câu thơ sau đây của ông Bạch tả hoa đào núi Lư Sơn (có chép lại trong tập thơ Nhật Shinsen ryôei-shuu tức Tân tuyển lãng vịnh tập): Nhân gian tứ nguyệt phương phi tận, Sơn tự đào hoa thủy thịnh khai. Trường hận xuân qui vô mịch xứ, Bất tri chuyển nhập thử trung lai. (Đại Lâm Tự Đào Hoa) Hoa đào chùa Đại Lâm. Tháng tư màu thắm cõi người phai, Chùa ở non cao, hoa vẫn đầy. Trách mãi đi không cho biết chốn, Ai ngờ xuân trở gót về đây. giống y hệt cảnh tượng lần đầu Genji gặp cô bé mồ côi Murasaki, chín mười tuổi, đang sống với sư bà trong ngôi chùa trên núi Kitayama. ở Kyôto : Trên núi Kitayama, có một cái am nhỏ. Lúc ấy vào khoảng cuối tháng ba...Trong khi hoa ở kinh đô đã bắt đầu rụng thì trên núi hoa anh đào hãy còn nở đầy (Truyện Genji, chương Waka Murasaki): Điều nầy làm người ta tự hỏi có phải vì thấm nhuần Hán văn mà Murasaki Shikibu đã chuyển được văn thơ họ Bạch qua Hòa văn một cách tài tình, tự nhiên như cách bà diễn tả trong chương sách nói trên. B) Đặc điểm của văn phong Truyện Genji: Nói về văn phong của Genji, ta có thể nêu ra hai đặc điểm của nó. Thứ nhất, chính trong Truyện Genji, ở chương tường thuật về cuộc đàm luận giữa Hikari Genji với cô con gái nuôi là nàng Tamakazura (Ngọc Mạn) (xem đoạn văn gọi là Lớp Đom Đóm, Hotari no Maki = Huỳnh Quyển) về tương quan giữa sự thực và hư cấu trong tiểu thuyết đã bộc lộ một cách gián tiếp quan điểm về “ tính chân thực của hư cấu ” đề xướng bởi Murasaki Shikibu. Bà từng phê phán tính hư cấu trong các tác phẩm từ trước đến đó chỉ là hư cấu thuần túy không giúp ta nhìn thấy sự thực của cuộc sống. Theo lối nghĩ của bà, chỉ có cách đào sâu tâm lý thực sự và đa diện của từng người chung quanh một nhân vật hư cấu chủ chốt như ông hoàng Genji mới giúp ta hiểu về con người một cách đầy đủ. Murasaki Shikibu đã mượn lời Hikaru Genji để bày tỏ “quan điểm viết tiểu thuyết” của mình như sau : Genji nhìn đống bản thảo và tranh ảnh bày la liệt rồi bảo. “ Kìa, lại mê mấy thứ nầy à. Thế không bị nó quấy rầy sao ? Các bà các cô hình như sinh ra để mà bị lừa. Đã thừa biết chuyện bịa thì nhiều còn chuyện có thực rất ít mà vẫn cứ vùi đầu vào mấy cuốn truyện để mắc lỡm. Một đêm mưa tháng năm ẩm ướt như thế nầy mà tóc có rối cũng không thèm chải gỡ, lại cứ ngồi đó sao chép. ” Chàng lại cười : “Mà nầy ! Thật ra nếu không có đống giấy cũ nầy chắc chúng mình không có cách nào giải khuây nhỉ ! Hơn nữa, tuy là truyện bịa đặt thật đấy nhưng nhìn vào, thấy nội dung của nó cũng làm cho mình thấm thía và các chi tiết có đầu đuôi hẳn hoi. Đành rằng biết chuyện không có thực nhưng cũng bị lôi cuốn. Như cái đoạn nói về sự khổ tâm của cô công nương (trong Truyện ni cô đền Sumiyoshi, đã nhắc đến ở đoạn trước) thì mình cũng có thông cảm phần nào với cảnh ngộ của nàng. Đôi khi, một số chi tiết phi lý hay khoa trương mình biết không thể có được, lại thu hút mình.Lấy bình tĩnh để nghe đọc lại lần nữa, tuy bực dọc bị thiên hạ đánh lừa, nhưng tâm hồn lại dao động vì những chi tiết kể ra trong các truyện ấy. Mấy lúc nầy, đôi khi ta thử nghe trộm truyện mà con gái ta (công chúa Akashi) hay mấy bà cung nhân trong nhà đọc lên thì thấy ở trên đời thật có nhiều tay tán phét giỏi thật. Chắc là bọn đã quen nói dối, mở miệng ra là thành truyện. Tuy vậy, chắc cũng có kẻ không làm như thế chứ nhỉ ! Tamakazura (con gái nuôi của Genji) đẩy nghiên mực qua một bên , trả đũa: -Cha dạy chí phải. Những người quen nói dối như cha thì tiếp nhận nó như là chuyện bịa đặt mà thôi. Còn con thì hoàn toàn tin đó là sự thực. Genji cười bảo : -Ta có hơi khiếm nhã khi phê bình mấy cuốn truyện của các cô. Truyện kể có lẽ là cái ghi chép những gì xảy ra từ thời các thần cho đến thời đại của con người.Hai cuốn sử Nihongi (Nhật Bản Kỷ) và Nihon shoki (Nhật Bản thư kỷ) chỉ chép được một phần nhỏ những chuyện đó. Cho nên, theo ta nghĩ, truyện kể (của các cô) mới làm được phận sự ghi chép đầy đủ và chân thật sinh hoạt của con người. Chàng lại nói tiếp : - Truyện kể tuy nói về những con người đang sống thực nhưng không phải một thứ sự thật đơn thuần, xảy ra thế nào thì chép thế ấy. Ta chỉ bắt đầu viết khi có những chuyện tốt và chuyện xấu. Ta phải đem những điều tai nghe mắt thấy truyền lại cho đời sau chứ không được giữ riêng trong lòng mình. Nếu người kể truyện muốn nói chuyện tốt đẹp thì chỉ giữ lại điều tốt, còn như muốn hấp dẫn người nghe thì đưa ra những chuyện xấu xa hoặc chuyện lạ lùng. Xấu hay tốt, đều là những chuyện thuộc về thế giới con người mà ! ” (Trích Chương 25 : Hotaru) Đặc điểm văn học thứ hai được bộc lộ qua lời phê bình của nhà nghiên cứu thời Edo tên là Motoori Norinaga (Bản Cư, Tuyên Trường, 1730-1801) trong tập “Cái lược gỡ những hạt ngọc của Truyện Genji” hay Genji Monogatari tama no kogushi (Nguyên Thị vật ngữ ngọc tiểu trất) khi ông muốn tìm tòi (chải gỡ, vì kogushi có nghĩa là “ cái lược nhỏ ”) cái hay của Genji. Ông bảo khác với các tiểu thuyết đậm mầu triết lý và đạo đức khuyên người làm lành lánh dữ của Nho Giáo và Phật Giáo cho đến thời đó, Genji chỉ muốn trình bày phản ứng tâm lý và tình cảm con người vốn có khi đứng trước một người khác phái đáng yêu, một cảnh tượng khiến mủi lòng hay trước vẻ đẹp thiên nhiên. Lúc đó trong lòng con người tất phải thưởng thức được niềm xúc động chỉ bộc lộ ra khi chủ thể quan sát vào khách thể đối tượng hòa nhập làm một. Motoori gọi đó là khả năng bắt gặp cái Mono-no-Aware[27] hay “ hồn của sự vật ” hay “ cái đẹp đến se sắt con tim gợi ra từ những vật mong manh ”[28], một đặc điểm hàm chứa trong văn chương. Mono là đối tượng khách quan trong khi aware là tình cảm chủ quan, Mono no aware chỉ có khi cả hai bên gặp gỡ nhau. Mono no aware là một khái niệm rất khó dịch nhưng theo lời giảng giải trong Truyện Genji thì nếu con người đứng trước một người, một cảnh, một sự vật đáng lẽ làm mình cảm động mà không cảm động là người không hiểu gì về Mono no aware và như thế, không có trái tim người. C) Vị trí Truyện Genji trong văn học Nhật Bản: Trong dòng văn học Nhật Bản, Truyện Genji đến sau Utsuho và Ochikubo, đã cho ta thấy sự tiến triển của tiểu thuyết quốc âm kana. Trước tiên, không cần nói đến số trang thì ta còn thấy bố cục của câu chuyện nhất quán hơn, những chi tiết thần thánh siêu nhiên đã bị lược bỏ khá nhiều. Lối kể chuyện có tính cách khách quan và tình tiết trong truyện rất gần với đời thường, tâm lý nhân vật được phân tích một cách tinh tế. Nhân vật Genji đóng một vai trò quan trọng hơn nhân vật Nakatada của Truyện bộng cây (Utsuho) nên điều đó đã giúp Truyện Genji có một cốt truyện mạch lạc hơn. Tuy là một con người lý tưởng, chàng Genji gần gũi với người thường hơn trong khi Nakatada như được thần thánh hóa (chàng Nakatada học được tiếng đàn thần nhân truyền lại cho tổ phụ ) nên kém vẻ xác thực. Về mặt ngôn ngữ, Genji hãy còn sử dụng một số ngôn ngữ hạn chế và câu văn với hình thức mơ hồ gây khó khăn cho độc giả thời nay. Có lẽ độc giả của Murasaki Shikibu chỉ là quí tộc cung đình đã có với nhau một số qui ước trong ngôn ngữ lẫn cách sống nên dễ dàng tiếp nhận nó hơn chúng ta. Điểm thứ ba cần phải nhắc đến là màu sắc Phật giáo, nồng cốt triết lý của truyện, một phần đến từ truyền thống Phật giáo có từ xưa trong cung đình, một phần do tư tưởng của Tịnh Độ Tông. Luân lý của truyện là cuộc đời bèo bọt, vinh hoa chỉ thoáng qua và gieo nhân thì phải gặt quả (tư tưởng gô tức nghiệp và sukuse hay túc thế). Đàn ông đàn bà thí phát qui y được xem như là một cách giải quyết vấn đề cho chính bản thân, cho người chung quanh và cho cả tác giả Murasaki Shikibu. Tám trong mười người đàn bà dính dáng tới ông hoàng Genji đã gọt tóc làm ni, còn hai người kia chết trẻ. Về bút pháp, ta thấy tác giả đã dàn dựng tài tình những tình huống để trình bày chuyển biến của thái độ các nhân vật. Ví dụ nàng “Xác Ve” Utsusemi (Không Thiền) thời con gái tôn thờ hình ảnh chàng Genji thế nào mà khi đã lấy chồng, một ông quan già đi phó nhậm phương xa, đã cự tuyệt và chạy trốn tình yêu của Genji khi con người hào hoa nàng ôm ấp trong mộng nay thực sự tìm đến với nàng. Một thí dụ khác là thái độ (thủ phạm) của Genji lúc chàng có mối tình cấm đoán với bà dì Fujitsubo và thái độ (nạn nhân) lúc chàng gặp cảnh vợ mình ngoại tình với con trai bạn mình là Kashiwagi. Tác giả Murasaki Shikibu cũng khéo léo sử dụng yếu tố thời gian để dẫn dắt câu chuyện như khi đem cái bóng của quá khứ trùm lên cuộc sống hiện tại của các nhân vật : hoàng đế Kiritsubo yêu Fujitsubo vì nàng giống người vợ mệnh yểu của mình, Genji cũng yêu nàng vì nàng giống mẹ chàng. Genji bị Murasaki no Ue thu hút vì nàng là hình ảnh của Fujitsubo. Chàng ta lại tiến gần đến với Tamazakura lại vì nàng là hiện thân của Yuugao, mẹ nàng và người yêu cũ của Genji. Kaoru yêu Uji no Ôgimi nên đến khi gặp cô em khác mẹ Ukifune của nàng thì lại yêu luôn....Những mối tình vượt không gian, thời gian và thông qua các “ đại diện ” như thế cho ta thấy quá khứ, hiện tại và tương lai như giao thoa với nhau làm cho câu chuyện được tiếp nối một cách sinh động. Sự phong phú của Truyện Genji không chỉ nằm ở tính cách đa diện của tâm lý (yêu thương, hờn giận, ghen tuông, tưởng nhớ, dấu diếm, sầu muộn, ghét bỏ, phản bội, luyến tiếc...) của con người qua những cuộc phiêu lưu tình ái. Nó còn giúp cho người hiện đại hiểu về nhân sinh quan của những kẻ sống trước ta 10 thế kỷ. Ngoài quan niệm về sáng tác văn học (chương 22 Tamakazura “ Mái Tóc Đẹp ”, chương 25 Hotaru “ Đom Đóm ”) như đã nói ở trên, ta còn hiểu được lối suy nghĩ của họ về giáo dục con cái (chương 21 Otome “ Thiếu Nữ ”) hôn nhân (chương 32 Umegae “ Cành Mơ ”)... cũng như phong tục tập quán đương thời. Thông qua vô số tình tiết ly kỳ của cuốn truyện, ta có thể xem định mệnh của Genji như định mệnh của môt đứa con tìm mẹ, bị cản trở (qua mối tình tội lỗi với “ bà dì ” Fujitsubo) nên đã tìm cách thoát ra bằng cách đi chinh phục hết người đàn bà nầy đến người đàn bà khác. Trước Genji, không có truyện nào có thể sánh bằng đã đành mà văn học diễm tình về sau đều chịu ảnh hưởng của nó. Ví dụ trường hợp của các tiểu thuyết lịch sử “ Truyện tướng Sagoromo ” (Sagoromo monogatari, Hiệp Y Vật Ngữ) miêu tả cuộc đời tình ái của chàng võ quan Sagoromo Taishô (Hiệp Y đại tướng) và “ Truyện kiếp vinh hoa ” Eiga monogatari (Vinh Hoa vật ngữ) nói về dòng họ quyền thần Fujiwara no Michinaga. Cho đến thời trung cổ và cận đại, ta cũng thấy ảnh hưởng đó trong thi ca (waka), kịch nghệ (các bài ca hay yôkyoku = dao khúc tuồng Nô, tiểu thuyết “ Một đời trai đắm sắc ” (Kôshoku Ichidai Otoko = Háo sắc nhất đại nam) của Ihara Saikaku (Tỉnh Nguyên, Tây Hạc, 1642-1693) hay “ Genji giả, Murasaki ruộng ” (Nise Murasaki Inaka Genji, Ngụy tử điền xá Nguyên Thị) của Ryuutei Tanehiko (Liễu Đình, Chủng Ngạn, 1783-1842) một cuốn truyện tự xưng mô phỏng Truyện Genji của một tác giả mạo danh, có một vai chính quê mùa. Ngay cả các nhà văn cận kim và hiện kim hàng đầu như Higuchi Ichiyo (Dũng Khẩu, Nhất Diệp, 1872-1896), Akutagawa Ryuunosuke (Giới Xuyên, Long Chi Giới, 1892-1927), Tanizaki Jun-ichirô (Cốc Kỳ, Nhuận Nhất Lang,1886-1965) hay Kawabata Yasunari (Xuyên Đoan, Khang Thành, 1899-1972)... đều ái mộ ngữ vựng, cách diễn tả và đề tài của Genji, đem nó vào tác phẩm của mình. Nhiều bản Truyện Genji kim văn bằng tiếng Nhật đã ra đời để giúp độc giả hiện đại thấu hiểu giá trị văn chương của người đời trước, trong đó có bản của văn hào Tanizaki Jun-ichirô và nữ sĩ (kiêm sư bà) Setouchi Jakuchô (Lại Hộ Nội, Tịch Thính). Bản thông dụng có lẽ là bản khổ bỏ túi của nhà xuất bản Kôdansha (1978) gồm 7 cuốn, tổng cộng 3500 trang khổ A6 với khổ chữ rất nhỏ, do giáo sư tiến sĩ Imaizumi Tadayoshi (Kim Tuyền, Trung Nghĩa, 1910-1976), giáo sư danh dự Đại học Quốc Học Viện (Kokugakuin Daigaku) dịch toàn văn. Truyện Genji còn được trích dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới với sự đóng góp của các dịch giả tên tuổi (nhưng khi dịch không khỏi vò đầu bứt tai vì quá khó) như Arthur Waley (Anh), Edward Seidensticker (Mỹ), René Sieffert (Pháp)…, giúp cho độc giả quốc tế biết đến giá trị của nó và đánh giá như một di sản tinh thần quí báu của kho tàng văn hóa nhân loại. CHÚ GIẢI
[1] Engo (duyên ngữ) là một chữ dùng trong waka có hiệu quả gây liên tưởng đến một chữ khác trong câu. Ví dụ chữ Tiêu dù đặt ở chổ nào trong câu cũng làm ta liên tưởng đến chữ “tuyết “ vì có cặp từ “tuyết tiêu” (tuyết tan). [2] Kakekotoba (quải từ) chữ đồng âm dị nghĩa ví dụ như Matsu vừa có nghĩa là “cây tùng” (danh từ) vừa có nghĩa là “chờ đợi” (động từ).Chữ Nagame vừa có nghĩa là “nhìn dõi về xa” (diễu) vừa có nghĩa là “mưa dầm” (trường vũ). [3] Sesshô (Nhiếp chính), quyền thần thay mặt thiên hoàng (vì còn quá trẻ hay là nữ giới) để trị nước. Trong trường hợp này để chỉ ngoại thích Fujiwara. [4] Kanpaku (Quan bạch) trọng thần thay mặt thiên hoàng trông coi việc nước, có điều gì cũng phải bẩm người ấy trước mới tâu sau. Trường hợp nầy cũng để chỉ giòng họ Fujiwara. [5] Còn đọc là Thanh Đình [6] Tập 1 ra đời năm 1008 (niên hiệu Khoan Hoằng năm thứ 5) lúc tác giả khoảng 38 tuổi. [7] Theo chế độ pháp luật thời cổ, Shikibu (Thức Bộ) là một trong 8 bộ, lo việc nghi thức. Gia đình nào chuyên trông coi việc lễ nghi có thể được lấy chức đó làm họ. [8] Theo Genji Monogatari, Beginners Classics, nhà xuất bản Kadokawa Shoten biên tập, Kadokawa phát hành, 2004. [9] Trước đó ít lâu, một tài nữ khác, Sei Shônagon (Thanh, Thiếu Nạp Ngôn), tác giả tập tùy bút Makura Sôshi (Chẩm thảo tử) đã vào hầu hoàng hậu (cũng của Nhất Điều thiên hoàng) tức bà Fujiwara Teishi (Đằng Nguyên Định Tử, 976-1000). [10] Hoàng hậu mới lập sau, để phân biệt với bà hoàng hậu Fujiwara Teishi (Đằng Nguyên, Định Tử), con gái Michitaka (Đạo Long), bác ruột của bà. Sau khi nhà Michitaka suy vi, bà Teishi bỏ đi tu (996) và chết sớm (1000), Michinaga cho con gái Shôshi (Chương Tử), tuổi hãy còn bé, nhập cung (999). Bà này liền được phong hoàng hậu (1000). Lần đầu trong lịch sử Nhật có liên tiếp 2 Hoàng Hậu (nhất đại nhị hậu) vì quyền thần Michinaga muốn có cháu ngoại kế vị thiên hoàng. [11] Có thể liên tưởng tới bà “cung trung giáo tập” Ngô Chi Lan, Đoàn Thị Điểm, Bà huyện Thanh Quan của Việt Nam. [12] Đơn vị Nhật Bản để đo lường số trang, tính tùy khổ giấy. Một thiếp có thể có đến 48 trang giấy Nhật. [13] Ienaga (sđd) cho rằng Genji “mặt sáng như gương” là hình ảnh của Fujiwara Michinaga, con người toàn hảo về mọi mặt, vinh hoa tột đỉnh nhưng rốt cục cũng bó tay trước định mệnh. [14] Kaoru tùy trường hợp, có nghĩa là thơm tho hay đẹp đẽ. [15] Ngô đồng (Kiri) tức cây vông. Hoa văn hoa ngô đồng hay hoa cúc thường thấy trên áo xống vật dụng hoàng đế. Có thể vì sân trong (tsubo) chung quanh cung của hoàng đế Kiritsubo trồng nhiều cây kiri. [16] Genji trở thành một danh từ chung, ám chỉ những người con không chính thức của thiên hoàng. [17] Fuji (hoa tử đằng, wisteria). Cung của bà phi nầy có sân trong (tsubo) tr ồng loại hoa giây màu tím nhạt này nên bà có tên hiệu là Fujitsubo. [18] Tóm tắt theo Puette, William J., Guide To the Tale Of Genji, 1983, Tuttle Co., Tôkyô. [19] Yomogi thường được biết như cỏ ngãi cứu (viết bằng chư ngãi) hay cỏ bồng (viết bằng chũ bồng), đây muốn nói về cuộc đời trôi nổi, nghèo khó của các nhân vật. [20] Có ảnh hưởng của Trường Hận Ca và thi văn Bạch Cư Dị lên trên Truyện Genji. [21] Uji (Vũ Trị), vùng thung lũng phía nam Kyôtô, có sông Ujigawa chảy qua, thời Hei-an là nơi quí tộc xây cất biệt thự, có nhiều danh thắng, nổi tiếng vì trà ngon. [22] Theo Ienaga (sđd) [23] Seidensticker, Edward, G., translate The Tale of Genji, Murasaki Shikibu, Everyman’s Library, GB, 1976 & 1992. [24] Xem Shinma Kazuyoshi, Genji Monogatari to Hyaku-Kyo-i no Bungaku (Truyện Genji và văn chương Bạch Cư Dị), Izumi Shooin, Tôkyô, 2003. [25] Tam Sử là Sử Ký, Hán Thư và Hậu Hán Thư. Ngũ Kinh là Kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc và Xuân Thu. [26] Truyện Genji và văn chương Bạch Cư Dị, sách đã dẫn. [27] Aware nguyên là A-hare giống như một tiếng kêu kinh ngạc và cảm kích như “Ôi chao!”. Vào thời trung cổ, nó chỉ biểu diễn phản ứng của con người trước một vẻ đẹp hay yêu kiều, qua thời cận đại thì nó trở thành phản ứng trước cái gì buồn. Cho nên vẻ đẹp Nhật Bản thường gắn với nỗi buồn (Aware được viết với chữ Ai trong tiếng Hán) ví dụ một cảnh tiêu sơ, hoang phế cũng có cái nét đẹp của nó (Chúng ta có Bà Huyện Thanh Quan?). [28] Tạm dịch “beauté poignante des choses fragiles ” theo lối diễn tả của J.Pigeot và J.-J.Tschudin. |
|
#7
|
||||||||
|
||||||||
|
Chương 6 : Truyện Heike (Heike Monogatari), Thái Bình Ký (Taiheiki) và văn chương chiến ký Nhật Bản. Định mệnh bi tráng của con nhà võ. Nguyễn Nam Trân ![]() DẪN NHẬP
Vào nửa sau thời Hei-an (794-1185) đã có các tập ghi chép về chiến sự nhưng bằng Hán văn như Ghi chép về Taira Masakado tức Shômonki[1] (Tướng Môn ký), Ghi chép chuyện vùng Mutsu tức Mutsu Waki [2](Lục Áo thoại ký). Chi tiết ghi lại bên trong và lối hành văn của chúng rất lôi cuốn. Đó là hai tác phẩm tiên phong trong thể loại truyện mang chủ đề chiến tranh. Đến đời Kamakura (1185-1333), lại có thêm 3 hồi ký chiến tranh quan trọng : Truyện thời Hôgen (Hôgen Monogatari, Bảo Nguyên vật ngữ), Truyện thời Heiji (Heiji Monogatari, Bình Trị vật ngữ) và Truyện Heike hay Heike Monogatari (Bình Gia vật ngữ). Dòng văn học Gunki (Quân ký hay ký sự chiến tranh) Hei-an (794-1185) Shômonki (Tướng Môn ký) sau 940. Mutsu Waki (Lục Áo thoại ký (khoảng 1062) (hai tác phẩm tiền thân của gunki) Kamakura (1185-1333) Hôgen Monogatari (Bảo Nguyên vật ngữ) khoảng giữa thế kỷ 13 Heiji monogatari (Bình Trị vật ngữ) khoảng giữa thế kỷ 13. Heike monogatari (Bình Gia vật ngữ) bản đầu tiên, có khoảng giữa thế kỷ 13. Muromachi (1333-1568) Taiheiki (Thái Bình ký) giữa thế kỷ 14. Gikeiki (Nghĩa Kinh ký) giữa thế kỷ 14. Soga Monogatari (Tô Ngã vật ngữ) cho đến giữa thế kỷ 14. TIẾT I
Tổng quan Lịch sử Văn học Nhật Bản Quyển Thượng : Từ Thượng Cổ đến Cận Đại Tăng nhân mù đánh đàn biwa kể Truyện Heike đầu đường xó chợ Chương 6 : Truyện Heike (Heike Monogatari), Thái Bình Ký (Taiheiki) và văn chương chiến ký Nhật Bản. Định mệnh bi tráng của con nhà võ. Nguyễn Nam Trân Vào nửa sau thời Hei-an (794-1185) đã có các tập ghi chép về chiến sự nhưng bằng Hán văn như Ghi chép về Taira Masakado tức Shômonki[1] (Tướng Môn ký), Ghi chép chuyện vùng Mutsu tức Mutsu Waki [2](Lục Áo thoại ký). Chi tiết ghi lại bên trong và lối hành văn của chúng rất lôi cuốn. Đó là hai tác phẩm tiên phong trong thể loại truyện mang chủ đề chiến tranh. Đến đời Kamakura (1185-1333), lại có thêm 3 hồi ký chiến tranh quan trọng : Truyện thời Hôgen (Hôgen Monogatari, Bảo Nguyên vật ngữ), Truyện thời Heiji (Heiji Monogatari, Bình Trị vật ngữ) và Truyện Heike hay Heike Monogatari (Bình Gia vật ngữ). Dòng văn học Gunki (Quân ký hay ký sự chiến tranh) Hei-an (794-1185) Shômonki (Tướng Môn ký) sau 940. Mutsu Waki (Lục Áo thoại ký (khoảng 1062) (hai tác phẩm tiền thân của gunki) Kamakura (1185-1333) Hôgen Monogatari (Bảo Nguyên vật ngữ) khoảng giữa thế kỷ 13 Heiji monogatari (Bình Trị vật ngữ) khoảng giữa thế kỷ 13. Heike monogatari (Bình Gia vật ngữ) bản đầu tiên, có khoảng giữa thế kỷ 13. Muromachi (1333-1568) Taiheiki (Thái Bình ký) giữa thế kỷ 14. Gikeiki (Nghĩa Kinh ký) giữa thế kỷ 14. Soga Monogatari (Tô Ngã vật ngữ) cho đến giữa thế kỷ 14. TIẾT I: TRUYỆN THỜI HÔGEN VÀ TRUYỆN THỜI HEIJI: Hai Truyện thời Hôgen và Truyện thời Heiji lấy đề tài từ hai cuộc nội loạn giống như đảo chánh xảy ra dưới niên hiệu Hôgen (Bảo Nguyên, 1156), thời điểm mở màn cho cuộc tranh chấp quyền lực giữa hai họ Taira (Bình) và Minamoto (Nguyên), và niên hiệu Heji (Bình Trị, 1160) năm họ Taira lên nắm chính quyền. Cả hai đều miêu tả xu thế đương thời là sự hưng thịnh của giai cấp quân nhân (đánh dấu “musa no yo”[3] = “thời đại quân nhân”). Hôgen thuật lại cuộc chiến đấu anh dũng của danh tướng Tametomo nhà Minamoto (Nguyên, Vi Triều, 1139-1170), thua trận và tự sát năm mới 31 tuổi. Còn Heiji kể về bước đường lưu lạc truân chuyên của nàng Tokiwa [4](Thường Bàn), người thiếp của bại tướng Minamoto no Yoshitomo (Nguyên, Nghĩa Triều, 1123-1160) và đàn con của hai người sau khi Yoshitomo bị họ Taira giết. Nội dung hai truyện tuy dựa vào sự thực lịch sử nhưng có thêm tình tiết hư cấu làm cho chúng có nhiều kịch tính. Cấu trúc của chúng lắm chỗ tương đồng nên các nhà viết văn học sử nghi ngờ rằng cả hai đều do một tác giả soạn ra. Bản đầu tiên của hai cuốn truyện có lẽ đã được viết ra vào giữa thế kỹ 13. Lời văn mạnh mẽ hùng hồn, thể văn pha Hòa lẫn Hán. Cùng với truyện Heike, chúng hợp thành một tam bộ tác (trilogy), nói về sự thịnh suy của tập đoàn quân nhân do họ Taira tức Heike lãnh đạo . TIẾT II
TIẾT II: TRUYỆN HEIKE (HEIKE MONOGATARI): A) Nguồn gốc và nội dung: Tác giả truyện này không biết là ai và bản đầu tiên cũng như hai truyện nói trên được phỏng đoán được viết ra vào giữa thế kỷ thứ 13 (niên hiệu Jôkyuu 1219-1222 hay Ninji 1240-1243). Truyện thuật lại cuộc tranh hùng giữa hai họ Taira (Bình) và Minamoto (Nguyên) này thường được ca tụng như cuốn sử thi Ilias của nhà thơ mù Homeros (thế kỷ thứ 9 trước công nguyên) kể về 10 năm tranh chấp quân sự giữa thế lực thành Troy và người Hy Lạp. Hai sử gia Mason và Caiger[5] lại xem nó là tác phẩm tương đương với thiên anh hùng ca bi tráng nói về dũng sĩ Roland (Chanson de Roland, giữa thế kỷ 11 ở Pháp), cháu của đại đế Charles, đánh nhau với quân Hồi Giáo và chết trong thung lũng Roncevaux khi cầm quân đoạn hậu, được truyền tụng suốt thời Trung Cổ trong mọi tầng lớp dân chúng bên Tây Phương. Truyện Heike kết hợp lối văn nikki, nhật ký ghi chép việc hằng ngày lẫn lối văn setsuwa, tức truyện răn đời của tăng lữ. Thế nhưng bản được lưu hành đến ngày nay được gọi là bản Kakuichi-bon hay katari-bon (bản làm ra để kể trước đám đông). Bản Kakuichi (tên người soạn nó) có tất cả 13 quyển nghĩa là 12 quyển (maki) chính và một một quyển phụ gọi là Kanjô no maki. Mỗi quyển lại giống như mỗi màn, độc lập với nhau. 1- Phần trước từ quyển 1 đến 6: Nội dung câu truyện liên quan đến cảnh vinh hoa phú quí cùng cực của tập đoàn đại quí tộc Taira (Bình) lúc người cầm đầu nó, Taira-no-Kiyomori (Bình, Thanh Thịnh), giữ chức Thái Chính Đại Thần, quyền nghiêng thiên hạ. Vì Kiyomori đạt đến cực điểm danh vọng nên đâm ra chuyên quyền làm cho thế lực phản-Taira tụ tập dưới trướng Minamotono Yorimasa [6] (Nguyên, Lại Chính) đã lần lượt cử binh chống đối Taira, trong đó nổi tiếng hơn hết là Minamotono Yoritomo (Nguyên, Lại Triều) và người anh em họ, Kiso Yoshinaka (Mộc Tăng, Nghĩa Trọng, tên hiệu của Minamotono Yoshinaka). Họ Minamoto trước kia là đồng minh của Taira nhưng đã tranh chấp quyền lợi với thế lực này và thất bại trong những âm mưu đảo chánh. 2- Phần sau từ quyển 7 đến 12: Đúng vào lúc đó, Kiyomori lại lên cơn sốt rồi chết, quân của Yoshinaka tiến công thần tốc đến nổi nhà Taira phải bỏ Kyôto tháo chạy. Nhưng vì bộ hạ ông ta tàn ác thất nhân tâm[7] nên Yoshinaka bị Minamotono Yoshitsune (Nguyên, Nghĩa Kinh), con trai thứ chín của Yoshitomo, phó tướng và là em khác mẹ của Yoritomo, tru diệt. Sau đấy, họ Taira (Heike) còn bị thiên tài quân sự Yoshitsune nầy chẻ tan lực lượng trong trận Ichi-no-tani (Nhất Cốc) và Yashima (Ốc Đảo), rốt cục hoàn toàn diệt vong khi Yoshitsune đánh chìm đoàn chiến thuyền của họ ở bến Dan-no-Ura (Đàn Phố) gần Shimonoseki bây giờ. 3- Quyển 13 nói về cuộc sống ẩn cư tu hành của cựu hoàng hậu Kenreimon-in[8] (Taira Tokushi, 1155-1213, con gái thứ của Taira no Kiyomori) ở phía bắc thành phố Tôkyô sau khi bà tự trầm hụt trong trận hải chiến Dan no ura (1185). Truyện Heike không những tả cuộc sống vinh hoa của họ Taira mà thôi nhưng còn kể lại cảnh ngộ của người đẹp Gi-ô [9](Kì Vương) khi bị Kiyomori thất sủng, cảnh ngộ ái cơ Kogô[10] (Tiểu Đốc) của thiên hoàng Takakura (Cao Thương) phải lẩn trốn ở Sagano vì sợ Kiyomori hãm hại. Truyện còn tả lại những cảnh thương tâm của con cháu nhà Taira xảy ra sau khi binh đoàn của họ bị tiêu diệt. Tác phẩm lấy quan điểm vô thường của Phật Giáo làm cơ sở, miêu tả sống động khung cảnh chiến tranh và tâm tình đẹp đẽ nhưng thảm thiết của con người trước những sinh ly tử biệt. Sau đây là đoạn văn mở đầu Truyện Heike: Tiếng chuông (của Vô Thường Đường) trong Kỳ Viên Tinh Xá (bên Thiên Trúc) ngân nga nhắc người ta mọi vật ở trên đời nầy vốn biến đổi không ngừng. Bốn phía nơi Đức Thế Tôn nhập diệt, hoa hai hàng cây thiêng sa la (màu vàng ngã sang) bạc trắng như muốn nhắn nhủ: kẻ thịnh tất phải suy, những ai quyền thế ngạo nghễ cũng chỉ được một thời. Mọi sự khác nào giấc mộng ngắn ngủi đêm xuân. Dũng mãnh cho lắm rồi cũng bị tiêu diệt như bụi bay xa khi cơn gió quét. (Heike Monogatari, Kỳ Viên Tinh Xá, kỳ nhất) Nguyên văn đọc lên còn ngân nga hơn nhiều: (Kỳ Viên Tinh Xá chung thanh, chư hành vô thường (chi) hưởng. Sa La song thụ hoa sắc, thịnh giả tất suy (chi ) lý. Xa nhân bất cửu như xuân dạ chi mộng. Vũ giả tất diệt đồng phong tiền trần viễn). Truyện Heike bản gốc dường như ra đời vào giữa thế kỷ 13, có thuyết cho rằng tác giả của nó là một viên trấn thủ tiền nhiệm đất Shinano tên là Yukinaga (Hành Trường). Ông ta viết ra và được một người mù tên Shôbutsu (Sinh Phật) đem đi hát. Chính trong tác phẩm Viết Lúc Buồn Tình (Tsurezuregusa, Đồ Nhiên Thảo), tập bút ký ra đời khoảng 1330 của tăng nhân Yoshida Kenkô (Cát Điền, Kiêm Hảo), trong đoạn số 226 có cho biết Yukinaga là người sống thời thái thượng hoàng Go-Toba (trị vì 1198-1221) và có tiếng hay chữ. Có nhiều thuyết khác về nguồn gốc của Truyện Heike. Cũng có thể đó là Truyện Đời Jijô (Jijô Monogatari, [11]Trị Thừa vật ngữ), 6 cuốn, xuất hiện trước đó và sách này được gọi là bản “Heike” trong Hyôhanki (Binh Phạm Ký) của Taira no Nobunori (Bình, Tín Phạm), một tác phẩm ghi chép về chiến sự năm Ninji (Nhân Trị) nguyên niên (1240). Truyện Heike ban đầu được các biwa-bôshi (tỳ bà pháp sư) tức những nhà sư mù vác đàn tỳ bà đi đàn và kể dạo khắp đó đây. Những khúc ấy gọi là Heikyoku (Bình khúc). Qua nhiều người kể, người nghe, người đọc nên vô tình hay cố ý, khúc ấy được tăng bổ và cải biên, nhân đó mà đậm đà và phong phú hơn. Ví dụ tác phẩm Genpeijôsuiki [12](Nguyên Bình thịnh suy ký), một dị bản của Heike cũng đã được “sáng tác tập thể” theo một quá trình tương tự. TIẾT III
Văn thể của Heike là thể hỗn hợp Hòa Hán nghĩa là chữ kana xen với chữ Hán đọc theo âm Hán và âm Nhật, trộn lẫn cả tiếng thông tục. Không những thế, trong Heike, ngôn ngữ Phật Giáo cũng thường được sử dụng và có văn vần chen vào với những câu thơ theo thể 5-7 diễm lệ và trữ tình, làm cho toàn thể áng văn hài hòa và hùng tráng. Có thể nói Heike đứng hàng đầu các tác phẩm thuộc thể loại ký sự chiến tranh và là tác phẩm tiêu biểu cho văn học Nhật Bản thời trung cận đại. Đời sau, các hình thức văn chương như yôkyoku (dao khúc) tức ca từ của tuồng Nô, loại truyện giải buồn otogi sôshi (ngự già thảo tử), hay sân khấu búp-bê jôruri (tĩnh lưu ly) đều khai thác vô số đề tài lấy từ Heike. B) Nhân vật trong Heike[13]: Đặc điểm của Heike là nhân vật đôi khi đầy mâu thuẫn nội tâm nhưng rất con người. Những nhân vật ấy có giá trị tượng trưng, được khai thác liên tục trong dòng văn học về sau, tiêu biểu là vai trò chủ đề của những tuồng Nô và Kabuki. Các nhân vật chủ chốt được nhắc tới là cha con quyền thần Tairano Tadamori và Tairano Kiyomori, hai nàng con hát Gi-ô và Hotoke, các nhà sư Shunkan, Mongaku, các vũ tướng , Kiso Yoshinaka, Minamoto no Yoshitsune, Taira no Tadanori, Taira no Tomomori. -Tadamori (Trung Thịnh, 1096-1153), cha của Kiyomori, dù là con cháu hoàng tộc nhưng xuất thân vũ biền, đánh đuổi cướp biển, được sự tin cậy của hai vị thiên hoàng Shirakawa và Toba, biết chiều chuộng họ mà phất lên. Ông tiêu biểu cho lớp người hãnh tiến. Tuy vậy, ông cũng là người đã tận tực trong việc mậu dịch Nhật Tống, có phong độ tao nhã: thích gái đẹp, biết làm thơ và có tài thổi sáo. -Nàng Gi-ô (Kỳ Vương) được Kiyomori (Thanh Thịnh) sủng ái đến thế mà bị cô gái tên Hotoke (Phật) mới 16 tuổi đầu đến lấy mất chỗ, hành hạ đến nỗi phải xuống tóc đi tu . Nàng xuất thân là con hát, nhờ được Kiyomori yêu dấu mà một nhà cả mẹ lẫn em gái đều vinh hiển. Chính nàng đã giúp Hotoke có cơ hội phô trương tài nghệ nhưng sau nàng lại bị Kiyomori hạ nhục, bắt phải ca hát biểu diễn giúp vui Hotoke khi đến phiên cô này trở thành người được Kiyomori sủng ái. Qua câu chuyện hai người con hát nầy, ta đã thấy trước được một phần nào tấn tuồng “thịnh giả tất suy”, nồng cốt của triết lý Heike, nhất là lúc Hotoke đang đêm tìm đến thảo am trong núi ở Saga để tạ tội với Gi-ô vì nàng cũng đã giác ngộ về cái bèo bọt của vinh hoa phú quí. -Tăng Shunkan (Tuấn Khoan) chứa chấp những người tham gia cuộc hội nghị bí mật ở Shishi no tani âm mưu diệt Heike, bị tội đày ra ngoài đảo Kikaigashima (Quỷ Giới, bây giờ là đảo I-ô jima nổi tiếng trong đại chiến thứ hai). Khi tất cả những kẻ cộng mưu đều được tha về, chỉ còn ông ta ở lại và biến thành một thứ người rừng. Tuy nhiên lúc trước khi nhịn đói mà chết , ông còn được Ariô, một người tớ trung thành, từ kinh đô lặn lội đến thăm. -Tăng Mongaku (Văn Giác) trước là vũ tướng Endo Moritô, năm 19 tuổi giết lầm người yêu nên cạo đầu xuất gia. Truyện đời của ông miêu tả một samurai nóng nảy đã nhờ tu hành mà hướng thiện, có công giúp Minamotono Yoritomo diệt nhà Taira và xây dựng sự nghiệp mạc phủ Kamakura. Ông có lòng nhân cứu giúp Rokudai, giọt máu cuối cùng của nhà Taira được tồn sinh nhưng sau mạc phủ Kamakura bắt ông lưu đày còn Rokudai bị tử hình. Những người cầm quyền muốn “nhổ cỏ tận gốc”dù cậu bé 16 tuổi nầy đã thế phát qui y, không liên can đến chính trị nữa. -Kiyomori (Thanh Thịnh, 1118-1181), nhân vật chính của Heike nhưng chỉ xuất hiện trong phần đầu, tượng trưng cho con người tham bạo nhưng cũng có một vài nét đẹp như tha chết cho đứa con (Yoritomo) của kẻ thù để rồi sau này cả dòng họ tiêu vong vì đứa bé 14 tuổi đó. Lãnh đạo một tập đoàn chiến tranh nhưng không biết cầm quân, ghét ai thì trù dập thẳng cánh nhưng có cớ thì lại tha thứ ngay, đúng là mẫu người khác lạ so với các nhân vật lịch sử cho đến bây giờ. Bị quả báo nhản tiền (con kế nghiệp và lương tâm của ông là Shigemori (Trọng Thịnh) lâm bệnh chết sớm). Ngoài ra còn bị ngọn lửa địa ngục thiêu đốt ông ngay giữa lúc còn sống (“khổ muộn”, rồi phát nhiệt mà chết). -Shigemori (Trọng Thịnh), đứa con hiếu kính, bao lần ngăn cản cha làm việc ác. Trên giường bệnh, linh cảm số phận bi đát của tập đoàn Taira, không chịu chữa chạy mà chết. -Kiso (Mộc Tăng) hiệu của Minamoto no Yoshinaka (Nguyên, Nghĩa Trọng, 1154-1184) ẩn trong núi Kiso từ nhỏ học vũ nghệ, sau hiệp lực với anh con nhà bác là Yoritomo mưu lật đổ Taira. Ông là tướng tài, vũ dũng vô song, trong trận Kurikara-ga-tani đánh tan quân địch gấp đôi nhân số nhưng vào đến Kyôto thì tỏ ra hợm hĩnh vô mưu, say mê nữ sắc, gieo rắc sự bất mãn trong đám công khanh để rồi phải chết thảm trong cánh rừng tùng ở Awazu dưới tay những người đồng minh cũ của mình. Tuy phạm sai lầm và bị người lừa nhưng ông là một tâm hồn cao thượng và nghĩa khí, không chịu thoát thân một mình mà ở lại chiến đấu đến cùng. Đoạn tả trận chiến cuối cùng và cái chết của Kiso sau đây là một trong những đoạn văn đẹp nhất của Truyện Heike: Ngài Kiso Yoshinaka (Mộc Tăng Nghĩa Trọng) khi từ Shinano ra đi, mang theo hai người thiếp, Tomoe[14] và Yamabuki. Yamabuki ốm, phải ở lại kinh đô. Trong hai người, Tomoe đặc biệt đẹp, da trắng, tóc dài, tài nghệ xuất chúng. Nàng dương được cung cứng, trên bộ hay trên lưng ngựa đều múa kiếm chọi nổi quỉ thần, sức địch nghìn người.Lại biết trị được ngựa chứng và điều khiển chúng leo lên dốc đứng. Khi lâm trận, Kiso thường cho nàng mang giáp dày, đao to, cung cứng ra làm đại tướng. Lần nào cũng không ai lập công lớn hơn nàng. Bây giờ trong đám bảy thớt kỵ còn lại sau khi tất cả đã chết hoặc chạy thoát, cũng vẫn có nàng…. Ngài Kiso nói với Tomoe: -Nhanh lên, nào! Khanh là đàn bà, hãy tự lo thoát thân đi. Ta đã quyết tâm chiến đấu đến chết hay sẽ tự sát nếu bị thương .Ta không muốn thiên hạ đàm tiếu là Kiso đánh đến trận cuối còn mang đàn bà theo[15]. Tomoe không đành lòng bỏ đi. Nói mãi nàng mới thưa: -Phải chi thiếp gặp được địch thủ xứng sức để tướng công xem thiếp chiến đấu thế nào! Nói xong bỗng thấy một bọn ba chục quân kỵ do Ondano Hachiro Moroshige, một hổ tướng người vùng Musashi dẫn đầu, ào ào kéo tới. Tomoe giục ngựa vào giữa bọn chúng, sóng ngựa với Moroshige rồi thoắt cái đã chụp mạnh kéo giật hắn xuống, vắt ngang yên của mình. Tướng địch chưa kịp động đậy thì đầu đã bị cắt và quẳng xuống đất. Sau đó, Tomoe cởi bỏ giáp trụ và chạy về miền Đông…. Kiso Yoshinaka chỉ còn một mình một ngựa, muốn tìm chỗ để chết[16], mới vào rừng tùng ở Awazu. Lúc đó là ngày 21 tháng giêng, mặt trời vừa lặn và băng bắt đầu đóng. Ngài không biết có đầm lầy, vừa giục ngựa chạy vào thì đã lún, hút cả đầu ngựa. Hết dận bàn đạp để thúc ngựa lồng đến lấy roi quất túi bụi mà con vật vẫn không ngoi lên được. Đang lúc ngài lo lắng cho Imai Kanehira[17] (Kim Tỉnh, Khiêm Bình) phải đơn thân đoạn hậu, mới quay lại nhìn thì con thứ Ishida (Thạch Điền) là Tamehisa (Vi Cửu) của đạo quân Miura (Tam Phố) đã giương cung bắn cái vụt vào bên trong mũ trụ. Vết thương trí mạng. Kiso gục xuống, mũ trụ vẫn áp lên mình ngựa. Hai tên thủ hạ của Ishida ruổi ngựa đến, cắt lấy đầu. Tamehisa cắm thủ cấp của Kiso trên mũi kiếm, giương lên cao và la to: Ishida Tamehisa đã giết chết đại tướng Kiso, người khét tiếng cả nước!” Giữa khi đang chiến đấu, Imai Kanehira nghe tiếng la của Tamehisa, mới nói: “Ta không cần phải chiến đấu để bảo vệ ai nữa. Này bọn lính miền Đông, hãy xem cách chết của dũng sĩ số một Nhật Bản như thế nào!”Chĩa mũi kiếm vào mồm, Imai gieo người từ mình ngựa xuống chết, lưỡi kiếm xuyên qua thân thể. (Heike Monogatari, Cái chết của KisoYoshinaka, quyển 9) -Vũ công của Cửu Lang Yoshitsune (Nghĩa Kinh, 1159-1189) bắt đầu ở trận sông Uji, đánh vào phòng tuyến của Yoshinaka. Sau khi dẹp tan quân Yoshinaka, Yoshitsune và anh mình là Noriyori tiến kích quân Taira, thắng nhiều trận lớn và cuối cùng tiêu diệt địch ở trận Dan-no-ura. Ông tuy là tướng tài, phong lưu thanh nhã và can đảm nhưng cũng lại tỏ ra thiếu chính trị và cạn nghĩ, bị chính quyền Kyôto đánh đòn ly gián và bộ tướng Kajiwara Kagesue sàm báng, làm mất lòng tin của anh. Số mệnh kết thúc trên bước đường lưu vong. Thủ cấp bị ngâm trong rượu ngọt gửi về Kamakura. Trong văn chương cung đình Heian, không thể nào có những đoạn miêu tả sống động của Heike như đoạn nói về các vũ sĩ xuất thân từ miền Đông Nhật Bản mà học giả Katô Shuuichi đã so sánh với lối miêu tả quân man di của sử gia Tacite trong Germania: Ngay một vũ sĩ xuất thân từ một trang viên nhỏ ở miền Đông cũng có dưới tay ít nhất 500 quân. Họ là những kỵ sĩ thiện chiến, không biết sợ ai. Trong khi chiến đấu, dù nhân số ít, và dù cha mẹ con cái họ chết, họ vẫn dẫm lên xác mà tiếp tục chiến đấu. Vũ sĩ miền Tây thì khác. Nếu cha mẹ họ chết, họ rời khỏi chiến trường về tụng kinh cầu siêu. Hết tang họ mới đủ sức trở lại chiến đấu. Nếu con cái chết, họ không còn lòng dạ nào mà đánh giặc nữa. Khi hết lương thực họ lo xuống ruộng cấy lúa, hết vụ gặt mới ra trận. Họ ngại cái nóng mùa hè, cái lạnh mùa đông. -Tadanori (Trung Độ) cũng thuộc dòng Taira, em trai út của Kiyomori, làm quan trấn thủ ở Satsuma. Có giai thoại chép rằng lúc họ Taira bỏ kinh thành, tướng Tadanori đến từ biệt thầy học là thi hào Fujiwara no Toshinari tức Shunzei (Đằng Nguyên, Tuấn Thành, 1114-1204, cha của đại thi hào Teika tức Định Gia), chỉ xin được để lại một bài waka trong tuyển tập thơ soạn theo sắc chiếu bởi biết ra đi không có ngày về và vì cuộc đời là ngắn ngũi nhưng thi ca thì bền lâu. “Trên đường (rút lui khỏi kinh đô), quan trấn thủ vùng Satsuma là Tadanori quay trở lại nhà Shunzei ở xóm Gojô. Tháp tùng ông có năm vũ sĩ và một tiểu đồng. Cổng nhà đóng. Ông ta xưng tên : Ta là Tadanori đây ! Có tiếng xôn xao bên trong: “Một người trong bọn bỏ kinh thành lại trở về kìa ! ”.Tadanori xuống ngựa, nói lớn : “ Shunzei, chớ ngại. Ta trở lại vì có điều muốn nói cùng ông thôi. Hãy ra đây, nếu sợ thì đừng mở cổng cũng được ”. “ Vâng, vâng ! ” Shunzei nói với người nhà. “ Ta hiểu ông ấy muốn nói gì rồi.Ông ta không làm hại chúng ta đâu. Mời ông ấy vào cho ! ”. Họ bèn mở cổng và Shunzei tiếp người khách ấy. Cảnh tượng thật cảm động. Tadanori nói với Shunzei : “ Ta không hề lười nhác kể từ khi ông nhận ta làm học trò mấy năm về trước nhưng dạo sau nầy, gia đình ta đang phải đối đầu với những kẻ nổi dậy trong kinh thành lẫn bọn phản loạn đến từ địa phương. Hai ba năm nay ta không đến học ông tuy rằng đối với ta, thơ vẫn là điều quan trọng.Hoàng thượng vừa rời kinh đô, vận mệnh tập đoàn nhà ta chắc đã đến hồi chung cuộc.Ta nghe nói hoàng thượng có hạ chiếu cho ông soạn một tuyển tập, nếu ông cho ta được đăng một bài trong đó thì ta sẽ hết sức vinh hạnh.Hiện này, đáng tiếc là thời buổi rối ren, không có cơ hội tuyển khảo nhưng một mai hoà bình lập lại thì chắc chắn sẽ có thôi. Nếu từ cuốn thơ nầy, có được một bài thơ của ta mà ông thấy đáng cho vào tuyển tập thì ta sẽ ngậm cười nơi chín suối và hồn ta mãi mãi phù hộ ông ”. Trước khi từ giã, Tadanori mới lấy ra một cuốn giấy mà ông đã chép trên một trăm bài mà ông nghĩ là hay nhất trong số thơ ông sáng tác và gìn giữ từ mấy năm qua. Ông kéo nó từ ống tay áo giáp và trao cho Shunzei. Shunzei mở cuốn thơ và nhìn rồi bảo : “ Tướng quân chớ lo cho cuốn thơ ngài gửi gắm, tôi xin gìn giữ hết sức cẩn trọng . Việc hôm nay ngài tìm đến đây chứng tỏ ngài yêu thơ biết chừng nào. Nó làm tôi không cầm được xúc động ”. Tadanori vui mừng khôn xiết : ” Bây giờ cho dù thân có vùi trong sóng biển miền Tây hay gửi xương trắng ngoài đồng nội, ta không còn lo ngại điều gì nữa. Ta đã hết vướng mắc với cuộc đời nầy rồi. Xin vĩnh biệt !”. Ông leo lên mình ngựa, buộc lại giải mũ trụ rồi đi về miền Tây. Shunzei nhìn theo cho đến khi ông khuất bóng. Lúc ấy có người ngâm một khúc rôei (lãng vịnh) như thế nầy : Đường còn xa biết bao nhiêu, Hồn ta đã gửi mây chiều Dương Sơn[18]. Shunzei lui vào trong, lòng càng thêm buồn vì nỗi biệt ly, phải cố gắng ghìm cho khỏi khóc.Về sau, lúc đã hết chiến tranh, khi tuyển chọn thơ cho Thiên Tải Hòa Ca Tập (Senzai Waka-shuu, 1183-87), ông vô cùng xúc cảm khi nhớ lại hình dáng và lời Tadanori bày tỏ trong lần gặp gỡ cuối cùng đó. Cuốn thơ có nhiều bài đáng cho vào Tuyển Tập nhưng Shunzei, người biên soạn, vấp phải sự kiểm duyệt của triều đình nên chỉ giữ lại một bài nói về hoa anh đào ở cố đô, có điều chỗ để tên tác giả chỉ ghi là “ triều địch ” (kẻ địch của triều đình): Trong vùng Sazanami, Shiga hoang phế còn chi kinh thành.. Nagara rặng núi xanh, Anh đào năm cũ vô tình nở hoa. (Bài Sazanami ya, thơ Tairano Tadanori) (Trích Truyện Heike, Quyển Thứ Bảy, Tiết 16 : Tadanori bỏ kinh thành) Quả nhiên, sau cuộc gặp gỡ đó, Tadanori chết trong trận Ichinotani (1184). Khi tướng địch nhặt túi tên tùy thân của ông và nhìn bài thơ ”Ngủ đỗ dưới gốc anh đào ” (Ryoshuku no hana) với chữ ký Tadanori ghi trên đó, mới biết họ vừa giết được đại tướng Tadanori, chỉ huy cánh quân phía tây của mặt trận và là trấn thủ vùng Satsuma. Thơ như sau: “Dặm dài bóng ngả về tây, Đêm nay ngủ đỗ dưới cây anh đào. Hỏi hoa cho phép không nào?” (bài Yukiyurete) Cái chết của ông làm bạn và địch đều bùi ngùi. Đó là một tâm hồn thơ trong cửa tướng. -Trong trận Ichinotani, Taira đã mất nhiều anh tài như Tomoakira (Tri Chương) mới 16 tuổi đã chịu chết thế cho cha là Tomomori (Tri Thịnh), hoặc tay thổi tiêu tài ba Tsunemasa (Kinh Chính), cũng như chàng tuổi trẻ Atsumori (Đôn Thịnh) mà lòng dũng cảm và nét thanh nhã đáng yêu đã làm cho kẻ giết mình phải hối hận bỏ đi tu : Sau khi quân Heike thất trận, Kumagai no Jirô Naozane[19] mới giục ngựa xuống bãi, bụng thầm nghĩ : “ Hiện bọn tướng tá Heike đang ra ngoài bờ biển đợi thuyền đến cứu mang chúng đi. Chi bằng ta xuống đó kiếm một tên đại tướng lừng lẫy nào đó mà đấu với hắn xem sao ”. Vừa lúc đó thấy có một viên tướng mặc một bộ áo hitatare bằng lụa nerinuki thêu hình chim hạc, đội mũ trụ có tấm che hình lưỡi cuốc và mang bộ giáp thắt dây màu cỏ úa. Bên hông y mang một thanh kiếm vỏ nạm vàng và trên lưng là một cánh cung bọc dây mây với túi đựng tên bịt đen làm bằng lông chim ưng trắng. Y cưỡi con ngựa lông đỏ hoe có đốm trắng và yên bọc vàng. Khi viên tướng nầy đã cho ngựa lội được một quãng năm sáu mươi thước dưới nước và đang chờ thuyền tới cứu thì Naozane vẫy quạt gọi với : -Ta thấy ngài có vẻ là một trang đại tướng. Cớ sao lại hèn nhát quay lưng trước kẻ địch như thế. Trở lại đây nhanh lên ! Viên tướng ấy bèn quay lên bờ. Khi y vừa ra khỏi mặt nước là Naozane đã giục ngựa đến bên cạnh. Khi hai ngựa sóng đôi, ông ta mới ra hết sức chụp lấy và đè chặt y xuống đất, định lật mũ trụ để cắt lấy đầu. Nhìn mặt mới thấy viên tướng ấy là một thiếu niên, tuổi độ mười sáu, mười bảy, mặt đánh phấn mỏng, răng nhuộm đen[20]. Viên tướng nầy chỉ tuổi độ Kôjirô Naoie, con trai của mình, và mặt thật đẹp trai thành thử Naozane không biết phải đâm mũi kiếm vào chỗ nào. Naozane vừa hỏi : -Ngài là ai vậy. Xưng tên đi, ta sẽ tha cho ! thì viên tướng đó bèn hỏi lại : -Thế còn ngươi, ngươi là ai ? -Tên tuổi không có gì đáng kể, ta chỉ là Kumagai no Jirô Naozane, xuất thân vùng Musashi . -Thế thì không đáng cho ta phải xưng danh. Ngươi không phải là địch thủ của ta.Muốn biết tên thì cứ đem đầu ta đi hỏi mọi người khắc có kẻ sẽ cho ngươi biết. Kumagai Naozane nghĩ thầm : “ Người nầy tuy còn niên thiếu nhưng đã có phong độ ngang tàng của một trang đại tướng. Giết một người nầy không đủ chuyển bại thành thắng mà tha cho y thì cũng không đổi thắng thành bại. Chính mình đã đau đớn biết bao khi nghe thằng Kôjirô nhà mình chỉ bị có một vết thương nhẹ, như thế mới thông cảm được sự đau đớn của người cha viên tướng trẻ nầy khi biết con mình bị giết chết. Ôi, sao ta cứ muốn tha chết cho y ! ”. Vừa lúc đó, Naozane nhìn ra phía sau đã thấy Toi Sanehira và Kajihara Kagetoki cùng với năm mươi quân kỵ đang phóng tới. Naozane mới cầm nước mắt và nói : -Ta muốn tha cho ngài đó nhưng quân ta đang kéo tới rất đông.Họ không để cho ngài thoát chết đâu. Nếu bề gì ngài cũng phải chết thì thay vì để người khác, xin ngài cho phép Naozane nầy lấy đầu. Ít nhất sau nầy ta sẽ cầu siêu cho ngài. -Sao cũng được, làm gì thì làm nhanh lên ! Naozane thấy tội nghiệp quá, không biết thọc mũi gươm vào đâu. Trước mắt tối sầm lại, đầu óc trống rỗng, chẳng biết làm sao cho phải.Nhưng không còn thời giờ để chần chừ, ông ta vừa khóc vừa cắt đầu viên tướng. -Ôi, trường tên đạn quả là chốn vô tình. Nếu không sinh nhằm nhà vũ sĩ thì đâu ra nông nỗi nầy !Phải giết ngài, ta thật tàn ác quá ! Lòng ân hận, Naozane lấy vạt áo che mặt khóc ròng. Tuy nhiên không thể nào than khóc như thế mãi, ông ta lấy manh hitatare của tướng địch gói lấy thủ cấp. Thấy chàng ta có đeo một đãy gấm đựng ống sáo bên hông, ông bèn than : -Ôi, tội nghiệp chưa.Hồi hừng sáng hôm nay, ta nghe có tiếng đàn sáo hòa tấu trong thành, có lẽ là của những người nầy. Bây giờ, trong toàn thể quân đội miền Đông của chúng ta có vài vạn kỵ binh, thế mà lấy đâu một người ra chiến trường còn mang cả ống sáo đi theo. Bậc tôn quí đúng là phong lưu thật. Khi Naozane đem chiến lợi phẩm đến trình cho Tổng Chỉ Huy Cửu Lang Yoshitsune xem xét thì những người đứng đó không ai cầm được giọt lệ.Về sau mới biết viên tướng trẻ bị giết là chứcDaifu (đại phu) tên Atsumori (Đôn Thịnh), mười bảy tuổi, con trai Shuuri Daifu (tướng coi việc công binh) Tsunemori (Kinh Thịnh). Từ đó, Naozane chỉ nghĩ đến việc xuất gia. Còn ống sáo kia là báu vật thái thượng hoàng Toba ban cho ông nội của chàng là Tadamori (Trung Thịnh), một tay sáo có tài. Vật đó truyền qua Tsunemori đến đời Atsumori và vì chàng thiện nghề sáo nên đi đâu cũng mang theo. Ống sáo ấy tên gọi Saeda (Tiểu Chi)... (Heike Monogatari, Chương 9, Cái chết của Atsumori) -Tướng Tomomori (Tri Thịnh), con trai thứ tư Kiyomori và em trai Munemori, sau khi con và cận vệ bị chết, cưỡi con ngựa hay lội được đến thuyền của tổng tư lệnh Munemori (Tông Thịnh). Vì thuyền không có chỗ cho ngựa nên ông phải đuổi lên bãi. Trong thuyền có kẻ muốn bắn chết con vật để ngựa hay khỏi rơi vào tay địch nhưng Tomomori ngăn lại vì ông bảo ngựa là ân nhân đã cứu mạng mình.Tomomori không chỉ muốn cứu mạng ngựa mà còn ngăn không cho giết một số tướng địch phe Genji mà vận mạng đang nằm trong tay mình vì ông biết khí số Taira đã hết, chém thêm vài thủ cấp không có lợi mà còn để khổ cho vợ con, bộ hạ người ta.Trong trận Dan-no-ura, ông mặc hai lần giáp cho đủ nặng rồi cùng con trai của nhũ mẩu, người bạn chiến đấu Ienaga, nắm tay nhảy xuống biển tự trầm. Cách viết của Heike không hoa lệ kiểu cách mà đặt trọng tâm vào những chiến công và đi sát sự thực cuộc sống, làm ta nghĩ độc giả của nó không phải là giới quí tộc cung đình mà là những con người bình thường, có khi mù chữ. Khác cả các gunki (quân ký) tức ký sự chiến tranh đi trước, Heike miêu tả rất sống động thế giới hiện tại, đánh trúng vào sự nhạy cảm của những con người chất phác mà lý thuyết Phật Giáo cao xa không hấp dẫn đối với họ bằng những mẩu chuyện về tình gia tộc, đời lính, kể bằng một giọng văn giản dị và giàu âm sắc, nhất là kèm theo tiếng đàn tì bà của các biwa hôshi trình diễn trước công chúng. Những người nầy ăn mặc như tăng lữ, đầu cạo trọc như thể đội lốt Phật A Di Đà. Lối kể chuyện như tụng kinh, trong đó tên người chết được nhắc tới giống như để cầu xin cho các vong linh được siêu sinh tịnh độ. Họ ngồi bệt trong một tăng phòng hay ngoài ngã ba đường, dưới bóng dù (như ranh giới của một khoảng không gian linh thiêng) để kể truyện và đám khán giả im ắng lắng nghe, mặt dấu sau ống tay áo hay cánh quạt, vừa say mê vừa kinh sợ. Cách tụng kinh (shômyô, thanh minh) của tăng lữ có lẽ đã ảnh hưởng đến nhạc điệu trầm bổng của lối kể truyện những người nầy. Ví dụ khi kể truyện Heike, người diễn có thể dùng origoe (tiếng nức nở) để kể những đoạn bi đát thương tâm, âm nhạc hứng phấn hiroi (tiếng nhặt) khi kể những đoạn thống khoái, thích thú, hỗn loạn..., âm điệu sanjuu (ba tầng) đẹp, dịu dàng và quí phái lúc đoạn kể về vương triều, thần thánh, nghệ thuật hay quá khứ vàng son. Khi trở lại bình thường thì truyện được kể theo kiểu đơn sơ gọi là kudoki trầm trầm với shiragoe (tiếng bình thường) và một nhịp hơi nhanh. Trong quá trình đại chúng hóa Truyện Heike, ta đã có lần nhắc đến vai trò nhân vật tên Kakuichi, một biwa hôshi vào khoảng 1341-1371 đã có công xếp đặt lại nó thành một áng văn trác tuyệt , giàu âm điệu để dùng vào việc trình diễn.Theo Helen Craig Mc Cullough[21], khoảng năm 1462, đã có khoảng năm sáu trăm biwa bôshi trong thành phố Kyôto theo hai trường phái Ichikata-ryuu và Yasaka-ryuu để kể Heike cho vũ sĩ cao cấp và vương hầu mua vui. Sau cuộc loạn Ônin (Ứng Nhân, 1467-77), quần chúng có thị hiếu khác (như nghe kể Taiheiki, xem tuồng Nô, tuồng chèo Kyôgen) và bỏ quên Heike trong một lúc. Tuy nhiên, Heike đã xâm nhập và các hình thức văn nghệ khác. Nó là chủ đề của thi ca, của loại tuồng Shuramono (chém giết) trong kịch Nô, còn là hình thức mẫu mực để viết các ký sự chiến trận (gunki) của người đời sau. Nhân vật Heike xuất hiện trở lại trong 33 vở ca vũ kịch kôwakamai (hạnh nhược vũ), hình thức tuồng của thế kỷ 16, trên sân khấu jôruri và kabuki cũng như ca khúc, tiểu thuyết và phim ảnh. Ít khi thấy một tác phẩm mà kẻ thắng trận (Yoritomo, Yoshitsune) không đóng vai chính. Vai chính của Truyện Heike lại là tập đoàn Taira từ nam giới đến phụ nữ, con nít, và cả Kiso no Yoshinaka, tức là những kẻ chiến bại . Nói chung, chưa từng có một tác phẩm văn học nào ảnh hưởng đến đời sống văn hóa Nhật Bản như vậy. TIẾT III
TIẾT III: TAIHEIKI (THÁI BÌNH KÝ) : Cùng với Truyện Heike, Taiheiki được coi là hai tác phẩm gunki vĩ đại nhất. Nó gồm 40 quyển chia làm ba phần: phần đầu 12 quyển với chủ đề “tôn quân đảo mạc” ( trung hưng hoàng gia, đánh đổ mạc phủ), phần thứ hai 9 quyển nói về cuộc “tranh chấp nội bộ Nam triều-Bắc triều” và phần chót 19 quyển về những cuộc giao tranh liên miên và “quá trình lập lại hòa bình”. Bản gốc tác phẩm ra đời vào giữa thế kỹ 13 nhưng không rõ ai làm ra. 1) Phần một nói về diễn biến của mưu toan của Thiên Hoàng (thứ 96) Go-Daigo (Hậu Đề Hồ, trị vì 1318-1339) đánh đổ dòng họ quyền thần Hôjô (Bắc Điều) để lập chính quyền mới đời Kenmu (01/1334-02/1336, Kiến Vũ Tân Chính) và sự thất bại của chính ước mộng trung hưng đó. Thiên hoàng Go Daigo đã nhiều lần hạ mật chỉ cho những người trung thành với mình “ đảo mạc ” tức lật đổ chức Shikken (chấp quyền) là Hôjô Takatoki (Bắc Điều, Cao Thì) của mạc phủ Kamakura nhưng lần nào cũng bất thành. Các tôi trung như Hino Toshimoto, Suketomo, hoàng tử Daitô, nhà sư trụ trì chùa Enreki, hào tộc đất Kawachi tên là Kusunoki Masashige...thì kẻ bị sát hại, người lưu lạc, còn chính thiên hoàng cũng bị lưu đày ngoài hoang đảo Oki như thái thượng hoàng Go-Toba một trăm năm về trước. Lúc đó, ở Kyôto, họ Hôjô đặt lên ngôi một thiên hoàng mới còn Takatoki ở Kamakura chỉ vui thú với hát tuồng, chọi chó, không lo chính sự. Kusunoki và hoàng tử Daitô đang bôn đào đã cử binh trở lại chiến đấu chống mạc phủ và thiên hoàng Go-Daigo cũng trốn thoát khỏi đảo. Hào tộc họ Akamatsu lại tấn công kinh đô nên mạc phủ phải gửi tướng Ashikaga Takauji (Túc Lợi, Tôn Thị, 1305-1358) từ miền Đông xuống giải vây.Takauji trở mặt, về cánh với thiên hoàng cũ. Tướng Nakatoki của nhà Hôjô phải bỏ Kyôto và đưa thiên hoàng mới trốn về Đông, giữa đường tự sát. Gia thần 432 người cũng tự sát theo. Một tướng miền Đông khác là Nitta Yoshisada (Tân Điền, Nghĩa Trinh, 1301-1338) cũng khởi binh “đảo mạc”, thế mạnh như chẻ tre, tấn công Kamakura. Chức Shikken cuối cùng của Hôjô là Takatoki cùng 870 gia thần tự sát tập thể. Mạc phủ Kamakura cáo chung. Thiên hoàng Go-Daigo hồi kinh. 2) Phần hai kể về cuộc tranh chấp giữa hai tướng Nitta Yoshisada và Ashikaga Takauji xảy ra sau khi cùng nhau diệt xong họ Hôjô, sự tranh ngôi thiên hoàng gây ra cuộc đối lập giữa hai triều Nam Bắc và đưa đến việc khai sáng cơ nghiệp nhà Ashikaga (tức là mạc phủ Muromachi ở Kyôto). Chính quyền mới của Nitta và Ashikaga chưa gì đã lục đục trong việc ân thưởng công thần, lại gây nên tình trạng kinh tế khó khăn vì thu thêm thuế để xây cất cung điện. Hoàng tử Daitô vừa mới nghi ngờ Takauji muốn đoạt thiên hạ đã bị ông ta bắt bỏ ngục ngay. Tàn đảng Hôjô cử binh chiếm Kamakura nhưng bị anh em Takauji tiêu diệt. Hoàng tử Daitô cũng bị em trai Takauji là Tadayoshi sai người sát hại.Triều đình cử Nitta Yoshisada đi dẹp Takauji nhưng quân của Nitta bị Takauji đánh tan ở Hakone. Takauji thừa thắng tiến vào Kyôto làm thiên hoàng Go-Daigo phải bỏ trốn vào núi Hieizan. Bọn hào tộc Kitabatake Akiie và Kusunoki Masashige phò thiên hoàng đẩy lui Takauji tới Kyuushuu nhưng bị phản công bật lại. Masashige cùng với con là Masasue tự sát sau khi thua trận Minatogawa. Nitta và Kitabatake cũng bại tẩu và chết trận, thiên hoàng Go-Daigo trốn vào vùng rừng núi Yoshino lập ra Nam Triều và kết thúc cuộc đời lưu lạc ở đó. 3) Phần ba miêu tả tiếp đến cuộc tranh giành nội bộ giữa chính bè cánh Ashikaga, việc đại thần Hosokawa Yoriyuki (Tế Xuyên, Lại Chi, 1329-1392) phò tá Tướng Quân trẻ tuổi Ashikaga Yoshimitsu (Túc Lợi Nghĩa Mãn, 1358-1408, người dựng chùa Kim Các) thành công nắm chính quyền, tiến vào kinh đô và lập lại cảnh “thái bình” như thế nào. Con trai khác của Kusunoki Masashige là Masatsura lại dấy binh đánh anh em nhà Ashikaga nhưng phải chết dưới tay tướng tài của Takauji là Kô no Moronao (Cao, Sư Trực, ? - 1351). Tuy nhiên từ đó nội bộ nhà Ashikaga đã có mầm mống chia rẽ vì các tướng tham bạo. Em trai của Takauji là Naoyoshi (Trực Nghĩa, 1306-1352) và tướng Kô no Moronao đánh nhau nhưng Naoyoshi thua phải hàng, sau vào Yoshino theo Nam Triều. Tình hình đảo ngược, đến lượt hai anh em Moronao bị thua Naoyoshi, phải hàng nhưng bị giết vì lúc trước đã không tha các vũ sĩ theo Naoyoshi. Đến lúc nầy, xung đột lại bùng nổ giữa giữa hai anh em họ Ashikaga. Takauji thắng và Naoyoshi bị đánh thuốc độc chết ở Kamakura. Lúc đó ở Kyôto, con trai Takauji là Yoshiakira cô thế, đành giảng hòa với Nam Triều nhưng quân Nam Triều thừa thắng vào kinh đô đuổi Yoshiakira đi. Sau khi lực lượng nhà Nitta đến tiếp ứng cho Nam Triều bị bại trận ở miền Đông, Ashikaga Yoshiakira phấn chấn trở lại và đánh ngược giành được thắng lợi. Về sau, vì sự lục đục của Bắc Triều, quân Nam còn có cơ hội tiến đánh Kyôto nhưng rốt cục thua phải kéo về. Takauji bị nhọt ở lưng chết năm 1358, con là Yoshiakira lên thế chức Tướng Quân. Tuy nhiên, Yoshiakira (38 tuổi) và em trai Motouji (28 tuổi) đều chết cùng năm 1367, đại thần Hosokawa Yoriyuki phải phò con trai Yoshiakira là Yoshimitsu hãy còn nhỏ lên ngôi Tướng Quân, mở màn cho một thời thịnh trị. Bối cảnh lịch sử của Taiheiki là khoảng thời gian trước sau cuộc biến loạn năm Genkô (Nguyên Hoằng, 1331-1334) và thời đại tranh chấp giữa hai triều Nam Bắc (1335-1392). Sách đã ghi chép một cách sống động sinh hoạt phức tạp của người đương thời từ tầng lớp công khanh, quí tộc, phiên trấn đến vũ sĩ, giặc núi (nobushi), dân lưu lạc (afuremono).Tuy không cùng chung quan điểm “được đó mất đó” (thịnh giả tất suy) nặng màu sắc nhà Phật thấy trong Truyện Heike nhưng Taiheiki cũng có chủ đích luân lý, dùng văn chương phê bình thói hư tật xấu người đời. Đến đây xin trích đoạn nói về trận đánh (xem phần 1 của Taiheiki) giữa quân NittaYoshisada (lúc là đồng minh của Ashikaga Takauji) và quân Hôjô (mạc phủ Kamakura). Tướng Takashige thuộc binh đoàn Hôjô đã chiến đấu anh dũng như thế nào và người giữ chức Shikken (phụ chính đại thần) cuối cùng họ Hojô là Takatoki (Bắc Điều, Cao Thì, 1303-1333) và đoàn tùy tùng đã tự sát tập thể ở chùa Tôshôji (Đông Thắng Tự, nơi có nghĩa trang của nhà Hôjô) như thế nào: Takashige hãy còn sống, có bảy thớt kỵ theo bảo vệ. Vì muốn kiếm (chủ tướng phe địch là Nitta) Yoshisada để giao chiến, chàng vừa truy cản đường tiến của chúng vừa chạy quanh lùng anh em Nitta.Yokoyama no Tarô Shigezane, vũ sĩ người đất Musashi, tách ra khỏi nhóm Yoshisada tiến lên đón đầu chàng. Takashige định bụng : “Nếu tên kia là kẻ địch xứng tay, ta sẽ đấu với hắn!”. Chàng thúc ngựa tới và nhận ra Shigezane liền bảo mọi người. “Tên này sức không được bao lăm!”. Thế rồi bèn phi qua phía tay mặt của Shigezane, chém một nhát mạnh đến nổi cắt địch thủ từ mũ trụ đến tận xương mông. Shigezane bị chẻ làm hai và chết ngay. Con ngựa cũng ngã lăn ra với một vết chém trên đầu gối. Một dũng sĩ khác cũng người vùng Musashi tên là Shô no Saburô Tamehisa, thấy Takashige là đối thủ xứng tay mình, muốn tiến lên giao đấu.Anh ta dang tay ra và phóng ngựa tiến đến. Khi Takashige thấy anh ta từ xa, chàng đã phá lên cười: “Nếu phải giao đấu với bọn phản loạn thì cỡ Yokoyama (vừa rồi) cũng còn tạm được. Nhưng nầy, các ngươi hãy xem ta trừng trị một tên vô danh tiểu tốt!” Chàng mới chụp lấy giây cột áo giáp của Tamehisa, nhấc bổng hắn lên không và vứt đi dễ dàng cách đó cả mấy thước.Hai tên vũ sĩ khác bị cái xác của Tamehisa ném trúng đầu, chúi mũi xuống đất hộc máu chết…. Khi Takashige về đến thung lũng Kasai thì áo giáp chàng đã cắm hai mươi ba mũi tên gãy trông như áo đi mưa bằng lá. Ông chàng, Enki, nguyên trấn thủ Nagasaki, đang đợi, hỏi: “Mi làm gì mà lâu la vậy! Tất cả đã xong chưa?” Takashige cúi đầu: “Cháu đã xông vào trận hai mươi lần để kiếm (Nitta) Yoshisada giao đấu nhưng không sao đến gần hắn được. Chẳng có đối thủ xứng sức, cháu buộc lòng phải giết bốn năm trăm mạng trong bọn phản loạn.Nếu cháu không nghĩ giết người là phạm tội thì đã đuổi chúng tận mé biển, lao vào giữa bọn mà phanh thây chúng rồi. Nhưng cháu nhớ đến tướng công (Takatoki) nên mới quày trở lại”. Lời nói của chàng đem lại chút an ủi cho những người sắp chết… Takashige đi hết chỗ nầy đến chỗ khác, giục giã: “Hãy tự sát đi. Nhanh lên. Tôi xin phép làm gương trước”. Chàng cởi giáp trụ ra, chỉ còn miếng hộ tâm kính, uống ba chén rượu do người em chàng là Shin.uemon đã rót trước mặt ngài phụ chính Takatoki rồi đặt chén trước mặt Dôjun,nguyên trấn thủ vùng Settsu : -Chén rượu này đặc biệt dành cho ngài. Và đây là món đưa cay! Nói xong, chàng đâm thẳng thanh đoản đao và lườn trái, cắt ngang một đường về phía tay mặt, kéo hết ruột ra và ngã phủ phục trước mặt Dôjun. Dôjun nâng chén lên uống cạn đến phân nửa. Ông ta đùa : “Món nhắm ngon làm sao. Ngay cả người kiêng khem cũng không thể chối từ”. Ông lại đặt chén rượu trước mặt Jikishô, nguyên trấn thủ vùng Suwa, rồi rút đoản đao của mình ra tự sát. Jikishô bình tĩnh uống ba hớp rượu rồi đặt chén trước mặt tướng công nguyên trấn thủ vùng Sagami (tức quan phụ chính Takatoki), và nói: -Nay các chiến sĩ trẻ đã nêu gương, chúng ta không thể nào làm ngơ cho được. Mỗi một người trong bọn ta phải làm món nhắm cho người kế tiếp. Xong, ông lấy đoản đao rạch ngang bụng, rút nó ra rồi đặt trước mặt tướng công Sagami. Xem chừng nghi ngại về cách xử sự của ngài Sagami nên Nagasaki no Enki (ông của Takashige) chưa mổ bụng vội. Đứa cháu mới 15 tuổi của ông là Nagasaki Shin.uemon cúi rạp trước mặt ông mình: -Một đứa cháu hiếu thảo phải làm rạng danh tổ tiên. Cháu xin Trời Phật tha thứ cho hành động của cháu. Nói rồi, anh đâm người ông già nua hai lần liền, mỗi lần vào dưới cánh tay. Thế xong, anh ta tự rạch bụng mình bằng mũi đao và ngã sấp lên trên xác ông mình. Theo gương các chiến sĩ trẻ, tướng công Sagami mổ banh bụng mình . Người chỉ huy cứ điểm cũng làm theo như vậy. Chứng kiến những cái chết như thế, các chiến sĩ ngồi thành hàng bên trong điện, dù thuộc họ hàng nhà Hôjô hay không, đều vạch trần da thịt trắng bong và tự sát theo kiểu của họ. Người tự mổ bụng, kẻ tự cắt cổ. Thật là một quang cảnh bi tráng. Tất cả 283 người thuộc họ Hôjô có tên sau đây đã tự sát : (danh sách lược). Lửa đuốc được châm vào để đốt tòa nhà. Ngọn lửa cháy phừng phừng và khói dậy đen kịt. Khi lửa soi sáng đủ cho các vũ sĩ ngồi ngoài sân hay trước cổng thấy rõ, nhiều người mổ bụng theo rồi nhảy vào ngọn lửa. Những người khác thì trong vòng cha, con, anh, em...họ giúp nhau đâm chém và ngã gục lên nhau. Máu úng một mảnh sân như nước lụt và thây chồng chất thành đống như chỗ chôn người. Nhiều tử thi bị cháy tiêu nhưng về sau, kết quả một cuộc điều tra cho biết đã có trên 870 người thiệt mạng. Ngoài ra, không kể tới những gì xảy ra ở địa phương, riêng vùng Kamakura đã có 6000 người vừa là con cháu Hôjô, vừa là kẻ chịu ân huệ của dòng họ đó, tăng cũng như tục, đàn ông lẫn đàn bà, đã tự hủy hoại mình để báo đáp ơn xưa hay vì quá sầu khổ vì tình huống lúc đó. (Theo Taiheiki, Takatoki và gia nhân tự sát ở Tôshôji, chương 10, đoạn 15). Đó là kết thúc bi đát của họ Hôjô, nguyên là một chi của nhà Taira (Heike), dòng dõi Taira no Sadamori ở Izu. Họ này làm chức Shikken (Chấp Quyền) như quan phụ chính cho mạc phủ Kamakura, truyền đến đời Takatoki (Cao Thì), vì ngạo mạn và xa xỉ nên bị diệt vong.Thực ra, trong họ Hôjô từng có những nhân tài như Hôjô no Tokimune (Bắc Điều, Thì Tông, 1251-1284) đã đánh tan được quân Mông Cổ ở cửa biển Hakata hai lần vào năm 1274 và 1281 (sử sách những đời kế tiếp có lẽ vì chịu ảnh hưởng phong trào chống Hôjô đã để những chiến công oanh liệt này rơi vào quên lãng).Ngoài ra, cảnh tượng các cuộc tự sát tập thể trong Truyện Heike ở Dan no Ura và trong Taiheiki như trên đây giúp ta hiểu được tại sao sau trận thế giới đại chiến thứ hai, người Nhật đã xử sự hay buộc nhau xử sự theo cùng một nghi thức khi quân Mỹ tiến chiếm đảo Saipan và Okinawa. Có thuyết cho rằng người viết Taiheiki có thể là một tăng lữ tên Kojima Hôshi (Tiểu Đảo Pháp Sư), nhưng văn bản ngày nay ta có chắc đã qua tay nhiều người sửa chữa, nhất là nó đã được các nhà sư dùng vào việc giảng kinh. Cách thuyết pháp bằng Taiheiki như thế này được gọi là “ tụng Thái Bình Ký ” “taiheiki-yomi”[22]. Văn thể của Taiheiki là loại văn hỗn hợp Hán Hòa nhưng nặng phần chữ Hán, có nhiều đoạn mang tính chất michiyuki-bun (đạo hành văn) tức loại văn chương bày tỏ lòng cảm khái trước phong cảnh trên đường du hành, dùng văn vần 5/7 chữ với nhiều kỹ xảo tu từ hoa lệ. Ngoài ảnh hưởng văn học của nó đến thể loại ký sự chiến tranh (gunki) của đời sau, về mặt tư tưởng, nó là động cơ “đảo mạc” kích thích cuộc Duy Tân Meiji. Luật nhân quả, tư tưởng đại nghĩa danh phận…là trung tâm của cuốn truyện. Bên cạnh hai tác phẩm lớn là Heike và Taiheiki, còn có các tác phẩm đáng kể khác như Gikeiki và Soga Monogatari . Chúng ra đời vào thời Muromachi (1392-1573), thời đại mang tên vùng đất thuộc Kyôto nơi họ Ashikaga thiết lập mạc phủ từ 1392 đến 1573. Nó kéo dài 180 năm với 15 đời Tướng Quân. Gikeiki kể lại cuộc đời đầy bi kịch của thiên tài quân sự Minamoto no Yoshitsune, còn Soga Monogatari thuật chuyện hai anh em Soga giết kẻ thù để rửa hờn cho cha. TIẾT IV
TIẾT IV : CÁC TÁC PHẨM CHIẾN KÝ THỜI MUROMACHI: A) Gikeiki (Nghĩa Kinh Ký): Về Gikeiki, không biết ai là tác giả, chỉ suy định nó đã được sáng tác vào dầu thời Muromachi mà thôi. Tình tiết của truyện liên quan đến cuộc đời của Minamotono Yoshitsune (Nguyên, Nghĩa Kinh, 1159-1187) từ lúc nhỏ, lưu lạc, học vũ nghệ, báo thù nhà, cho đến lúc sau khi đã dẹp xong dòng họ Taira, bị thất sủng, bôn tẩu lên miền bắc hai năm để trốn sự truy tầm của chính Yoritomo (Lại Triều), người anh cùng cha khác mẹ[23], đang nắm chính quyền, cho đến lúc phải hủy mình vì gặp bước đường cùng.Yoshitsune từng được phong Kebi Ishi no Jô (Kiểm Phi Vi Sứ Úy) tương đương với chức tư lệnh cảnh sát công an của thiên hoàng nên Yoshitsune còn được gọi là Hôgan (Phán Quan) và Gikeiki là Hôgan Monogatari (Phán quan vật ngữ) và những hình thức nghệ thuật lấy điển tích cuộc đời chìm nổi của ông làm đề tài được gọi là “loại truyện ông quan án” (hôgan-mono = phán quan vật). Gikeiki cũng tả lại mối tình của Yoshitsune với người đẹp Shizuka Gozen, con hát dạo ăn mặc nam trang, tình thầy trò của ông với dũng sĩ Benkei, một tăng nhân. Những tình tiết ấy đã trở thành đề tài các kịch bản tuồng Nô và Kabuki cũng như phim ảnh sau này. B) Soga Monogatari (Tô Ngã Vật Ngữ) : Truyện Soga (Soga Monogatari) là một truyện phục hận hơn là một chiến ký, có thể do một nhà sư vùng Hakone viết nhưng sau có tăng bổ. Nhân vật chính là hai anh em họ Soga (Tô Ngã) tên Juurô (Thập Lang) và Gorô (Ngũ Lang) ẩn nhẫn chờ thời để, nhân địch đi săn gần núi Phú Sĩ, bèn lẻn vào trại dựng ngoài đồng của chúng và thanh toán tính mạng của Kudô Suketsune (Công Đằng, Hựu Kinh), kẻ thù giết cha. Chính ra kẻ thù của hai người cũng chỉ là người nhà, và nguyên nhân của mối thù là cuộc tranh chấp trưởng ấu trong gia đình một tiểu lãnh chúa địa phương, bộ hạ của tập đoàn Taira. Cha hai người, Sukemichi (Hựu Thông), đã chết vì mũi tên bắt lén của hai kẻ ám sát do ông em họ tên Suketsune (Hựu Kinh), gửi tới, trên đường đi săn trở về. Hai người con trai lúc đó mới lên năm và lên ba. Bà mẹ đã ôm hai con vào lòng và bảo : ” Kẻ giết cha các con là Suketsune. Nhớ lấy đầu nó đem về đây trước năm các con hai mươi tuổi ”. Bà mẹ muốn chết theo chồng hay bỏ đi tu nhưng người nhà ngăn nên sau mới lấy người em họ khác của chồng tên Sukenobu (Hựu Tín), tiểu lãnh chúa ở Soga. Đây là câu nói của người anh thố lộ chuyện nhà cùng cậu em : “ Xem kìa, Hakuô (tên hồi nhỏ của Gorô) !. Chim bay trên trời đâu có chung đàn với chim khác. Năm con nhạn bay thành hàng kia, một con phải là chim cha, một con là chim mẹ, ba con kia là chim con.Loài vật không hiểu biết gì còn như thế ! Huống chi anh em ta sinh ra làm người. Mầy là em, tao là anh, mẹ là mẹ ruột của hai ta nhưng rất tiếc là ngài Soga (Sukenobu), cha chúng ta hiện nay, không phải là cha ruột. Người cha đẻ của anh em mình chính là ngài Kawazu (Sukemichi) đó”. Trong khi đó kẻ thù của họ, Suketsune đã trở thành nanh vuốt của Tướng Quân Yoritomo. Để bảo vệ nhà chồng mới, Soga, mẹ họ lại khuyên họ ẩn nhẫn đừng trả thù vội vì sợ đụng chạm đến Tướng Quân. Thấy mẹ đã đổi ý, hai anh em bỏ đi và kiếm cách phục thù. Jurô (Thập Lang) đi lại với một cô gái làng chơi (có chỗ viết là một tiểu thư) tên Tora, một hôm tâm sự với nàng về mối thù cha, cắt tóc bỏ lại để vĩnh quyết nàng, rồi cùng em trai đi tầm thù. Chính ra Gorô, người em, cũng đã định lánh đời đi tu nhưng bị anh thuyết phục nên lòng cũng nung nấu việc báo thù. Sau nhiều lần để lỡ những cơ hội tốt, có khi suýt bị tiết lộ, cũng trong một cuộc đi săn dưới chân núi Fuji, lần nầy do Tướng Quân Yoritomo tổ chức, họ đã đột nhập vào trại khi Suketsune đang ngủ với gái, giết được kẻ thù .Vũ sĩ xúm lại bắt nhưng anh em chiến đấu rất anh dũng, thập lang Sukenari (người anh) bị quân địch chém chết tại trận Truyện được phỏng đoán đã được viết ra vào đời khoảng đời Nam Bắc Triều (1337-1392) và cùng lắm là đầu thời Muromachi (1333-1568). Theo đó, chuyện rửa thù của hai anh em được trong triều ngoài nội tán thưởng, ngay cả Yoritomo cũng khen ngũ lang (người em) “ Mi xứng đáng làm gương cho người vũ sĩ ” và muốn tha chết (vì chính Yoritomo cũng diệt họ Taira để trả mối thù cha). Rốt cuộc, nhiệm vụ bảo vệ sự an nguy của tập đoàn những người theo mình (mạc phủ Kamakura không thể tha thứ một hành động tạo phản, đặc biệt khi nạn nhân là thủ hạ của mình) nên Yoritomo đã nghe theo lời quần thần, ra lệnh hành quyết ngũ lang [24] nhưng đồng thời lo mồ mả, cúng tế chu đáo. Nàng Tora thành ni cô, giữ việc cúng tế hai anh em đến lúc chết. Trong lịch sử văn học Nhật Bản, truyện anh em thập lang và ngũ lang nhà Soga, cũng như truyện bốn mươi bảy vũ sĩ vô chủ phiên trấn Akô và truyện Aoki Matauemon là ba truyện tầm thù phục hận (adauchi) nổi tiếng hơn cả. Lúc đầu Truyện Soga chỉ được truyền tụng ở vùng Hakone dưới chân núi Fuji, sau được phổ biến rộng rãi khắp miền Đông nhờ những cô gái mù đi rong kể truyện gọi là kataribe trình diễn với nhạc khí như trống cơm. Sau đó Truyện Soga đã đi vào kịch bản tuồng Nô, Joruri, Kabuki và tiểu thuyết thời Edo cũng như phim ảnh bây giờ. Vì Gikeiki cũng như Truyện Soga nói trên đều có tính cách an ủi vong kinh những kẻ bị chết oan ức mà thời nào cũng có cho nên nó đã được người đời truyền tụng lâu dài. C) Genpei Shôsuiki (Nguyên Bình thịnh suy ký): Nhân bàn về tiểu thuyết lịch sử thời Trung Cổ, cũng cần nhắc đến tác phẩm Genpei Shôsuiki (còn đọc là Genpei Seisuiki hay Nguyên Bình Thịnh Suy Ký) gồm 48 quyển, ra đời có lẽ vào thế kỷ 13, khoảng giữa thời Kamakura và Nam Bắc Triều. Nội dung câu truyện nói về cuộc sống vinh hoa của họ Taira dưới thời Kiyomori cũng như sự tranh chấp quyền hành giữa hai nhà Taira và Minamoto. Cái khác giữa truyện này và Truyện Heike là tuy Genpei Shôsuiki có vẻ mô phỏng cuốn trước nhưng nó giàu về chi tiết hơn không được hùng hồn diễm lệ bằng Heike (vốn viết ra để kể hơn là để đọc), lại tập trung vào nhà Minamoto hơn là nhà Taira, ngược lại trường hợp của Truyện Heike. Dù vậy, nó đã là nguồn cảm hứng cho các vở tuồng Nô nói về giai đoạn lịch sử thời trung cổ Nhật Bản và là một kho tư liệu lịch sử phong phú cho những ai nghiên cứu về thời điểm ấy. KẾT TỪ
KẾT TỪ: Tóm lại, sau các biến loạn năm Hôgen (1156), Heiji (1160), cuộc tranh chấp giữa hai họ Taira và Minamoto (1156-1185), loạn Jôkyuu (1221), chính biến năm Genkô (1331), thời Nam Bắc Triều đối kháng nhau (1337-1392)… thế lực giai cấp quí tộc ngày một suy vong và tầng lớp vũ sĩ ngày thêm hưng thịnh. Đó là đặc điểm của một giai đoạn lịch sử đã khai sinh ra thể loại văn học ký sự chiến tranh, tiểu thuyết lịch sử và khảo luận lịch sử ở Nhật Bản thời Trung Cổ. CHÚ GIẢI
[1] Shômonki (Tướng Môn ký) : không rõ tác giả nhưng có lẽ viết sau 940, lúc Taira Masakado (Bình, Tướng Môn, 1132-1186) nổi loạn, lập triều đình ở miền Đông và bị diệt. Sách kể lại bằng văn thể chữ Hán chi tiết liên quan đến sự kiện lịch sử đó. [2] Mutsu Waki (Lục Áo thoại ký), chưa rõ tác giả. Ghi lại sự tích trận giặc 9 năm (1051-62) ở vùng Đông Bắc (Mutsu) để tiễu trừ họ Abe gồm có (Abeno Yoritoki =An Bồi Lại Thì, ?-1057, và các con). [3] Musa no yo (vũ giả chi thế) tức thời đại của bọn vũ sĩ. Xem ấn tượng về cuộc loạn Hôgen do tăng Jien (Từ Viên) ghi lại trong Gukanshô (Ngu Quản Sao) . [4] Nàng Tokiwa (Thường Bàn, còn viết là Thường Diệp), năm sinh và mất không rõ. Trước hầu hạ hoàng hậu, sau về làm thiếp Minamoto no Yoshitomo. Từ khi chồng bị chết dưới tay họ Taira, sống ẩn nấp. Rốt cục, vì muốn cứu mạng ba con, phải tự thú và thần phục Taira Kiyomori, có với ông nầy một đứa con gái. Sau con trai nàng là Yoshitsune lớn lên, cùng anh khác mẹ là Yoritomo tuyệt diệt họ Taira, trả được thù nhà và dựng nên cơ nghiệp mạc phủ Kamakura. [5] Mason, RHP, Caiger, JG, A History of Japan, Tuttle Publishing, Tôkyô, 1997. [6] Minamoto no Yorimasa (Nguyên, Lại Chính, 1104-1180), vũ tướng cuối đời Hei-an.Tử trận trong trận giao chiến nổi tiếng trên cầu sông Uji (Vũ Trị). Còn là thi nhân Waka và đã để lại 65 bài thơ trong các tập soạn theo sắc chiếu kể từ Shikashuu (Từ Hoa Tập) trở đi. [7] Có một sự thực nữa là Yoshinaka được phong chức Sei-i Taishôgun (Chinh Di Đại Tướng Quân) và trở thành đối thủ chính trị đáng sợ của anh em Yoritomo. [8] Bà Kenreimon-in (Kiến Lễ Môn Viện, 1155-1213) tức hoàng hậu của thiên hoàng Takakura, tên con gái là Taira Tokushi (Bình, Đức Tử), thứ nữ của Kiyomori và là mẹ của thiên hoàng xấu số Antoku (An Đức), chết trong trận thủy chiến ở Dan-no-ura lúc mới 4 tuổi. Bà đã tự trầm theo con nhưng được cứu thoát, sau xuống tóc làm ni ở phía bắc Kyôto. [9] Nàng Gi-ô (Kỳ Vương, Kỷ Vương) kỹ nữ đất Kyôto, vốn người ở thôn Gi-ô (Kỳ Vương Thôn) nên lấy quê làm tên, được Kiyomori thương yêu. Sau bị thất sủng, xuất gia làm ni ở Vãn Sinh Viện vùng Saga, năm mới 21 tuổi. [10] Nàng Kogô (Tiểu Đốc), sủng cơ của thiên hoàng Takakura. Bị Kiyomori ghét, đã đi trốn ở Sagano còn bị bắt về và bị buộc làm ni, lúc mới 23 tuổi. Cảnh lính đi bắt nàng trở thành một lớp lang cổ điển của tuồng Nô. [11] Jishô (Trị Thừa, 1177-1181) tương ứng với những năm họ Taira suy vong. [12] Còn đọc là Genbei seisuiki, nói về sự hưng vong của hai họ Taira và Minamoto. [13] NagazumiYasuaki, “Đọc Truyện Heike” (Heike Monogatari wo yomu), Iwanami Junia Shinsho, Tôkyô, 1980. [14] Em gái của một trong bốn tướng mạnh (Tứ Thiên Vương) của Yoshinaka. [15] Sự thất bại của Yoshinaka cũng một phần vì lụy đàn bà. Khi vào Kyôto, ông mê con gái quan đại thần Fujiwara no Motofusa, không thiết việc binh, ngay cả khi hai tướng lãnh trung thành là Echigo Chuuta và Tsuwata Saburô tự sát trước điện để khuyên can. [16] Minamoto no Yoshinaka được nuôi dưỡng, lớn lên trong núi Kiso nên lấy núi làm tên và lúc chết cũng muốn chết trong núi. [17] Cánh tay mặt của Yoshinaka, con trai người vú nuôi và bạn từ thời thơ ấu của ông, một trong bốn tướng mạnh gọi là Tứ Thiên Vương. [18] Có lẽ tác giả muốn ngụ ý cuộc hành quân tháo chạy của tập đoàn Taira. [19] Ngày xưa, tên một vũ sĩ bắt đầu bằng tên đất (như Kumagai), sau đến thứ bậc trong nhà (con trai thứ hai thì gọi là Jirô chẳng hạn), rồi mới đến tên được đặt cho (như Naozane) . Do đó, hai anh em ruột có thể có tên và thứ bậc khác nhau như trường hợp anh em họ Soga. [20] Quý tộc Heike có tục nhuộm răng đen, do đó lính miền Đông dễ phân biệt họ với quân mình. [21] Craig Mc Cullough, Helen, The Tales of Heike, Stanford University Press, Stanford , California, 1988. [22] Taiheiki-yomi, hình thức vừa đọc truyện Taiheiki vừa giảng là nguồn gốc của phong cách kôdan (giảng đàm) của các nhà kể truyện trình diễn chuyên nghiệp đời sau. [23] Tình cảm huynh đệ xem ra không nặng cho lắm trước sự tranh chấp quyền hành. Anh em Ashikaga Takauji và Naoyoshi tiêu diệt lẫn nhau cũng như Minamoto no Yoritomo không tha thứ em họ Yoshinaka lẫn hai em ruột là Yoshitsune và Noriyori. [24] Xin lưu ý là truyện Chuushingura (Trung Thần Tàng) kể chuyện 47 người vũ sĩ không chủ (Ronin) trả thù cho chủ cũ vào thời Edo (năm Genroku 15, 1703) và vụ chính biến Ni-niroku (Nhị Nhị Lục hay 26/02/1936) dưới thiên hoàng (thứ 124) Shôwa (Chiêu Hòa, trị vì 1926-1989) cũng theo một mô-típ tương tự của lô-gíc phong kiến nghĩa là dù theo ai và đúng hay sai mặc lòng, hễ nổi loạn là phải chết. |
|
#8
|
||||||||
|
||||||||
|
Chương 7 : DÒNG VĂN HỌC NHẬT KÝ VÀ TÙY BÚT Cái nhìn sắc bén về cuộc đời của những kẻ đứng bên lề . Nguyễn Nam Trân ![]() TIẾT I
TIẾT I: NHẬT KÝ THỜI HEIAN: Trong xã hội quí tộc Nhật Bản, vai trò của nikki (nhật ký) là ghi chép các việc công hằng ngày. Viết bằng chữ Hán, nó được dùng như một thứ tài liệu thực dụng để ghi nhớ mọi việc (bị vong lục) và do các quan chức thường là phái nam đảm nhiệm. Nikki bằng chữ quốc âm kana cũng đã xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ 10 để ghi lại diễn biến của những cuộc thi tài ở các cuộc bình thơ (uta-awase) chẳng hạn, nhưng việc ghi chép nầy vẫn còn có tính cách công cộng. Phải đợi đến Tosa nikki (Thổ Tá nhật ký) thì thể loại Nhật Ký viết bằng quốc âm Kana mới được coi như một hình thức văn chương. Thể loại này cần được hiểu theo nghĩa rộng nghĩa là bút ký có lẫn chủ quan chứ không phải “ghi chép hằng ngày” khách quan vô tư. Nó bao gồm cả những suy tư có tính chất nội tâm (jishô = tự chiếu) và thường chen cả thơ waka vào nữa.Tuy ngày nay người Nhật vẫn tiếp tục viết nikki nhưng cái gọi là “văn học nikki” của họ đã thuộc hẳn vào một thời đại quá vãng (thế kỷ 10 đến 16). A) Tosa nikki (Thổ Tá Nhật Ký): Được biết Tosa nikki do Kino Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi, 868?-945?) viết và cho ra đời năm 935.Trong cuốn nhật ký nầy, Tsurayuki đã ghi chép chi tiết cuộc hành trình 55 ngày đường của mình từ Tosa (Thổ Tá, nay thuộc tỉnh Kochi, phía nam đảo Shikoku), nơi ông vừa thôi việc quận thú (trấn thủ = kami), về đến kinh đô. Nội dung nhật ký nhắc nhở nhiều về kỷ niệm về đứa con gái đã chết trong thời gian ở nhiệm sở, nỗi lo lắng về cuộc hành trình đường thủy đầy sóng gió và cướp bóc cũng như niềm vui và hy vọng lúc hồi kinh. Chúng tôi từ giả chỗ đỗ lại tối hôm trước để đi tiếp đến một bến khác. Trông thấy núi hiện ra ở đằng xa. Một đứa bé lên chín, mặt còn trẻ hơn tuổi của nó, bảo rằng nó có cảm tưởng núi đang chạy theo thuyền. Mọi người còn ngạc nhiên hơn vì nhân đó nó có làm một bài thơ: Thuyền trôi, nhìn cảnh núi đồi, Hỏi tùng có biết núi trôi theo thuyền? Bài thơ thật hợp với một cậu bé. Hôm đó biển động, tuyết rơi trên những mỏm đá ven bờ và sóng vỡ ra như hoa. Có người nào đấy vịnh như thế này: Tai nghe sóng đánh gần xa, Mắt nhìn ngỡ tuyết hay hoa trắng trời. (Trích Tosa nikki, Ngày thứ 22) Tác giả đã giả thác tâm sự vào một nhân vật nữ để viết cho nên sử dụng được lối hành văn mà thời ấy mệnh danh là “lối viết đàn bà” (onnade = nữ thủ) nghĩa là tự do, uyển chuyển, sắc sảo, biết đùa cợt, lại hay châm biếm. Có thể nói là, lần đầu tiên, nhờ có văn chương quốc âm kana mà văn nhân thời đó đã có phương tiện để mô tả và phê phán xã hội đương thời cũng như trình bày dễ dàng hơn những chi tiết cuộc sống nội tâm của chính mình. Thực ra chữ onnade (nữ thủ) là để gọi loại văn tự hiragana tức bình-giả danh (văn tự biểu âm bắt nguồn từ chữ Hán viết theo lối thảo) của Nhật. Hiragana được xem như dành cho các bà để họ làm thơ waka hay viết thư (thời đó thư tín gọi là tiêu tức[1]) và ngay cả khi viết truyện hoặc nhật ký.Trong khi đó, chữ Hán (Kanji) được gọi là mana (chân danh) là chữ viết của đàn ông và mang tên là onokode (nam thủ).Tuy nhiên từ đời Nara bước qua thời Hei-an, có một sự chuyển hướng: onokode đã nhường bước cho onnade nghĩa là Giả lấn lướt Chân, dòng văn học phụ nữ bị coi thường kia lần lần đã chiếm ưu thế. Đầu thời Hei-an, đã có man.yôgana (Vạn Diệp-giả danh) hay magana (chân-giả danh) tức là lối biểu hiện âm tiết Nhật qua chữ Hán viết theo lối Hài và Hành nghĩa là không giản lược. Thế rồi văn tự sôgana (thảo-giả danh) ra đời và đúng như tên của nó, bắt nguồn từ lối viết thảo với khuynh hướng giản lược hóa. Dưới triều Hei-an thì magana lại trở thành onokode (nam thủ). Khi viết magana nhanh tay thì tốc độ viết làm cho chữ tháu đi và biến dạng thành sôgana, hình thái thay đổi đến độ không còn nhận ra mặt chữ xưa (chân tướng). Đó là onnade vậy. Đặc điểm của Tosa nikki là trong đó có ghi lại 57 bài waka và nội dung của nikki có liên quan đến cuộc sống riêng tư của tác giả, đó là một điều mới mẻ. Tuy nội dung của nó không phong phú bằng Nittô guhô junrei kôki (Nhập Đường cầu pháp tuần lễ hành kí) của tăng Ennin (Viên Nhân tức Jikaku Daishi, Từ Giác Đại Sư) viết trước đó hơn một thế kỷ cũng như một trăm bài thơ bày tỏ tâm sự mình (trong Tự Ý Nhất Bách Vận ) của Sugawara no Michizane. Tuy nhiên, chủ ý của Ki no Tsurayuki không phải là sự quan sát ngoại giới hay trầm tư suy gẫm như hai người đi trước đó, nhưng đúng ra để trình bày biến chuyển tâm lý, tình cảm của mình. Như khi về đến ngôi nhà cũ ở Kyôto nay đã tan hoang, ông viết : “ Lòng của người giữ nhà cho ta chắc cũng đến điêu tàn như ngôi nhà. Chỉ có năm sáu năm trôi qua từ ngày ta đi vắng mà tưởng đã mấy trăm năm.Trong ta tràn ngập bao mối cảm hoài và ta nghĩ về đứa con gái của ta đã sinh ra trong ngôi nhà. Ta không biết nói sao hơn để tỏ lòng thương tiếc nó đã không còn để về đây với ta lần nầy ”. Vai trò của Tosa nikki rất quan trọng vì, tuy do một người đàn ông viết ra, nó đã mở đường cho một dòng văn học quan trọng của Nhật Bản : văn học nữ lưu (joryuu bungaku), gồm nhật ký (sẽ đi vào chi tiết sau) như Kagerô nikki, Izumi Shikibu nikki, Murasaki Shikibu nikki, Sarashina nikki và tùy bút mà điển hình là Makura sôshi. B) Kagerô nikki (Tinh Đình nhật ký)[2] : Sách gồm ba quyển thượng, trung, hạ , do bà mẹ (không rõ tên) của hữu đại tướng Fujiwara no Michitsuna (Đằng Nguyên, Đạo Cương) trước tác, ra đời năm 974.Người ta chỉ biết tác giả là một trong 36 ca tiên và mất khoảng năm 995 mà thôi. Bà là con gái của Fujiwara Tomoyasu (Đằng Nguyên Luân Ninh) và là dì của tác giả Sarashina nikki (sẽ nói đến trong những trang sau) tức con gái (cũng không rõ tên) của Fujiwara Takasue (Đằng Nguyên Hiếu Tiêu).Trong nhật ký có ghi chép sự việc từ lúc bà được Fujiwara Kane-ie [3] (Đằng Nguyên Kiêm Gia) cầu hôn (954) năm 19 tuổi cho đến năm 40 tuổi (974) nghĩa là hai mươi mốt năm của cuộc sống vợ chồng. Tác giả sinh trong một gia đình quan suryô (thủ lĩnh) tức giai cấp tiểu quí tộc địa phương nhưng nhờ duyên phận được lọt vào gia đình đại quí tộc. Bà là vợ hai, sinh được người con trai là Michitsuna (Đạo Cương), thành thứ mẫu của quyền thần Michinaga (Đạo Trường) và hoàng hậu Senshi (Thuyên Tử), có hai cháu gái gọi bằng bà về sau cũng làm hoàng hậu (tức Teishi và Shôshi đã nhắc đến ở trên). Tuy nhiên, điều bà ghi lại trong nhật ký là chuỗi ngày không được đầm ấm với chồng cho đến khi trông cậy được vào con trai mình. Thuở xưa, dưới chế độ đa thê[4], vì là người có lòng tự hào nên sau khi thất bại trong việc giữ tình yêu của chồng mà đối với bà chỉ là cái bóng chập chờn (kage), bà trở thành cay đắng và đau khổ.Tác phẩm trình bày được tâm trạng buồn thương, u ẩn đó. Trong tựa sách, bà phê bình tính cách bịa đặt vô nghĩa (soragoto = không ngôn, hư sự) của thể loại truyện monogatari và chủ trương viết là phải đi từ những kinh nghiệm cá nhân có thực. Tuy bà trình bày nỗi bất hạnh (ghen tuông, lo lắng, tuyệt vọng) trong cuộc sống vợ chồng nhưng bà cũng muốn làm sáng tỏ để mọi người rõ nguyên nhân của nỗi bất hạnh đó là gì và cho biết nguồn hạnh phúc gia đình không phải đến từ mỗi ông chồng là Kane-ie. Phần đầu tập nhật ký là văn vần (quyển thượng, 15 năm đầu), đặt trọng tâm qua trao đổi thơ xướng họa, nhưng dần dần khi chủ đề tác giả đặt ra đã được khai thác sâu xa hơn thì nó ngã hẳn qua hình thức văn xuôi (quyển trung và hạ, những năm còn lại). Kagerô khai triển được bút pháp của Tosa trong lãnh vực văn chương quốc âm và như thế làm đồi dào thêm khả năng phân tích tâm lý bên trong, đã ảnh hưởng nhiều đến Genji về sau. C) Izumi Shikibu nikki (Hòa Tuyền Thức Bộ nhật ký) : Tác phẩm xuất hiện năm 1007, nhiều thuyết cho là bà Izumi Shikibu (Hòa Tuyền, Thức Bộ, sinh khoảng 978 – chết sau 1033) viết. Ta đã biết bà là thi nhân waka nổi tiếng, con gái của Ôe no Masamune (Đại Giang, Nhã Chí), một nhà thơ lớn, mẹ của nữ sĩ Koshikibu (Tiểu Thức Bộ), cũng là một nhà thơ. Bà lấy chồng hai lần. Trước là Tachibana no Michisada (Quất, Đạo Trinh, năm 996), sau là Fujiwara no Yasumasa (Đằng Nguyên, Bảo Xương, 1010). Ngoài ra, giữa hai cuộc hôn nhân, bà có cuộc đời tình ái sóng gió với nhiều người đàn ông. Tập Izumi Shikibu nikki chép lại thời gian 10 tháng trời (năm 1003) của cuộc tình duyên giữa bà và một trong những người yêu, hoàng tử (thân vương) Sochi-no-Miya Atsumichi (Súy Cung Đôn Đạo, 977-1007), dưới hình thức truyện. Nhật ký vẽ ra được quang cảnh thế giới tình ái thơ mộng của hai người xoay quanh trên 140 bài thơ tặng đáp. Sở dĩ có người nghi ngờ chưa chắc bà viết là vì thắc mắc tại sao nhân vật chính lại xuất hiện với ngôi thứ ba. Kẻ phản luận bảo rằng đó là chủ ý của tác giả muốn dấu danh tánh. Cuộc đời của Izumi Shikibu cũng tự phát, đầy cá tính, lãng mạn và nồng nhiệt như thơ văn của bà. Bà bỏ mặc khuôn phép, thành kiến của xã hội, có nhiều hành vi làm người đương thời không chấp nhận nổi, đánh giá bà là một kẻ say đắm ái tình. Thơ của bà còn giữ được khoảng 1470 bài tanka trong hai tập thơ (tuy có nhiều bài in trùng nhau) và từ đó 247 bài đã được đăng trong các tuyển tập soạn theo sắc chiếu làm bà trở thành nhà thơ phụ nữ được nhắc đến nhiều nhất. Lối sống và phong cách làm thơ của bà đã ảnh hưởng nhiều đến Yosano Akiko (Dữ Tạ Dã, Tinh Tử. 1878-1942), một nhà thơ nữ hàng đầu của thi ca hiện đại, người đã đặt lại vị trí bà như một phụ nữ đã được giải phóng. D) Murasaki Shikibu nikki (Tử Thức Bộ nhật ký) : Murasaki Shikibu hoàn thành tác phẩm này vào năm 1010. Bà là nữ quan hầu cận hoàng hậu Shôshi (Chương Tử) nên ghi chép tách bạch được chi tiết của đời sống xa hoa, lộng lẫy của cung đình.Từ quang cảnh hoàng hậu lâm bồn cho đến mọi nghi thức và lễ lạc trong cung, bà đều mô tả rõ ràng. Bên cạnh đó và không đồng hóa với nó là cuộc sống nội tâm của mình mà bà cũng đã trình bày một cách sâu sắc và bén nhạy. Phần cuối của tập nhật ký là “ thư tín ” (tiêu tức văn = shosokubumi) trong đó bà bày tỏ ý kiến về các nữ quan và văn nhân đương thời ( Sei Shônagon, Izumi Shikibu, Akazome-Emon...) cũng như tâm sự về những điều tự phê khá nghiêm khắc đối với bản thân : Về Izumi Shikibu, bà phát biểu : “ Có tài về văn chương thư tín và thơ waka, gây được cảm tưởng như viết lách nhẹ nhàng và làm thơ dễ như ứng khẩu. Tuy nhiên sự hiểu biết và lý luận về thơ thì đáng ngờ, không phải là một nhà thơ đáng cho ta phải để ý ”. Bà có vẽ nhẹ tay với Akazome emon : “ Tuy không phải là một nhà thơ xuất sắc đặc biệt nhưng thơ ý vị sâu sắc, bài nào đọc lên mình cũng cảm thấy thẹn vì thua kém ”. Còn đối với Sei Shônagon, bà nặng nề hơn : “ Thật tình người nầy hay làm cao, ra vẻ ta đây. Thông minh, viết đầy chữ Hán ra đấy nhưng nhiều chỗ vẫn chưa đạt. Tưởng như trội hơn người nhưng lại để lộ ra sự yếu kém. Muốn đi tìm cái phong lưu nhưng thành ra khinh bạc ”. Lý do của sự khe khắt nầy có lẽ là hai người hầu hai bà chủ trong tư thế đối lập với nhau chăng ? E) Sarashina nikki (Cánh Cấp nhật ký) : Do bà SugawaranoTakasueno Musume viết vào khoảng năm 1060. Không rõ tên tác giả, chỉ biết bà là “con gái nhà Sugawara -no-Takasue (Quản Nguyên, Hiếu Tiêu)” và sinh khoảng năm 1008. Dòng dõi Sugawara rất giỏi văn chương học vấn. Mẹ bà là con gái Fujiwara no Tomoyasu, cho nên gọi tác giả Kagerô nikki bằng dì. Bà kết hôn với Tachibana Toshimichi (Quất, Tuấn Thông) nhưng chồng chết, sống một tuổi già góa bụa. Sarashina (nhật ký lấy Sarashina tức vùng núi non thuộc tỉnh Nagano, phía bắc Tokyo bây giờ, làm bối cảnh. Có thể vì Toshimichi,chồng bà, từng làm chức quận thú (kami) ở Shinano (Tín Nùng) tức chung quanh vùng nầy) bắt đầu kể về thế giới thơ mộng của vùng Kazusa (Thượng Tổng, một phần của Chiba bây giờ) ở miền Đông, thuở ấy rất hoang vu, nơi bà sống với cha suốt thời thơ ấu (trước năm 1020, lúc 13 tuổi). Sau đó là những hiện thực phủ phàng lúc lớn lên (chồng chết năm 1058) và tuổi già đi tìm an ủi trong lòng tin tôn giáo.Nội dung nhật ký lồng trong một khoảng thời gian dài ước chừng 40 năm và mô tả nhiều về thế giới thấy được trong mộng mị. Tuy vẫn đề cập đến những chủ đề thường thấy trong các monogatari, đặc điểm của Sarashina là mô tả thành công tâm trạng buồn thương của cảnh cô độc góa bụa và bàn luận một cách thấm thía về cái bèo bọt vô nghĩa của kiếp người. Người ta còn phỏng đoán bà còn là tác giả hai cuốn truyện Yoru no nezame “Tỉnh Giấc Nửa Đêm” và Hamamatsu Chuunagon Monogatari “Truyện quan Chuunagon Hamamatsu”. F) Các nhật ký khác: Ngoài những nikki nói đến ở trên, có thể kể thêm Jôjin Ạjari-no-haha-no-shuu (Thành Tầm A-Xà-Lê Mẫu tập, 1073) cảnh của bà mẹ của nhà sư Jôjin (Thành Tầm) kể lể nỗi khổ khi đưa chân con lên đường qua Trung Quốc hành hương các di tích của Phật Giáo. Trong tập nầy, mọi tâm trạng của người mẹ đối với con đã được miêu tả tường tận. Cũng như phải nói đến Sanuki-no-suke nikki[5] (Tán Kỳ Điển Thị nhật ký, 1108) của chức nữ quan hầu cận tên gọi Fujiwara Nagako (Đằng Nguyên, Trường Tử) viết, kể lại sự tình từ lúc thiên hoàng (thứ 73) Horikawa (Quật Hà, trị vì 1087-1107 ) phát bệnh, băng hà cho đến khi tân quân lên kế vị.Tác giả ghi chép tỉ mỉ về cái chết của thiên hoàng và sau khi vua mới là thiên hoàng (thứ 74) Toba (Điểu Vũ, trị vì 1107-1123) lên ngôi, vẫn hoài niệm về vua cũ. Đặc điểm của tập nhật ký nầy là mang chủ đề liên quan đến sự chết. Theo Katô Shuuichi, qua các chi tiết vừa kể, ta có thể rút ra ba kết luận: - Những tập nikki nầy được viết trong một khoảng thời gian 200 năm (giữa thế kỷ thứ 10 đến giữa thế kỷ 12) và hầu như do phụ nữ viết. Họ đều thuộc tầng lớp quí tộc bậc trung, con nhà quan lại trấn thủ địa phương. - Các tác giả phụ nữ nầy hầu như đều có bà con xa gần với nhau và gia đình họ cũng có những cây bút phái nam, từng có tác phẩm viết bằng Hán hay Hòa văn. - Những cây viết lỗi lạc nhất trong nhóm là các “nữ học sĩ có phòng riêng” (nyobô = nữ phòng”) trong cung. Việc gọi văn học nữ lưu thời Heian là văn học nữ quan (nyobô bungaku) thật ra rất chính xác. Từ đó hãy thử trả lời câu hỏi, tại sao ở Nhật lại có một tầng lớp phụ nữ thành công trong lãnh vực văn học như vậy? Trước tiên là họ sống trong một thế giới khép kín và không liên quan gì đến chính trị. Con nhà dòng dõi, họ có học vấn cao và điều kiện sinh sống thoải mái. Lớp quí tộc bậc trung còn chẳng có cách nào khác để tiến thân hay biểu lộ giá trị của mình trong một hệ thống thứ bậc chặt chẻ, nói chi đến phụ nữ. Các bà đành đi theo con đường văn chương. Vì không thể thay đổi xã hội cung đình, họ tìm cách quan sát và giải thích nó. Hoàng hậu hay chính phi của đông cung thường có khoảng ba bốn mươi nữ quan thị tùng.Trong triều như thế phải có đến vài trăm người và tạo thành một nhóm người khá quen biết nhau.Họ vừa là tác giả vừa là độc giả của nhau. Họ có làm thơ, viết tiểu thuyết nhưng sở trường của họ là thể koại nikki (nhật ký) và zuihitsu, sôshi (tùy bút). TIẾT II
TIẾT II: TÙY BÚT THỜI HEIAN: Phương pháp viết nhật ký đã được qui định qua Kagerô nghĩa là người viết phải tập trung để theo dõi những biến chuyển nội tâm của mình. Nhật ký nặng về ghi chép nên chỉ trình bày diễn biến ấy theo trình tự thời gian. Tuy nhiên loại hình văn học mới vẫn giữ cái sắc bén và tinh tế trong quan sát khách quan nội tâm (khả năng tự soi mình = jishô hay tự chiếu) của nhật ký và còn nhấn mạnh và phát huy thêm khả năng nầy, được gọi là zuihitsu (tùy bút), nghĩa đen có nghĩa là “để ngòi bút tự nó dẫn lối đưa đường”.Tác phẩm tiêu biểu cho thể loại zuihitsu là Makura sôshi (Chẩm thảo tử) của bà Sei Shônagon, ra đời khoảng năm 1001. A) Sei Shônagon[6](Thanh, Thiếu Nạp Ngôn, 966?-1024?): Bà Sei là con gái của thi sĩ waka tên là Kiyohara Motosuke (Thanh Nguyên, Nguyên Phụ), một trong Lê Hồ Ngũ Nhân tức 5 người làm việc trong Viện Thi Ca (chung quanh có trồng cây lê). Tằng tổ phụ của bà, ông Kiyohara Fukayabu (Thanh Nguyên, Thâm Dưỡng Phụ), là thi nhân nổi tiếng thời Kokin Waka-shuu (905-914).Từ thuở nhỏ bà đã nằm lòng những tác phẩm cổ điển. Năm 993, thiên hoàng Ichijô (Nhất Điều) vời bà vào cung hầu cận hoàng hậu Chuuguu Teishi (Trung Cung Định Tử). Suốt 10 năm bên cạnh hoàng hậu, bà được hậu đãi nên phát huy được tài năng của mình. Sau khi hoàng hậu mất, bà từ chức.Trước bà đã kết hôn với Tachibana Norimitsu (Quất, Trắc Quang) năm 15 tuổi. Họ lấy nhau được 10 năm thì ly hôn. Sau khi rời hậu cung, bà thành vợ của Fujiwara Muneyo (Đằng Nguyên, Đống Thế) nhưng lại có thuyết cho rằng cuối đời bà xuất gia, sống cô độc. Bà lớn hơn Murasaki Shikibu bốn tuổi và mất sau tác giả Truyện Genji 10 năm. Cuộc đời hai người như xen kẻ và có nhiều điểm giống nhau. Cả hai đều dòng dõi trâm anh và văn học, đều là nữ quan hầu cận hoàng hậu, đều là đại biểu xuất sắc của văn học Nhật Bản, một người về tùy bút, một người về truyện kể. Điểm khác nhau giữa họ là cái nhẹ nhàng bén nhọn nơi Sei Shônagon tương phản với cái sâu lắng thâm trầm của Murasaki Shikibu. Đặc sắc của bà Sei Shônagon là cách nhìn sự vật khách quan, nặng về lý tính để tìm thấy trong sự vật và con người cái “kỳ cục, buồn cười” (okashi) của nó, trong khi Murasaki Shikibu nhìn mọi sự với cái nhìn chủ quan, thiên về tình cảm để tìm ra cái “đáng yêu, đáng thương” (aware). Cái khác nữa là bà Sei trung thành với cánh nhà bác của họ Fujiwara, trong khi Murasaki là người của cánh nhà chú. Khi kẻ cầm đầu cánh nhà bác là tể tướng Michitaka (Đạo Long) mất, nhà bác thất thế, thì các con trai ông như Korechika (Y Chu), Taka-ie (Long Gia) bị tá thiên về địa phương (phủ Dazai ở Kyuushuu) và con gái, hoàng hậu Teishi (Định Tử) buồn cảnh bị chú áp bức, cắt tóc đi tu rồi chết lúc mới có 24 tuổi. Bà Sei giữ lòng trung với chủ nên từ chức và đi lấy chồng. Từ đó là giai đoạn hưng thịnh của cánh nhà chú với tân tể tướng Michinaga (Đạo Trường). Ông này cho con gái là Shôshi (Chương Tử) nhập cung. Bà Murasaki được vời vào hầu hoàng hậu mới. Ta đã thấy trong nhật ký của mình, (Murasaki Shikibu nikki), bà đã có những lời phê bình rất nặng nề đối với bà Sei mà bà cho là người “ngạo mạn” , “khinh bạc”và “làm dáng” v.v… Ngoài Makura no Sôshi, bà Sei còn để lại thi tập Sei Shônagon Shuu (Thanh Thiếu Nạp Ngôn Tập). B) Makura no sôshi (Chẩm thảo tử): Theo một tiết trong bài bạt, nhờ có hoàng hậu Teishi ban cho giấy (sôshi = thảo tử) để dùng, Sei Shônagon nhân đó mới viết tác phẩm Makura no sôshi. Chẩm (Makura) là cái gối dùng gối đầu, ý nói quan trọng và gần gũi bên mình. Thuyết khác lại xem cái gối (rỗng) là chỗ để chứa giấy để viết.Có thể hiểu bà viết sách nầy không phải với tư cách cá nhân mà với tư cách công của một nữ quan. Tùy bút nầy không ghi chép gì về chuyện xảy ra sau khi hoàng hậu Teishi mất nên có thể xem như đã viết xong trước năm 1001. Dầu vậy với một đôi chỗ bổ túc và sửa đổi, sách chỉ thực sự hoàn thành khoảng cuối năm 1004. Cách viết Makura no sôshi rất tự do, đề tài có thể là mọi thứ từ kinh nghiệm, điều nghe thấy, cảm tưởng về cuộc sống chung quanh.Dài ngắn có tất cả 300 đoạn và trong đoạn nào cũng in dấu ấn những cảm xúc về thẩm mỹ rất nhạy bén của tác giả. Có thể phân loại nội dung các chương đó như sau: -Trước hết là các đoạn có tính cách nhật ký, hồi tưởng, ghi chép các điều nghe thấy trong cung chung quanh cuộc sống đài các và tao nhã của hoàng hậu Teishi, một người đẹp và thông minh toàn hảo. Tiêu biểu có đoạn mang tên Okinamaro (Ông Hoàn = Ông Lão) và Kôrohô-no-Yuki (Hương Lô Phong Tuyết = Tuyết trên đỉnh Hương Lô). Xin trích dịch đoạn nói về ngắm tuyết như sau: Tuyết rơi hết sức nhiều và ngập dày nên khác ngày thường, bọn cung nhân chúng tôi cứ để sập liếp cửa, châm lò than xong định tụ tập trò chuyện hầu hoàng hậu.Nhưng hôm đó nương nương lại gọi tôi “Nầy Shônagon, thế chứ tuyết trên ngọn Hương Lô ra sao nhỉ?”. Thấy tôi nâng liếp cửa và cuốn cao bức rèm lên, ngài bèn nhoẻn miệng cười. (Tuyết trên đỉnh Hương Lô) Ở vùng tây nam Cửu Giang tỉnh Giang Tây bên Trung Quốc có dãy núi tên Lô Sơn, trong đó có ngọn Giáp Lô Sơn có hình thù giống như cái lò hương (hương lô) nên gọi là Hương Lô Phong (Kôrohô theo cách đọc của Nhật). Thi nhân đời Đường Bạch Cư Dị (772-846) có câu thơ rất nổi tiếng “ Hương Lô Phong tuyết bát liêm khan”(Vén rèm ngắm tuyết ngọn Hương Lô), có ghi lại trong tuyển tập thơ văn Bạch Thị Trường Khánh Tập do bạn ông là Nguyên Chẩn biên soạn vào năm 824. Văn tập nầy rất phổ biến ở Nhật, nhân vật triều Heian rất yêu chuộng, gọi gọn lại là Văn Tập hay Tập. Câu chuyện của bà Sei viết như trên mới đọc thì có vẻ tầm thường nhưng nếu có kiến thức cổ điển Trung Hoa mới thấy hai thầy trò Sei Shônagon có văn hóa cao, phong cách tao nhã và rất tâm đầu ý hợp vì không cần nói nhiều cũng hiểu nhau. -Thứ đến các đoạn có tính cách “loại tụ” (ruijuu = họp thành một loại) nghĩa là nói về những cái giống nhau (monozukushi) của từng sự vật (núi, sông…) và những tình cảm mà sự vật ấy có thể gợi ra cho ta.Có thể sử dụng nó để làm mào đầu[7] (makura) để tựa vào đó mà đặt thơ gieo vần.Tác giả đã có khả năng liên tưởng ngôn ngữ dựa trên những nhận xét tinh tế và nhạy bén. Những cái ít khi thấy là bố vợ khen chàng rễ, con dâu được mẹ chồng thương, cái nhíp bạc nhổ đúng ngay sợi tóc, tớ không nói xấu chủ. Cũng như khó kiếm ra người không có lấy một thói hư tật xấu, từ mặt mũi, tính tình đến phong cách đều tuyệt vời, tiếp xúc thường xuyên với người đời mà không để ai chê bai được điều gì... (Những Điều Hiếm Có)[8] Một người khách đến chơi lúc ta đang vội mà còn kể lể dông dài. Nếu là kẻ đối xử tệ được thì ta đã có thể bảo “Thôi, để lúc khác!” và tống khứ anh ta. Nhưng nhỡ là kẻ mình phải giữ lễ thì họ đặt ta vào một hoàn cảnh khó tiến thoái, thật bực. Một sợi tóc rớt trong nghiên hay hạt cát dính vào thỏi mực kêu ken két lúc ta mài…Khi ta đang muốn lắng nghe chuyện bỗng có đứa bé chợt khóc thét. Một đàn quạ bay tán loạn tứ phương, kêu inh tai. Con chó nhè người ban đêm lén tìm đến thăm ta mà sủa nhặng lên. Một giết phức nó được! (Những Điều Đáng Ghét) . -Cuối cùng là các đoạn có tính cách tùy bút nói đến những tình cảm tự phát bộc lộ trước thiên nhiên và con người. Nó là một phân nhánh của các đoạn nói về loại tụ. Ví dụ đoạn nói về buổi bình minh mùa xuân (Haru no akebono) chẳng hạn. Mùa xuân đẹp lúc hừng đông. Bầu trời ven nếp núi nhờ nhờ rạng ra rồi làn mây ánh màu tím nhạt trải dài trông thật tuyệt. Mùa hè đẹp vào ban đêm. Lúc trăng ló dạng càng đẹp. Dù trời tối mịt nhưng nếu đom đóm bay qua bay lại, cả bầy hay dầu chỉ một đôi con, chớp chớp cũng đủ thích. Có tí mưa lại đậm đà hơn. Thu đẹp lúc chiều về. Mặt trời vừa gác núi, quạ từng đàn hai ba chiếc, ba bốn chiếc, gấp rút như muốn về chỗ ngủ, trông thật nên thơ. Hơn thế, nếu có ngỗng trời giăng hàng bay nhỏ dần về phía xa, nhìn theo càng thương cảm. Lúc vầng dương khuất hẳn giữa tiếng gió và tiếng côn trùng, thì không cảnh nào hơn Đông đẹp nhất ban sáng. Cảnh tuyết rơi tụ lại thì đành rồi nhưng nếu chỉ có sương rơi trắng xóa cũng đáng yêu. Dù không được một buổi mai như thế nhưng nếu trời thật lạnh, nội nhìn cái dáng lăng xăng chuyển than để nhóm lửa sưởi cũng nhắc cho ta đang ở giữa mùa đông. Đến trưa khi cái lạnh dần dần dịu đi, lửa trong lò đã thành tro, mới cảm thấy đơn chiếc. (Bình minh mùa xuân) Những cuộc hò hẹn bí mật giữa trai gái đặc biệt thú vị vào mùa hè. Hai người yêu nhau chưa kịp chợp mắt thì đêm đã sáng tự hồi nào. Màn cửa kéo lên cả và khu vườn trông mát rượi. Khi hai người vừa trao đổi mấy câu cần thiết cuối cùng thì một con quạ bỗng bay qua trước mắt họ và rêu rõ to. Buồn cười nhất là họ có cảm tưởng đang bị ai bắt gặp. (Đoạn 74) Như đã trình bày, tùy bút của bà Sei tập trung vào thế giới hậu cung thiên hoàng chung quanh hoàng hậu Teishi. Văn thể giản dị, hành văn ngắn gọn, đa dạng, tự do, nhận xét tinh tế… là những ưu điểm của nó. Bà trình bày rất sống động cảnh quan tể tướng bố của hoàng hậu xuất hiện cùng đoàn tùy tùng, thương cảm cho con chó bị đuổi khỏi cung vì dám tấn công con mèo của thiên hoàng, miêu tả chi tiết màu sắc áo xống các vương tôn tiểu thư mặc trên người, phê bình khiếu thẫm mỹ của họ thế nào…Tuy nhiên vì chuyên chú vào việc ca ngợi cuộc sống vinh hoa, đài các nên thành ra chỉ nhận xét sự vật qua cái vỏ bên ngoài, thiếu sâu sắc nội tâm lẫn tinh thần phê phán. TIẾT III
TIẾT III: NHẬT KÝ (NIKKI) THỜI KAMAKURA : Văn hoá vương triều điển hình là văn hoá Heian quá xán lạn cho nên tuy có điểm yếu là vì thế mà quyền lực chính trị bị tê liệt, nó vẫn còn được sự ngưỡng mộ của người đời sau dù khi chính trị vũ gia đã bén rễ khá sâu. Do đó, có nhiều tác phẩm của người đương thời mang chủ đề tâm tình hoài vọng quá khứ vàng son ấy. Cùng lúc, Kamakura đã trở thành thủ đô chính trị làm cho sự giao lưu giữa Kyôto và Kamakura bằng con đường Tôkaidô (Đông Hải Đạo), trục giao thông chính ven biển, trở nên tấp nập. Hai loại văn nikki (nhật ký) và kikô (kỷ hành) hay ghi chép lúc đi đường, nhờ đó mới có thêm tư liệu phong phú để trở thành một dòng văn học đặc sắc. A) Nhật Ký Hồi Tưởng: Trong các tác phẩm thuộc loại nikki hồi tưởng lại cuộc sống cung đình có Kenreimon-in Ukyônodaibu-shuu (Kiến Lễ Môn Viện Hữu Kinh Đại Phu tập) được xem như hoàn thành năm 1233. Tác giả Kenreimon-in Ukyônodaibu không phải là tên người nhưng chỉ là một chức nữ quan trong cung hầu cận bà Kenreimon-in tức bà cựu hoàng hậu Taira Tokushi (Bình, Đức Tử) mà cả gia đình Taira của bà đã chết thảm trong trận thủy chiến ở Dan no Ura. Bà Ukyôdaibu (gọi theo chức của cha ?) sinh giữa khoảng Heian-Kamakura và là một thi nhân waka.. Con gái của Fujiwara no Koreyuki (Đằng Nguyên, Y Hành), bà vào cung hầu cận hoàng hậu Tokushi của thiên hoàng (thứ 80) Takakura (Cao Thương, trị vì 1168-1180). Bà có thơ trong các tập waka soạn theo sắc chiếu. Sau khi vào cung hầu cận hoàng hậu ít lâu, bà dan díu với hai người đàn ông : Fujiwara Takanobu (Đằng Nguyên, Long Tín) và Taira Sukemori (Bình, Tư Thịnh). Với Takanobu bà không hợp nên chẳng mấy lúc phải chia tay, còn Sukemori đã cùng cả nhà Taira phải bỏ kinh đô tháo chạy và rốt cục tiêu vong ở Dan no Ura. Bà còn mỗi một mình trơ trọi, suốt nữa đời còn lại thương tiếc cái chết của Sukemori. Tác phẩm của bà chứa chan tình cảm vì bà diễn tả những đau thương thống thiết của thân phận đàn bà bị thần chiến tranh đem ra làm trò đùa : Bọn vũ sĩ (quân Minamoto) hung hãn từ miền tây ùn ùn đổ tới.Tin người ta đồn đại nhiều không xiết kể, chẳng biết loại tin tức gì sẽ lọt vào tai mình lúc nào.Khóc ngất rồi lại ngủ vùi, trong mộng lúc nào cũng thấy con người ấy (Sukemori) hiện ra trong mảnh áo đơn, đứng giữa chỗ gió thổi ào ào với dáng trầm ngâm. Khi giật mình tỉnh giấc, ruột gan rối bời, sống với một tâm trạng khó mà diễn tả. Giờ đây lòng hãy canh cánh không biết người ấy còn đang ở trong tình cảnh tương tự hay không ?...Biết đâu chàng vẫn vật vờ trong sóng to gió lớn, tâm hồn chưa tìm được bình an! B) Những tác phẩm nhật ký và văn chương du hành khác Về tác phẩm thuộc hai loại nói trên, vào thời này còn phải kể đến Tamakiharu [9] (không có tựa chữ Hán, tạm dịch là Một đời tận tụy) và Heike Kindachi Zôshi [10] (Bình gia công đạt thảo tử) nói về các công khanh Heike, thuộc dòng văn chương hồi tưởng triều đại cũ của họ Taira. Ngoài ra, Minamoto no Ienaga nikki [11] ( Nguyên, Gia Trường nhật ký) trong đó Minamoto no Ienaga ghi chép lại quá trình biên soạn thi tập Shin Kokin Shuu (Tân Cổ Kim Tập) cũng là một tác phẩm quan trọng. Ben no Naishi nikki [12] (Biện Nội Thị nhật ký), Nakatsukasa no Naishi nikki (Trung Vụ Nội Thị nhật ký) [13]điển hình cho loại nhật ký ghi chép lại những ngày tháng hầu cận trong cung (nội thị) của các chức quan nội thị này. Thế nhưng Izayoi Nikki (Thập Lục Dạ Nhật Ký) tức Nhật ký đêm mười sáu và Towazugatari (không có tên chữ Hán, ý nói không hỏi cũng xin thưa) mới là những tác phẩm đáng lưu ý vì có phần văn du ký[14] (kikô) chen vào. Đầu thời Kamakura, có Kaidôki (Hải đạo ký) và Tôkan Kikô (Đông Quan kỷ hành) hai tác phẩm viết về phong cảnh và sự tình trong những cuộc lữ hành trên con đường Tôkaidô (Đông Hải Đạo). Vì sử dụng thể văn Hòa Hán hỗn hợp một cách khéo léo trôi chảy, chúng là hai tác phẩm điển hình cho văn học du ký và ảnh hưởng sâu đậm đến các tác phẩm về sau trong đó có Truyện Heike. Kaidôki không rõ ai viết nhưng được phỏng định ra đời vào khoảng năm 1223. Tác giả là người về già đi xuất gia, ghi chép lại cuộc hành trình của mình từ Kyôto đến Kamakura. Nội dung gồm lý do của chuyến đi, tâm tình lúc đi đường và những suy tư về đạo Phật đã đào sâu thêm qua chuyến đi. Tôkan kikô cũng nói về một cuộc hành trình tương tự và những điều nghe thấy của người viết lúc lưu trú ở Kamakura, cũng không biết do ai viết, phỏng đoán vào khoảng năm 1242. Văn chương du hành đã được thấy rất sớm. Một phần tư thơ trong Manyô-shuu đã nói về những gì xảy ra trong lúc đi đường. Các tác phẩm du ký thời Trung Cổ thường được soạn ra bởi các tác giả nam nữ muốn lánh đời (yosute-bito) và chịu ảnh hưởng của Phật Giáo nên hay nói đến lẽ đời vô thường. No còn chen lẫn trong các hình thức văn chương khác như nikki, truyện và thơ. Izayoi nikki, của Abutsuni (1228-1283) và Towazu-gatari của nữ tu Nijô (1258-1306) là những ví dụ cụ thể. Ngay cả Sanka-shuu (Sơn gia tập) của tăng Saigyô, tuy là một tập thơ nhưng cũng có màu sắc đậm đà của văn chương du ký vì nhắc nhiều đến các uta-makura (gối thơ) tức phong cảnh đẹp hay lịch sử gợi hứng cho thơ mà ông đã bắt gặp trên đường đi. B) Izayoi Nikki (Thập Lục Dạ Nhật Ký) và Towazu-gatari (Không Hỏi Cũng Thưa) : Izayoi nikki là nhật ký do bà Abutsuni (A Phật Ni, 1222 ?-1283 ?) trước tác. Bà là vợ sau của Fujiwara Tameie (Đằng Nguyên, Vi Gia) nghĩa là con dâu của Teika (Định Gia, Sadaie). Sau khi ông Tame-ie mất, con vợ trước là Tame-uji (Vi Thị, họ Nijô) và con trai bà là Tamesuke (Vi Tướng, họ Reizei) tranh giành việc thừa kế ruộng nương của cha nên bà phải lên Kamakura lo chuyện tố tụng. Nhật ký phân trần về sự việc xảy ra trong lúc nầy. Abutsuni là nhà thơ nữ có tiếng giữa thời Kamakura. Ngoài nhật ký, bà còn lưu lại thơ waka, ký sự du hành Utatane (Giấc thiu thiu) và tập bình luận về thơ Yo no Tsuru (Dạ Hạc hay Hạc Đêm). Trong khi đang hết sức lo lắng và bồn chồn trông đợi tin tức từ kinh đô thì một người thân tín đã mang về cho tôi những vần thơ trả lời cho các bài thơ mà tôi đã nhờ một nhà sư vân du gặp trên núi Utsu chuyển đi. Núi Utsu mưa chẳng ngừng, Trời không ngớt giọt vì lòng còn chưa, Áo người đi đẫm lệ mưa. Nhìn trăng mười sáu vật vờ, Nhắc ta người ấy bây giờ còn đi Mịt mù về chốn nào đây ! (Trích Izayoi nikki) Người viết Towazugatari, tác phẩm có thể đã ra đời trước năm 1313 nhưng một bản sao hồi thế kỷ 17 mới đựợc khám phá ra năm 1940 trong nhà kho của hoàng gia, là con gái của Koga Masatada (Cữu Ngã, Nhã Trung). Bà có tên hiệu là Go-Fukakusa-in Nijô (Hậu Thâm Thảo Viện Nhị Điều, 1258- ?). Năm mới 14 bà đã được thiên hoàng (thứ 89) Go-Fukakusa (1243-1304) yêu dấu nhưng vẫn tiếp tục đi lại thường xuyên với các nhà quí tộc như Saionji Sanekane (Tây Viên Tự, Thực Kiêm, 1249-1322), hoàng tử Shôjohô shinno (Tính Trợ Pháp thân vương), Kameyama-in (Qui Sơn Viện, 1249-1305). Trong Towazugatari, bà kể lại một cách không che đậy về những mối liên hệ phòng the đó. Tuy nhiên, vì ngưỡng mộ cao tăng và văn gia Saigyô (Tây Hành) nên về sau bà bỏ đi tu, du lịch nhiều nơi danh thắng như Kamakura (Liêm Thương), Itsukujima (Nghiêm Đảo). Đặc điểm của văn chương bà là đã viết về những ngày tháng yêu đương thời trẻ một cách thành thực như bộc bạch (như thể không hỏi cũng khai ra) và miêu tả bước đường du lịch trong phần đời tu hành về sau. Xin trích dịch một đoạn văn nhỏ trong quyển thứ 2 của Towazugatari : Ngài (Hoàng tử Shôjohô) bước vào phòng đột ngột quá. Đang tự hỏi, chết chưa, làm thế nào bây giờ, thì đã nghe ngài nói : ”Nhờ sức Phật Tổ, mới gặp được nàng đây. Bây giờ ta có bị đọa xuống địa ngục cũng cam! ”. Rồi ngài vừa khóc vừa ôm chầm lấy tôi. Bụng nghĩ người gì mà đường đột thế nầy nhưng ngài là bậc tôn quí, không thể lớn tiếng trách sao lại như thế, tôi mới thầm thì thưa: “ Phật trong lòng ngài đáng sợ quá đi thôi! ”. Nói thế mà ngài chẳng chịu buông tha cho.Giữa khi còn đang nửa mê nửa tỉnh vì sự việc xảy ra thì tăng nhân tháp tùng ngài chợt đến báo “ Đã hết giờ rồi! ”, ngài bèn lẻn ra cửa sau biến mất. Trước đó không quên nhắn thêm : “ Khuya nầy, chắc chắn ta còn đến thăm nàng lần nữa đấy!.... ”. TIẾT 4
TIẾT IV : TÙY BÚT THỜI KAMAKURA : A) Tùy Bút và Pháp Ngữ: Trong một thời nhiễu nhương và thiên tai, lòng con người có mang nỗi bất an, bất mãn và phiền trách là chuyện cũng dễ hiểu.Một trong những phản ứng là bỏ đi tu để xa lánh hiện thực của cuộc đời.Họ trở thành những người đi ở ẩn, kết cỏ dựng am trong núi sâu hoặc lang thang du hành từ vùng[15] nầy qua vùng khác. Họ xem cuộc đời nầy là vô thường, dốc lòng tu học đạo Phật và để lại những tác phẩm văn học nói lên chí hướng và kinh nghiệm bản thân. Đó là dòng văn học ẩn sĩ mà người Nhật gọi là inja bungaku (ẩn giả văn học). Trước đó đã có Saigyô (Tây Hành, 1118-1190), Shun-e (Tuấn Huệ, thầy của Kamo Chômei) , Ton-A (Đốn A, 1289-1372) là những văn nhân ẩn sĩ có tiếng. Đại biểu ưu tú nhất của lớp người nầy vào đầu thời Kamakura là Kamo no Chômei (Áp, Trường Minh) với Hôjôki (Phương trượng ký) và Kenkô (Kiêm Hảo) với Tsurezuregusa (Đồ nhiên thảo). Các văn nhân ấn sĩ xa rời thế tục, sống độc lập nên thi ca và văn chương của họ cũng có phong vị u nhàn tịch mịch. Dòng văn học ẩn sĩ (inja bungaku) là điểm đặc thù của thời trung cận đại, trong khi dòng văn học mệnh phụ (nyobô bungaku) là đặc điểm của thời trung cổ và văn học người kẻ chợ (chônin bungaku) đại diện được cho thời cận đại. Ngoài thể loại tùy bút, các bài giảng của cao tăng khuyên người “lánh đời ô trọc, vui tìm cõi phúc ” (yếm ly uế thổ, hân cầu tĩnh thổ) với lối hành văn giản dị, dễ hiểu nhưng có sức kêu gọi mạnh cũng là đối tượng của nghiên cứu văn học. Loại văn nầy gọi là hôgo (pháp ngữ) có thể viết bằng chữ Hán hay Kana. B) Hôjôki (Phương trượng ký) : Tiêu biểu cho tùy bút Nhật Bản, Hôjôki (1212) là tác phẩm của Kamo no Chômei (Áp, Trường Minh, 1155 ?-1216), nhà văn, nhà thơ và ẩn sĩ. Chômei là con một chức quan giữ đền nhưng cha mất lúc mới 20, không ai đỡ đầu, chịu long đong một thời. Sau nhờ theo học waka với Minamoto no Shun-e (Nguyên, Tuấn Huệ) và đàn biwa (tì-bà) với Nakahara Ariyasu (Trung Nguyên, Hữu An) mới có chút công danh. Ông được thái thượng hoàng Go-Toba-in cho làm một chức quan trong Viện Thi Ca (Wakadokoro = Hòa ca sở), dần dần nổi tiếng vì có thi tài. Lúc 50 tuổi, buồn vì việc người trong họ cản trở việc tựu chức quan giữ đền thần của mình, ông đột nhiên bỏ tất cả, xuất gia, lánh đời. Ông về vùng Ôhara rồi Hino, nay thuộc Kyôto, cất am trong núi, viết Hôjôki. Ngoài tác phẩm nầy, Chômei còn để lại tập thuyết thoại Phật Giáo Hosshinshuu (Phát tâm tập), tập bình luận thi ca Mu.myôshô (Vô danh Sao), tập thơ cá nhân Kamo no Chômei-shuu (Áp Trường Minh tập) chưa kể đã góp phần biên soạn các tập Waka theo sắc chiếu như Senzai-shuu (Thiên tải tập), Shin Kokin-shuu (Tân cổ kim tập). Phương trượng [16] chỉ căn phòng nhỏ vuông vức của người tu hành, mỗi bề khoảng 3 mét. Đây là nơi Chômei trầm tư và ghi chép ý nghĩ của ông . Ông viết về phong cảnh chung quanh thảo am như sau: Phía nam cái am, có đặt máng để lấy nước khe.Rừng ở kề bên nên nhặt cành khô làm củi không khó. Cỏ bò lan lấp lối đi, trong trũng cây cối rậm rạp nhưng phía tây lại thoáng nên buổi chiều ngắm mặt trời lặn để suy nghĩ về cõi Tây Phương tịnh độ cũng tiện. Mùa xuân hoa tử đằng nở tựa chòm mây tím, mùa hè, tiếng cuốc kêu như đưa đường về cõi u minh, mùa thu ve ran suốt ngày than cuộc đời bèo bọt, mùa đông thì cảnh tuyết rơi phô cho thấy vòng sinh diệt của kiếp người đầy tội lỗi. Mỗi ngày được niệm Phật đọc kinh tùy thích, sống có một mình nên chẳng lo phạm tội gian dối cùng ai. Tảng sáng ra bờ sông Uji ngắm thuyền bè qua lại, miệng ngâm nga mấy câu thơ, chiều về khảy ít tiếng tỳ bà. Có hứng thì chơi điệu Thu Phong Lạc hay khúc Lưu Tuyền bí truyền. Dù đánh không hay cũng chẳng lo ai để ý. Lâu lâu có thằng bé con người canh gác sống ở dưới chân núi lên am chơi. Nó mười tuổi, ta sáu mươi. Tuổi tác tuy có khác nhau nhưng cùng đi ngắt hoa, hái quả, đào khoai rừng, nhặt gié lúa sót. Nếu trời đẹp, lại lên đỉnh cao nhìn về cố hương Kyôto, ngắm ngọn Kohata, mấy làng Fushimi, Toba. Đôi khi lại theo đường núi vãn cảnh chùa Iwama, chùa Ishiyama trên núi Kasatori, hay là từ Awazugahara ghé thăm dấu cũ của (nhà thơ mù) Semimaru, vượt sông Tanakami, đến tận ngôi mộ (thi hào) Sarumarudayuu. Đêm thanh vắng thì ngồi nhớ lại bạn bè xưa, nghe tiếng vượn kêu, sa nước mắt. Nhìn đàn đom đóm mà ngỡ ánh lửa phía đảo Makinoshima. Nghe chim núi hót bi ai, đâm thương cha nhớ mẹ. Cả đến tiếng cú rúc trước kia khó ưa, bây giờ cũng gợi ta nguồn hứng. Những câu như “ Sông kia chảy không hề ngừng và nước có bao giờ lại là dòng nước cũ ”[17] mà ông viết nói lên sự đồng cảm của mình với lẽ đời vô thường. Nội dung phần đầu tập sách miêu tả năm tai ách của người Nhật thời đó : trận hoả tai năm Angen (An Nguyên, 1177) thiêu rụi 1/3 thành phố Kyôto, trận bão lốc năm Jishô (Trị Thừa, 1180), quyết định đột ngột thiên đô về Fukuhara (Phúc Nguyên, gần Kobe) của quyền thần Taira Kiyomori cũng vào năm 1180 khi quân Yoritomo và Kiso tấn công, nạn đói năm Yôwa (Dưỡng Hòa, 1181) làm chết trên 42.000 người, trận động đất năm Genryaku (Nguyên Lịch, 1185). Ông viết chính xác đến từng chi tiết với một giọng văn gây xúc động của người chứng kiến cảnh đời vô thường của một kinh đô có lịch sử huy hoàng 400 năm đang lần hồi sụp đổ. Truyện đói kém được tả lại như sau : Hình như hồi năm Yôwa thì phải, chuyện xưa rồi nên không nhớ rõ. Suốt hai năm liền, không lương ăn, bao nhiêu cảnh bi thảm. Xuân, hạ thì hạn hán, thu, bão tố lũ lụt, toàn là tai ách, ngũ cốc không ra hạt.Nông dân bỏ ruộng vườn, chạy qua xứ khác hay vào trong núi ở. Cầu đảo, làm bùa làm phép chẳng có kết quả. Thóc lúa dưới quê không lên nên người hàng phố kinh đô phải đem bán đổ bán tháo những đồ quí giá mà chẳng ai mua cho. Nếu có người chịu đánh đổi thì tiền bị coi rẻ, lương thực đắt. Ngoài đường đầy ăn xin. Đến năm sau lại thêm bệnh dịch, người người như cá mắc cạn, những kẻ gốc gác sang trọng cũng phải ăn mày, bước không muốn nổi. Vệ đường đầy xác người chết đói. Hai bờ sông Kamo, hài cốt chồng chất. Bị du vào thế cùng, có kẻ vào chùa đánh cắp tượng Phật, ban thờ, đem ra chợ bán làm củi. Phải giương mắt nhìn những hành vi ấy, ta hận cho mình đã sinh ra vào thời buổi như vầy. Sau khi đã kể lại 5 tai ách, trong phần thứ hai của quyển sách, ông hồi tưởng lại cuộc đời đầy dẫy bất hạnh của chính bản thân và kể lại bước đường đã khiến ông từ bỏ cuộc đời vô nghĩa để xuất gia, lập am trong núi ẩn cư. Ông tả lại một cách sống động cuộc đời nhàn tản lần đầu tiên tìm thấy được trong niềm vui tôn giáo, thi phú và âm nhạc.Tuy nhiên, trong phần kết, ông lại lên tiếng phủ nhận bản thân mình vì đã quá chấp nhất, chỉ lo nghĩ đến cuộc sống thảo am thanh tĩnh. Sách ngắn thôi nhưng đủ để miêu tả tâm tình với rất nhiều cảm khái của một người trí thức phải kinh qua một thời đại đầy biến loạn. Phần đầu có giọng văn than thở vì phải miêu tả năm tai ách, phần sau ca ngợi cuộc sống nhàn cư, để rồi kết luận gấp rút bằng phủ nhận bản thân, nghĩa là sách được chia thành 3 phần khá rõ ràng. Sách viết bằng chữ Hán pha chữ Nhật, có nhiều đối cú, câu văn mạnh mẽ, lý luận minh bạch, nhất là những đoạn miêu tả thiên tai để lại nhiều ấn tượng. Tuy viết theo dàn bài tập Chiteiki (Trì Đình Ký, 982) của Yoshishige no Yasutane (Khánh Từ, Bảo Dận, 934 ?-1002), văn nhân cuối thời Heian nhưng với tư cách là tác phẩm do một ẩn sĩ sáng tác lại có thêm quan điểm nhìn cuộc đời như một cõi vô thường, Hôjôki đã trở thành một tiêu biểu cho dòng văn học yếm thế đồng thời là lý tưởng tự do và ảnh hưởng nhiều đến toàn thể văn chương trung cận đại. A) Tsurezure-gusa (Đồ nhiên thảo) Tăng nhân Kenkô (Kiêm Hảo), có người đọc là Kiêm Hiếu, sinh và mất khoảng 1283 ?-1352 ?, đã hoàn thành tập tùy bút Tsurezure-gusa tạm dịch là “ Viết lúc buồn tình ” hay “ Bút nhàn ” vào năm 1331, lúc có cuộc đảo chánh mạc phủ lần thứ hai thất bại của thiên hoàng Go-Daigo. Tên thật của ông là Urabe Kaneyoshi (Bốc Bộ, Kiêm Hảo), một dòng họ lo việc bói toán, nhà đời đời làm chức quan giữ đền Yoshida (Cát Điền) cho nên ông còn được gọi là Yoshida Kaneyoshi. Khoảng năm 20 tuổi, vào hầu cận quí tộc Horikawa (Quật Hà), nhờ đó được làm quan lục phẩm dưới đời thiên hoàng thứ 94 Go-Nijô (Hậu Nhị Điều, trị vì 1301-1308). Lúc thiên hoàng băng, ông mới trên dưới 30 nhưng bỏ đi tu, lấy pháp danh là Kenkô từ đó. Ông là nhà thơ waka thuộc trường phái Nijô, môn hạ của Nijô Tameyo (Nhị Điều Vi Thế), cùng với Ton-a (Đốn A), Jôben (Tĩnh Biện), Kei-un (Khánh Vận) được đời ca tụng là “ Bốn Nhà Thơ Waka Trụ Cột ” (Hoà Ca Tứ Thiên Vương). Xem như vào năm 40 tuổi thì ông đã chỉnh đốn xong phần chính của Tsurezuregusa. Ông vừa giỏi thơ waka, vừa là học giả cổ văn, vừa thông hiểu phép tắc nghi lễ thời trước, nhờ đó giao thiệp thường xuyên với Tướng Quân Ashikaga Takauji (Túc Lợi Tôn Thị, 1305-1358), các vũ tướng Tadayoshi (Trực Nghĩa, em trai Takauji,1306-1352), Kô no Moronao (Cao, Sư Trực, ?-1351) và nhà thơ waka Nijô Yoshimoto (Nhị Điều, Lương Cơ, 1320-1388). Cuối đời ông về sống ở Marabigaoka (Song Khâu) bên cạnh chùa Ninnaji (Nhân Hòa Tự) ở Kyôto. Ông còn có tập thơ soạn riêng Kenkô Hôshi Kashuu (Kiêm Hảo Pháp Sư Ca Tập). Tsurezure (đồ nhiên) là trạng huống buồn chán, không thiết làm gì, xem việc viết lách như một cách làm cho mình khuây khoả[18]. Tập tùy bút để giải khuây nầy gồm 143 đoạn vừa dài vừa ngắn, độc lập với nhau, nội dung của nó nói về các thú vui thời đại vương triều và khảo sát về phong tục tập quán, nghi thức trong nếp sinh hoạt của người đời trước, nghĩa là bày tỏ thái độ ngưỡng mộ đối với văn hóa quí tộc cổ xưa nhưng cũng cùng lúc, để ý đến những gì đã biến đổi.Trong tác phẩm này, ngoài những giai thoại liên quan đến giới quí tục cung đình, các tăng nhân, chiến sĩ, con buôn...tác giả còn trình bày quan điểm về cờ vây, nghệ thuật nấu ăn, binh pháp, hoa cỏ chim chóc, gió trăng, ý nghĩa cuộc đời, tâm lý con người, nhất là những khía cạnh đen tối của nó. Tác giả khuyên người ta qua những biến chuyển mà tìm ra được cái đẹp trong lẽ vô thường nghĩa là vạn vật có thay đổi thì mới đẹp, cho nên nếu đã ghét cái chết thì phải biết yêu cuộc sống, Tác giả có kiến thức sâu rộng đã đành nhưng còn có cái nhìn nhạy bén về thiên nhiên, về cái đẹp, cũng như tài quan sát tinh tế, sâu sắc tâm lý con người.Văn ông bình dị, trong sáng, cân đối, không thừa thải bao giờ. Cùng với Hôjôki, Tsurezuregusa đại biểu xứng đáng cho dòng văn học ẩn sĩ và thể loại tùy bút. Nó thể hiện đầy đủ đặc sắc của thể văn nầy vì để mặc cho ngòi bút kéo đi, sự nối kết giữa các đoạn không có gì gượng ép. Nó chịu ảnh hưởng của Makura no sôshi đời Heian nhưng không ca tụng vương triều như tác phẩm của bà Sei. Đúng hơn, nó chia sẻ với Hôjôki cái nhìn vô thường về cuộc đời, người thế. Trên phương diện tư tưởng, Tsurezuregusa còn đáng được đánh giá cao hơn Hôjôki vì nó không chỉ là một lời than thở về lẽ vô thường mà là sự chiêm nghiệm cái đẹp của mọi biến đổi . Nói khác đi, đó là điểm xuất phát của một quan niệm thẩm mỹ mới, mujô no bi (cái đẹp của vô thường), đặc điểm của văn học trung cận đại Nhật Bản. Xin trích vài đoạn nhỏ của Tsurezuregusa: Không nên đợi đến lúc về già mới bắt đầu tu đạo Phật. Hãy xem những ngôi mộ cổ kia, toàn của người chết trẻ. Ngã bệnh lúc nào không biết, rồi phút giây sắp vĩnh biệt thế gian mới ý thức được những sai lầm của đời mình. Chuyện gọi là sai lầm có gì lạ đâu: chuyện đáng lẽ phải làm bây giờ lại để sau rồi tính, chuyện thủng thỉnh suy nghĩ được thì lại hấp tấp làm ngay, chuyện đã qua đứt rồi còn đứng mà tiếc. Lúc đó có hối thì được gì nào? Chỉ nên ghi lòng tạc dạ một điều: cuộc đời chung quanh ta tất cả chỉ là vô thường, và không giây phút nào được quên điều đó. (Đoạn 49) Những kẻ ta không nên chơi có bảy loại. một là kẻ quyền cao chức trọng, hai là đám thiếu niên, ba là những ai khoẻ mạnh không biết đau ốm là gì, bốn là bọn rượu chè, năm là bọn vũ sĩ bạo tợn, sáu là dân khoác lác và bảy là người keo kiệt. Giao du được có ba loại : trước hết là bạn bè thảo lảo, hai là mấy ông thầy thuốc và ba là những người thông minh tinh tế (Đoạn 117). Có phải ta chỉ nên ngắm anh đào lúc hoa mãn khai hay ngắm vầng trăng lúc ánh sáng không có gì che khuất ? Những kẻ thấy vầng trăng dễ thương sau màn mưa che hay những kẻ đóng kín cửa nằm nhà, không hay bên ngoài mùa xuân đang đi qua mới có mối cảm hoài sâu sắc. Nhìn ngọn cây tưởng sắp nở hoa thế mà đã thấy hoa kia héo rụng tả tơi trong sân, đó mới là những lúc đáng xem (Đoạn 137) Về sau, không những hai ca tăng (nhà tu hành và đồng thời nhà thơ waka) Shôtetsu (Chính Triệt, 1381-1459) và Shinkei (Tâm Kính, 1406-1475) đều tiếp nhận ảnh hưởng lớn lao của nó mà các sách vở dạy về thuật xử thế, luận bàn về nhân sinh quan đều mang dấu ấn của ông. D) So sánh 3 tập đại tùy bút Nhật Bản Makura no sôshi Hôjôki Tsurezukegusa Tác giả Sei Shônagon Kamo no Chômei Kenkô (Yoshida Kaneyoshi) Thành hình năm khoảng 1001 (thời Heian) khoảng 1212 (đầu Kamakura) khoảng 1331 (cuối Kamakura) Nội dung 200 đoạn (những cái giống nhau, hồi tưởng, tùy bút) (bảy tai ách xảy ra, hồi tưởng đời mình, phản tỉnh hối tiếc) 243 đoạn (bản chất của thiên nhiên, sự vật, con người) Lối biểu hiện Hoà văn Miêu tả nhẹ nhàng, sống động, mới mẽ. Văn hỗn hợp Hòa Hán (sử dụng đối ngẫu, tỉ dụ). Tả thực. Văn hổn hợp và mô phỏng cổ nhân. Trích đối thoại.Bình dị. Đặc sắc Khái niệm Okashi (cái đẹp theo chủ quan) Khái niệm vô thường Thẩm mỹ của vô thường Đánh giá Khai phá thể loại tùy bút. Quan sát sắc bén, dí dỏm. Điển hình cho văn học ẩn dật, ảnh hưởng đến văn học trung cổ Điển hình cho văn học ẩn dật. Ảnh hưởng đến thi ca (renga, haikai) Xuất xứ: Sigma Shinkokugo Binran, sđd TIẾT IV
TIẾT IV: TÙY BÚT THỜI EDO : Nhân đây cũng nhắc đến một số tùy bút thời Edo đã nối tiếp truyền thống của Sei Shônagon, Kamo no Chômei và Toshida Kenkô : 1- Oritakushiba no Ki “ Ghi chép về những cành củi chụm”(1716) : Tác giả quyển tùy bút nầy là Arai Hakuseki (Tân Tỉnh Bạch Thạch, 1657-1725) ghi chép cảnh ngộ của tổ phụ và của mình lúc làm quan dưới thời tướng quân Tokugawa Ienobu và Ietsugu. Đây là một tập tư liệu lịch sử quan trọng. 2- Jôzan Kitan (Thường Sơn kỳ đàm, 1739) của Yuasa Jôzan (Thang Thiển Thường Sơn, 1708-1781) ghi lại hơn 100 giai thoại về các vũ tướng từ đời Sengoku đến đời Edo. 3- Sundai zatsuwa (Tuấn đài tạp thoại, 1732) do Muro Kyuusô (Thất, Câu Sào, 1658-1734) tùy bút với chủ đề về học vấn và đạo đức trên lập trường Chu Tử Học. 4- Kagetsu Sôshi (Hoa nguyệt thảo chỉ, Hoa nguyệt song chỉ 1818) của Matsudaira Sadanobu (Tùng Bình, Định Tín) luận về hoa, nguyệt, phong quang, nhân vật. Gồm 156 chương viết theo gabuntai (nhã văn thể). TẠM KẾT
TẠM KẾT: Nhật ký và tùy bút là một thể loại văn học đặc biệt trong văn học Nhật tự thời xưa. Tuy nguồn gốc cũng đến từ Trung Quốc nhưng đã phát triển rất sớm và mang màu sắc riêng tư, táo bạo hơn những tác phẩm đồng loại ở đại lục, lại được đảm đương phần lớn bởi những cây bút phụ nữ, một điều lạ trong xã hội phong kiến. Ngoài ra, nó còn là mạch nước ngầm đã biến thành một dòng sông lớn: dòng văn học shi-shôetsu (tiểu thuyết nói về cái tôi) của thời hiện đại mà nhiều người vẫn qui kết cho Ich Roman (I-Novel) của phương Tây như là nguồn cội duy nhất. CHÚ GIẢI
[1] Tiêu tức còn là một hình thức văn học (tiêu tức văn= shosokubun hay shosokobumi) thường được lồng khung trong các tác phẩm, ví dụ nhật ký của Izumi Shikibu. Có thể hiểu như thư viết cho người khác nhưng cũng có thể hiểu như lời nhắn nhủ của tác giả đối với chính mình. [2]Kagerô chữ Hán viết là tinh đình hay phù du (kiếp phù du bèo bọt), ta còn gọi là chuồn chuồn (phận mỏng cánh chuồn), trong văn học thường chỉ số kiếp ngắn ngũi, mong manh, có đó không đó. Kage còn có nghĩa là cái bóng. [3] Fujiwarano Kaneie (Đằng Nguyên Kiêm Gia, 929-990), con trai của Morosuke (Sư Phù), cha của Michitaka (Đạo Long), Michikane (Đạo Kiêm), Michinaga (Đạo Trường) và hoàng hậu Senshi (Thuyên Tử). Ông đã đặt nền móng cho thời toàn thịnh của dòng họ Fujiwara. [4] Thời xưa, các bà vợ của quí tộc ở riêng và đợi chồng đến thăm. Từ đó trong văn chương có hình ảnh “người đàn bà trông chờ” (matsu onna). [5] Sanuki (Tán Kỳ), tên đất cũ nay thuộc tỉnh Kagawa, phía bắc đảo Shikoku . Cha bà Nagako là Fujiwara no Akitsuna (Đằng Nguyên, Hiển Cương) giử chức quan trấn thủ vùng nầy. [6] Theo René Sieffert, Sei Shônagon chỉ là một tên để gọi (yobina) như bút hiệu chứ không phải tên thật. Ngày xưa, ở Nhật, phụ nữ quí tộc hầu trong cung thường được gọi theo chức phận và chỗ nhậm chức của người cha. Có thể Shônagon là chức quan của bố và Sei (Thanh=Kiyo, trong trẻo) là âm Hán gọi tắt tên Kiyohara (Thanh Nguyên), họ của bà. [7] Utamakura (Ca chẩm) là mào đầu giống như gối để gối đầu (chẩm = cái gối), qui ước cần thiết giúp cho người làm thơ (uta) dựa vào đó để giao cảm được với người đọc. Có thể hiểu như là những ước lệ trong thi ca. Sách Nô-in Utamakura (Năng Nhân ca chẩm) của tăng Nô-in (Năng Nhân), một trong 36 ca tiên thời Hei-an, cho biết thơ tả cảnh mùa xuân (haru) thì phải có hoặc là kasumi (sương lam), asamidori (màu xanh non), ume no hana (hoa mơ) hay sakura (anh đào), uguisu (chim oanh) vv… [8] Đoạn văn này làm ta liên tưởng đến một tiểu phẩm do Kim Thánh Thán viết về những các việc khoái chí với điệp khúc “Thế chẳng sướng sao!” mà Lin Yutang (Lâm Ngữ Đường) đã dịch sang Anh văn trong cuốn The Importance of Living (bản dịch tiếng Việt có tựa là Lạc Thú Ở Đời). Nó cũng gợi ta nhớ đến Vũ Trung Tùy Bút và Mai Đình Mộng Ký. [9] Tamakiharu ( Một đời tận tụy), một trong những tên của tập nhật ký do bà con gái ông Fujiwara Shunzei, chị ông Fujiwara Teika, không rõ tên, hiệu là Kenshunmon-in Chuunagon (Kiến Xuân Môn Viện Trung Nạp Ngôn) viết khoảng năm 1219, lúc bà đã 63 tuổi, hồi tưởng lại những ngày bà vào cung hầu hạ Kenshunmon-in, tức là hoàng thái hậu sinh ra thiên hoàng Takakura (Cao Thương). [10] Không rõ tác giả nhưng có lẽ ra đời vào đầu thời Kamakura. Sách kể những giai thoại kèm theo tranh vẽ về cuộc đời của các công khanh họ Taira như Taira Shigehira ( Bình, Trọng Hành), Koremori (Bình, Duy Thịnh) và những nhà quí tộc chung quanh họ như bọn Fujiwara Takafusa (Đằng Nguyên, Long Phòng). [11] Trong tác phẩm này, Ienaga kể lại quá trình biên soạn thi tập Shin kokin shuu (Tân cổ kim tập) và đường lối làm việc của từng người tham gia. Sách có lẽ ra đời đầu thời Kamakura. [12] Tác giả Ben no Naishi tức là con gái của Fujiwara no Nobuzane (Đằng Nguyên, Tín Thực). Tập nhật ký của bà ra đời khoảng trước năm 1278, ghi chép về thời kỳ hầu cận trong hậu cung thiên hoàng (thứ 89 ) Go Fukakusa (Hậu Thâm Thảo, trị vì 1246-1260 ) [13] Bà nội thị Nakatsukasa tên thật là Fujiwara Keishi (Đằng Nguyên Kinh Tử) Nhật ký của bà ra đời có lẽ khoảng sau năm 1292, ghi chép việc hầu hạ trong hậu cung thiên hoàng (thứ 92) Fushimi (Phục Kiến, trị vì 1287-1298). [14] Theo thiển nghĩ, ở Việt Nam, tuy không phải là văn du ký thuần túy nhưng Thượng Kinh Kỷ Sự của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác cũng có thể liệt vào loại nầy. Ngoài ra còn có những tập kỷ sự về sứ trình, văn thơ của nhân viên các sứ bộ, chẳng hạn. [15] Xin nhớ lúc đó, Nhật Bản chưa là một quốc gia thống nhất . Dùng chữ “ vùng” là theo nhãn quan hiện đại. Đáng lẽ phải viết là “ nước » (kuni=quốc) [16] Tây phương thường dịch Phương trượng ký là An account of my hut (Anh Mỹ) hay Notes de mon ermitage (Pháp) [17] Có thuyết cho là câu nói mượn từ Thán Thệ Ký trong Văn Tuyển của Trung Quốc. [18] Tây phương thường dịch là Esays in Idleness (Anh Mỹ) hay Au fil de l’ennui (Pháp) |
|
#9
|
||||||||
|
||||||||
|
Chương 8 : Tập thi tuyển xác định giá trị của thơ quốc âm Cổ Kim Hòa Ca (Kokin Waka-shuu) Nguyễn Nam Trân ![]() THƠ QUỐC ÂM THỜI HEIAN
TIẾT I: THƠ QUỐC ÂM THỜI HEIAN: A) Khí thế đi lên của dòng thơ quốc âm: Vào đầu thời Hei-an, văn chương chữ Hán chiếm địa vị độc tôn và thơ quốc âm waka bị đẩy lùi vào bóng tối.. Thế nhưng, waka không vì thế mà mai một hẳn, nó chỉ trở thành một hình thức thơ để tỏ tình cảm riêng tư, sinh hoạt luyến ái nam nữ hay tình tự dân gian. Những bài thơ ấy đã được tom góp lại trong Kokin Waka rokujô [1](Cổ kim hòa ca lục thiếp, khoảng giữa 951 và 1007) cùng chung với những bài thơ không rõ tác giả đã thấy trong Man.yô-shuu và Kokin-shuu. Thật ra, waka từ trong bóng tối đã ló dạng ra từ cuối thế kỷ thứ chín và đạt được tầm vóc quan trọng như văn thơ chữ Hán trong đời sống công cộng cùng một lượt với ý thức văn hóa quốc phong (văn hóa nước mình). Sự phục hưng của waka, không nói cũng hiểu, là nhờ ở sự thành lập hai hệ thống chữ viết mới của chữ kana. Trước đây Nhật đã có man.yôgana, tức hệ thống chữ kana để ghi âm waka trong Man.yôshu mà mỗi âm quốc ngữ được biểu diễn bằng một chữ Hán. Chữ kana một mặt viết thường đi (bình) hóa như chữ viết tháu (bình giả danh = hiragana) một mặt gạt bỏ nét chỉ để lại một phần (phiến) (phiến giả danh = katakana) có tác dụng giải thoát văn tự khỏi những phiền hà và câu thúc của lối biểu ý của chữ Hán. Do đó những người ít được học chữ Hán như phụ nữ (thời đó) cũng có thể sử dụng được. Với sự phổ cập của hiragana, thơ quốc âm waka hay Yamato-uta đã có thể phục hưng. Sau thời hoạt động của nhóm Lục Ca Tiên là thời của các cuộc hội họp bình thơ (uta- awase = ca hợp) như Zaiminbu Kyôke uta-awase (Tại Dân Bộ Khanh Gia ca hợp) hay Kanpyô no Ontokikiai-no-miya Uta-awase (Khoan Bình Ngự Thì Hậu Cung ca Hợp) tức là hai hội thơ họp ở nhà hai quí tộc mà nó mượn tên. Như thế, waka đã bắt đầu có vai trò văn chương cửa công như văn thơ chữ Hán. Nhiều khi ta thấy có cả sự liên kết giữa hai thể loại Hán-Hòa nói trên, ví dụ trong quyển Shinzen Man.yôshuu (Tân tuyển vạn diệp tập) được xem như do Sugawara Michizane soạn năm Kanpyô (Khoan Bình) thứ 5 (893) có chép những bài thất ngôn tuyệt cú cùng một nội dung đặt bên cạnh những bài waka viết bằng manyôgana. Mặt khác, trong Kudai Waka (Cú Đề Hòa Ca) của Ôe Chisato (Đại Giang, Thiên Lý) có những bài waka mang tựa đề bằng chữ Hán. Tạo được khí thế đi lên như thế cho waka là công lao của Kokin waka-shuu (Cổ Kim hòa ca tập), tuyển tập thơ quốc âm đầu tiên được soạn theo sắc chiếu để tiến lên vua . B) Kokin waka shuu (Cổ kim hòa ca tập): Còn được lược xưng là Kokin shuu (Cổ kim tập) hay Kokin, đã ra đời trước Kokin waka rokujo trên nửa thế kỷ. Do bọn các ông Ki no Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi), Ki no Tomonori (Kỷ, Hữu Trắc), Ôshikôchi no Mitsune (Phàm Hà Nội, Cung Hằng), Mibu no Tadamine (Nhiệm Sinh, Trung Lĩnh) soạn khoảng năm Diên Hỷ (Engi) thứ 5 (905) hay thứ 14 (914) theo lệnh của thiên hoàng (thứ 60) Daigô (Đề Hồ, trị vì 897-930). Đây là tuyển tập thơ waka đầu tiên được soạn theo chiếu chỉ và trở thành qui phạm cho những tập soạn theo chiếu chỉ các đời sau.Thi tập nầy gồm 12 quyển, thu thập ước chừng trên 1100 bài thơ, có kèm hai bài tựa (jo), một viết bằng kana (tức bài Kanajo) do Ki-no-Tsurayuki và bài kia bằng chữ Hán (Manajo) do Ki-no-Yoshimochi viết. Tuy hai bài viết bằng hai lối chữ khác nhau nhưng nội dung cũng cùng nói về bản chất và lịch sử của waka và bình luận về thơ của “sáu đại thi hào waka” (Rokkasen, Lục Ca Tiên). Phần bình luận về 6 nhà thơ nổi tiếng nầy được xem như rất có giá trị. Đặc biệt bài tựa viết bằng kana, không những thuyết minh về sự hoà điệu giữa cái tâm và thi từ mà còn nói lên chủ trương về vai trò đối đầu của waka với thơ chữ Hán, bày tỏ ý thức dân tộc của người soạn ra nó. Sau đây, một trong những nhà biên soạn, Kino Tsurayuki, đã nói về ý nghĩa việc làm của họ: “Waka (thơ Yamato) là hạt giống gieo trong lòng người để nẩy ra vô số lá tức là lời nói. Người ta sống trên đời ở vào trường hợp nào thì tùy theo sự việc xảy ra lúc ấy mà suy nghĩ, lấy những điều mắt được thấy tai được nghe gửi vào âm thanh để phát ra tiếng nói. Chỉ cần nghe lời ca của thiên nhiên từ miệng con oanh, con ếch thì ắt hiểu các giống sinh vật đều biết ca vịnh. Không cần ra sức mà lay chuyển được đất trời, làm xúc động những sức mạnh siêu tự nhiên, giúp cho nam nữ hòa hợp, làm dịu dàng cả lòng người vũ sĩ thô bạo, thì không có gì khác ngoài waka. Waka đã bắt đầu từ thuở khai thiên lập địa nhưng truyền được tới ngày nay là những bài chư thần ca vịnh thấy chép lại trong Nihon Shoki. Ba mươi mốt âm theo thể 5-7-5-7-7 là hình thức thấy lần đầu tiên trong thơ ngài Susanô no Mikoto như bài Yakumotatsu (lược) rồi từ đó đến nay, nó đã chứa chất biết bao nhiêu bài ca, tiếng nói của lòng người. Bài Naniwazu ni (lược) của Wani làm để chúc mừng lúc thiên hoàng Nintoku lên ngôi, bài Asakayama (lược) của nàng Unume khi đón tiếp hoàng tử Katsuragi no Ôkimi là những bài thơ căn bản của waka mà cho đến nay, trẻ con tập viết đã phải học. Trung quốc có lục nghĩa tức sáu phép làm thơ. Waka cũng có sáu phép là Soe-uta (phúng thích ca), Kazoe-uta[2] (số ca), Nazurae-uta[3] (chuẩn ca), Tatoe-uta (tỉ dụ ca), Tadagoto-uta (đồ ngôn ca) và Iwai-uta (chúc ca). Cách phân loại này dựa trên việc tâm trạng con người được thể hiện bằng lời nói như thế nào. Như phép Tadagoto-uta là cách bày tỏ y nguyên lòng mình , không ví von gì cả. Phép Nazurae-uta dùng thí dụ, kết hợp miêu tả sự vật với bày tỏ tâm tình.Còn Soe-uta là lối thơ trình bày trên mặt một vật gì để giúp hiểu ngầm về một điều khác. Tuy nhiên, lắm khi không dò được thâm ý của tác giả. Những năm gần đây, lòng người trở nên hời hợt, từ đó nội dung của waka có những lời lẽ không xứng đáng, chỉ còn là trò chơi của bọn nam nữ đam mê sắc dục, không còn đem trình bày nơi công cộng được nữa. Xưa kia, Waka thật ra đâu phải vậy. Các vị thiên hoàng đời trước ra lệnh cho quần thần làm thơ là để phán đoán xem ai có tài ai không. Waka bắt đầu bằng những lời chúc tụng, cảm tạ thiên hoàng, sau nói đến tình yêu, tình bạn, than tuổi già, hoài cổ, buồn việc đời vô thường, hận cảnh vinh khô thịnh suy. Nó là vật dùng để xoa dịu nỗi lòng của người ta trước những điều không kham được. (trong Kanajo ( Lời tựa bằng kana) của Kokin Waka-shuu do Ki no Tsurayuki viết) Kokin Waka Shuu chia thành nhiều bộ (bộ lập = budate) tùy theo chủ đề: Xuân (thượng, hạ), Hạ, Thu (thượng, hạ), Đông, Hạ (chúc tụng), Ly Biệt, Ki Lữ (lữ hành), Vật Danh, Luyến (tình yêu), Ai Thương, Tạp (thượng, hạ), Tạp Thể (thượng, hạ) Đại Ca Sở Ngự Ca (thơ ngự chế của thiên hoàng, hoàng hậu và hoàng tộc). Về thể điệu, phần lớn là những bài ngắn (tanka), có một ít bài dài (chôka hay naga-uta) và thơ đối đáp (sedôka). Bối cảnh cung đình của waka khiến cho cách biểu hiện của nó có tính chất trau chuốt và tinh tế. Thơ waka có đặc sắc là không vịnh sự vật như nó bày ra trước mắt mà lọc qua lăng kính nội tâm và tri thức rồi tái hiện nó qua kỹ thuật thơ và khả năng ngôn ngữ của mình để gợi ra mối liên tưởng nơi người đọc. Phong cách đó không phải một ngày mà có. Ta thấy nó thành hình dần dần cùng với thời gian và những nhà nghiên cứu Kokin waka-shuu đã chia những bài thơ ghi lại suốt đoạn đường 150 năm nay làm ba thời kỳ: -Thời kỳ thứ nhất :các tác giả vô danh: không rõ danh tánh người ca vịnh (yomibito): Số thơ của các tác giả vô danh chiếm 40% của toàn thể tập thơ, có thể xem như những bài waka sau thời Man.yôshuu được truyền tụng lại cho đến các bài ra đời vào đầu thời Hei-an (Hei-an sơ kỳ, 850). Ca phong của giai đoạn chuyển tiếp từ Man.yôshuu bước qua Kokin-shuu thô sơ, chất phác và theo thể 5-7 chữ. -Thời kỳ thứ hai : thời Rokkasen (Lục Ca Tiên): tính từ năm 850 đến năm 890. Đó là thời kỳ hoạt động của 6 nhà thơ waka nổi tiếng đương thời : 1- Sôjôhenjô (Tăng Chính Biến Chiêu) (816-890) tên thật là Yoshimine Munesada (Lương Lĩnh, Tông Trinh) xuất gia sau khi thiên hoàng (thứ 54) Ninmyô (Nhân Minh, trị vì 833-850) băng hà (850). Thơ nhẹ nhàng thoát tục. 2- Ariwara Narihira (Tại Nguyên, Nghiệp Bình) (825-880), con trai của thân vương Abo (A Bảo). Ông còn có tên là Zaigo Chuujô (Tại Ngũ trung tướng) vì làm một chức quan to trong đội cận vệ thiên hoàng. Được coi như là nhân vật chính của cuốn truyện thơ diễm tình Ise Monogatari (Y Thế Vật Ngữ). Lời thơ tình cảm nồng nàn. 3- Funya-no-Yasuhide (Văn Ốc Khang Tú). 4- Hisen Hôshi (Hỉ Soạn Pháp Sư) 5- Ôtomo-no-Kuronushi (Đại Bạn Hắc Chủ) và cuối cùng, người phụ nữ duy nhất là: 6- Ono-no-Komachi (Tiểu Dã Tiểu Đinh), năm sinh và năm mất không rõ. Hậu thế truyền tụng bà là mỹ nhân số một Nhật Bản. Thơ ca của bà viết nhiều về tình cảm luyến ái. Soạn giả không tán dương xã giao những bài thơ họ chọn vào tuyển tập, nhiều khi còn tỏ ra nghiêm khắc. Ngay cả những người được cho là “ca tiên”. Ki no Tsurayuki đã phê bình về Rokkasen như sau: Từ sau đời các thiên hoàng ở Nara, không còn ai làm thơ hay bằng (Kakinomoto no) Hitomaro nữa. Chỉ có nhóm sáu người ca tiên (Rokkasen) là Henjô (Chính Biến), Narihira (Nghiệp Bình), Yasuhide (Khang Tú), Kisen (Hỉ Soạn), Komachi (Tiểu Đinh) và Kuronushi (Hắc Chủ) đáng được để ý. Họ đều có ưu điểm lẫn khuyết điểm. Tăng Henjô làm thơ thành thạo nhưng không thực. Giống như đi yêu điên cuồng người đẹp trong tranh. Narihira thì tình cảm dạt dào nhưng thiếu lời để diễn tả. Như màu sắc còn đọng lại trên hoa tàn. Yasuhide kỹ thuật tinh xảo nhưng chuộng kiểu cách quá nên thơ hóa rỗng, giống như chú lái buôn diện quần áo bảnh. Sư Kisen thì dùng chữ không biết móc nối, trước sau thiếu rõ ràng, khác nào trăng thu đẹp lại bị mây che khuất. Thơ bà Komachi sầu thảm, yếu ớt như con gái nhà quí phái đang lâm bệnh. Thơ Kuronushi có vẻ thấp hèn như ông tiều mang gánh củi đang nghỉ mệt dưới gốc anh đào. (Trích từ Kana no jo ( Lời tựa bằng kana) của Kokin Waka-shuu do Ki no Tsurayuki viết). Thơ thời nầy thường theo thể 7-5, nặng về kỹ xảo với các lối tu từ như engo (duyên ngữ, dùng để gợi liên tưởng trong câu) và kakekotoba[4] (quải từ hay huyền từ, sử dụng đồng âm dị nghĩa). Ví dụ như: “Thu sang cây cỏ đổi màu Chỉ riêng hoa sóng không giàu vì thu” (Bài Kusa mo ki mo, phần Thu (hạ), quyển 5, thơ Funya no Yasuhide) “Lá sen vốn chẳng bùn vương, Để chi sương đọng khoa trương với đời” (Bài Hachisuba no, phần Hạ, quyển 3, thơ nhà sư Sôjôhenjô) “Cuộc đời nếu vắng anh đào Xuân về lòng khỏi dạt dào vì xuân” (Bài Yo no naka ni, phần Xuân (thượng), quyển 1, thơ vương tử Ariwara no Narihira) -Thời kỳ thứ ba: thời của các soạn giả: (890-805) đó là thời các nhà soạn tập sách nầy (Kokin Waka-shuu) hoạt động. Đó là những nhân vật: 1- Ki no Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi) ( ?-945) chức vị thấp nhưng được xem như là người chủ biên Kokin Shuu. Thơ thiên về lý trí. Viết Tosa nikki (Thổ Tá Nhật Ký) lúc làm trấn thủ (kami) ở vùng nầy. Sáng tác còn có Tsurayuki-shuu (Quán Chi Tập). 2- Ki no Tomonori (Kỷ, Hữu Trắc) ((?-?), anh em họ của Tsurayuki. Ca phong hoa lệ, uyển chuyển. 3- Ôshikôchi Mitsune (Phàm Hà Nội, Cung Hằng) (?-?) cũng như trường hợp Tsurayuki, chỉ là một chức quan nhỏ nhưng địa vị trong làng thơ rất lớn Giỏi về thơ khánh hạ hoặc thơ đề trên tranh bình phong (byôbuu-uta). 4- Mibu no Tadamine (Nhiệm Sinh, Trung Lĩnh) (?-?) có đặc sắc là ca phong ấm áp, tao nhã.Có để lại tập phê bình thơ (ca luận) Wakatai Shuushuu (Hòa ca thể thập chủng) nói về Tadamine Shuushuu (Lĩnh Trung thập thể) hay 10 thể thơ waka theo Tadamine. Ngoài 4 soạn giả chính kể trên, còn phải nhắc thêm tên tuổi những nhà thơ cùng thời của họ như Sôsei Hôshi (Tố Tính Pháp Sư), Ôe Chisato (Đại Giang, Thiên Lý), Minamoto Muneyuki (Nguyên, Tông Vu), Ise (Y Thế), Fujiwara Okikaze (Đằng Nguyên, Hưng Phong), Ariwara Motokata (Tại Nguyên, Nguyên Phương), Saka-no-ue Korenori (Phản Thượng, Thị Trắc), Kiyohara no Fukayabu (Thanh Nguyên, Thâm Dưỡng Phụ)… Trong số 4 soạn giả chính, Ki no Tsurayuki là một khuôn mặt trội hơn cả. Ông cùng với Sugawara no Michizane và Ôe Chisato đóng vai trò chủ đạo trong văn học Heian. Ta hãy thử tìm hiểu thêm về nhân vật nầy. 1) Nhà văn hóa Ki no Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi, 870?-945): Dưới triều Nara, dòng họ Ki là một họ có thế lực chính trị lớn nhưng đến giữa thế kỷ thứ 9 thì đã bị sa sút dưới sức chèn ép của gia đình quyền thần Fujiwara. Rời bỏ lĩnh vực chính trị, họ đi vào văn học nghệ thuật và có tiếng vang với Kino Haseo (Kỉ, Trường Cốc Hùng, 845-912), một Monjô hakase (văn chương bác sĩ), học trò và phó sứ trong chuyến sang nhà Đường bất thành của Sugawara no Michizane năm 894. Con Haseo là Yoshimochi (Thục Vọng, ?-919) viết bài tựa chữ Hán cho Kokin-shuu (905). Ki no Okimichi (Kỷ, Hưng Đạo ) và cháu họ trai là Aritsune (Hữu Thường) đi theo con đường âm nhạc cung đình (gagaku) cũng là đường trong bóng tối.Cháu nội của Okimichi chính là Tsurayuki vậy. Có lẽ vì không thành quan cao được nên Tsurayuki phải chọn con đường văn chương quốc âm nhưng nhờ đó mà tạo nên một sự nghiệp văn học bền lâu. Ngoài tập Nhật ký Tosa và các bài tựa tuyển tập thơ waka như tựa của Kokin waka-shuu hay bài tựa thơ làm trong cuộc ngự du của thiên hoàng ở sông Ôi (Ôi-gawa gyôkô waka-jo) là các tác phẩm văn xuôi nổi tiếng, Tsurayuki được xem là nhà thơ waka bậc nhất đương thời. Trong Tsurayuki-shuu , thi tập mang tên ông, có gần 900 bài thơ của ông được thu thập lại, đều cho ta thấy cái tinh tế và nhạc tính của thơ ông.Ông còn làm nhiều thơ đề bình phong (byôbuu-uta), điều này nói lên liên hệ giữa thơ ông và hội họa. Ông có 442 bài thơ được chọn vào các tuyển tập soạn theo sắc chiếu.Ông đúng là học giả và thi nhân tượng trưng cho văn học bản xứ Nhật Bản, có thể đối đầu được trước ảnh hưởng của mẩu mực Trung Quốc. Một bài thơ vịnh mùa xuân của Tsurayuki, có gợi kỷ niệm mùa hè năm ngoái và vui vì mùa đông vừa chấm dứt: “Băng tan theo gió xuân bày, Nước mùa hạ cũ dầm tay áo mình” (Bài Sode hijite, Kokin-shuu, quyển 1 Xuân (thượng), bài 2) “Bụm nước giếng núi giọt vơi Uống chưa đã khát, như người vội xa” (Bài Musubute no, Kokin-shuu, quyển 8, Biệt Ly) 2) Vài bài waka thời hoàn thành thi tập: Vào thời điểm nầy, các lối tu sức engo, kakekotoba lẫn hiyu (tỉ dụ) được sử dụng rất nhiều và khéo léo bên cạnh các kỹ thuật khác như mitate[5] (kiến lập) và gijinhô [6] (nghĩ nhân pháp). Phong cách mang tính kỹ xảo trong việc sử dụng ngôn từ, nặng rõ về phần lý trí cho nên có lúc thơ trở thành một chỗ để chơi chữ.Về vận luật thì thường theo thể 7-5 và thành từng chùm ba câu một. Khi trời nổi gió, lá hồng, Rơi theo làn gió xuống dòng nước xanh, Đã in sẵn lá trên cành (Bài Kaze fukeba, phần Thu (thượng) 304, thơ Ôshikôchi Mitsune) Xin dòng lệ đổ thay mưa, Sông Tam Đồ lụt, nước đưa em về. Cõi trần gian ở bên ta. (Bài Imoto no mi, phần Ai Thương bài 829, thơ Ono no Takamura Ason) “Lập xuân nhằm tháng mười hai, Năm cũ? năm mới ? biết ai hỏi cùng!” (Bài Toshi no uchi ni, phần Xuân (thượng), quyển 1, thơ Ariwara no Motokata, cháu nội Narihira ) B) Các tập waka soạn theo sắc chiếu khác: Nửa thế kỷ sau khi Kokin-shuu ra đời, thiên hoàng (thứ 62) Murakami (Thôn Thượng, trị vì 946-967) lại ra lệnh thiết lập Wakadokoro (Hòa ca sở) ở một chỗ gọi Chiêu Dương Xá trong cung và cho bọn 5 người quan chức chuyên về waka như Minamoto no Shitagô (Nguyên, Thuận), Ônakatomi no Yorinobu (Đại Trung Thần, Năng Tuyên), Kiyohara no Motosuke (Thanh Nguyên, Nguyên Phụ), Ki no Tokifumi (Kỷ, Thì Văn), Sakanoue no Mochiki (Phản Thượng, Vọng Thành) chua cách đọc theo âm Nhật cho thơ trong Man.yô-shuu (vốn viết bằng man.yôgana) và đồng thời, soạn Gosen Waka-shuu (Hậu Tuyển Hòa Ca Tập, 951?). Năm người nầy có cái tên là Nashitsubo no Gonin (Lê Hồ Ngũ Nhân, bởi vì trước Chiêu Dương Xá, chỗ họ làm việc, có trồng cây lê). Tập Gôsen (Hậu tuyển) nầy lấy thơ thời đại của Kokin -shuu làm nồng cốt và không chọn thơ của các soạn giả. Lời thuyết minh thường dài dòng và có khuynh hướng kể lể như viết truyện. Riêng về Minamoto no Shitagau (hay Shitagô, 911-983), dòng dõi thiên hoàng Saga, cũng là một trong 36 ca tiên, năm mới ngoài 20 tuổi đã theo lệnh công chúa Kinshi soạn tập ngữ vựng thơ Wamyô ruiji shô (Nụy danh loại tự sao, 931-938) chú thích rất tường tận bằng tiếng Nhật những chữ Hán dùng trong thơ và sắp xếp nó theo từng chủ đề.Trong Shitagau-shuu (Thuận tập), ông đã thử làm thơ theo hình thức sắp quân cờ trên bàn cờ vây khiến ta liên tưởng đến thủ pháp của Apollinaire trong Calligrammes trong bối cảnh thế kỷ thứ 10 ở Nhật. Đến đầu thời Hei-an thì thiên hoàng (thứ 66) Ichijô (Nhất Điều, trị vì 986-1011) ra lệnh soạn tiến lên vua Shuu.i waka-shuu (Thập Di Hòa Ca Tập, 1004-1012). Tập nầy cũng “nhặt sót” thơ dưới thời Kokin Shuu và tôn trọng phong cách thời đó. Cho nên khi nói đến Kokin-shuu , Gosen-shuu và Shuu-I-shuu, người ta gọi nó là Sandai Shuu (Tam đại tập = Thi tập ba đời), ba tập thơ thủy tổ có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sau. Cuối đời Hei-an có Fujiwarano Michitoshi (Đằng Nguyên, Thông Tuấn) soạn Go shuu.i waka-shuu (Hậu thập di hòa ca tập), trong đó thâu thập thơ của Izumi Shikibu (Hòa Tuyền Thức Bộ), Sagami (Tương Mô), Akazome Emon (Xích Nhiễm, Vệ Môn)…Thơ các nữ thi nhân trong tập đó rất nhiều và phong cách mới mẽ, khác hẳn ca phong của Kokin-shuu. Sau đó lại có Minamoto Toshiyori (Nguyên, Tuấn Lại) soạn Kin.yô waka-shuu (Kim Diệp Hòa Ca Tập, 1127?), phần lớn là thơ của người cùng thời, gồm cả các bài renga (liên ca, một hình thức thơ xướng họa liên kết với nhau), cho nên thổi được một luồng gió mới vào thơ đương thời. Tiếp đến phải kể tới Shika waka-shuu (Từ hoa hòa ca tập, 1151-1154) của Fujiwarano Akisuke (Đằng Nguyên, Hiển Phụ) cũng đưa đến sự mới mẻ như Kin.yô (Kim diệp) nhưng nhìn toàn thể thì thấy tập thơ giữ được quân bình hơn. Giữa thời hai họ Minamoto (Nguyên) và Taira (Bình) tranh giành quyền bính nghĩa là giai đoạn cuối thế kỷ 12, Fujiwarano Shunzei (Đằng Nguyên, Tuấn Thành) soạn ra Senzai Waka-shuu (Thiên Tải Hòa Ca Tập, 1183) với chủ trương chọn lọc những vần thơ miêu tả tình cảm u huyền, thâm sâu vì theo người soạn nó, đó mới là những vần thơ đẹp (tú ca). Cộng thêm với Shin Kokin-shuu (Tân Cổ Kim Tập), tám tập waka, kể từ Kokin-shuu, soạn theo lệnh thiên hoàng được mệnh danh là Bát Đại Tập tức thơ tám đời. Tóm lược về Bát Đại Tập Tên Tập Số Quyển Năm Ra Đời Đời thiên hoàng hay thái thượng hoàng (In = Viện) hạ lệnh soạn Người biên soạn Chính (1) Kokin (Cổ Kim) 20 905 hay 914 Daigo (Đề Hồ) Ki no Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi) và 3 người khác (2) Gô Kokin (Hậu Cổ Kim) 20 951 Murakami (Thôn Thượng) Minamoto no Shitagô (Nguyên, Thuận) và 4 người khác (3) Shuu-i (Thập Di) 20 951 Kazan-In (Hoa Sơn Viện ) Kazan-in (có thuyết là Kintô (Đằng Nguyên Công Nhiệm) (4)Go Shuu-i (Hậu Thập Di) 20 1086 Shirakawa (Bạch Hà) Minamoto no Michitoshi (Đằng Nguyên Thông Tuấn) (5) Kinyô Shuu (Kim Diệp) 10 1127 Shirakawa-in (Bạch Hà Viện) Minamoto noToshiyori (Nguyên, Tuấn Lại) (6) Shika (Từ Hoa) 10 1151-54 Sutoku-in ( Sùng Đức Viện) Fujiwara no Akisuke (Đằng Nguyên Hiển Phụ) (7) Senzai (Thiên Tải) 20 1188 Gô Shirakawa-in ( Hậu-Bạch Hà Viện) Fujiwara no Shunzei (Đằng Nguyên Tuấn Thành) (8) Shin Kokin (Tân Cổ Kim) 20 1205 Gô Toba-in (Hậu Điểu Vũ Viện) Minamoto no Michitomo (Nguyên Thông Cụ) và 4 người khác So sánh Manyôshuu (Vạn Diệp Tập), Kokinshuu (Cố Kim Tập) và Shin-Kokinshuu (Tân Cổ Kim Tập) Manyôshuu Kokinshuu Shin-Kokinshuu Xuất hiện thời Nara (từ giữa thế kỷ thứ 8 trở đi) đầu thời Heian (khoảng năm 905 hay 914) Đầu thời Kamakura (khoảng 1205) Người biên soạn không rõ chỉ biết Ôtomo no Yakamochi là chính 4 người mà Ki no Tomonori và Ki no Tsurayuki là chính 6 người mà Fujiwara no Teika là chính Thi nhân tiêu biểu Nukata no ôkimi, Kakinomoto no Hitomaro, Yamabe, Akahito Yamanoue no Okura, Ôtomo no Tabito, Ôtomo no Yakamochi Các soạn giả và Rokkasen, Ariwara no Akihira, Fujiwara no Toshiyuki, Sosei Hôshi, Ise Các soạn giả và tăng Saigyô, Shokushi Shinnô, Fujiwara Shunzei, tăng Jien và thái thượng hoàng Go-Toba Số quyển 20 quyển, khoảng 4500 bài 20 quyển, khoảng 1100 bài 20 quyển, khoảng 2000 bài Số quyển 20 quyển, khoảng 4500 bài 20 quyển, khoảng 1100 bài 20 quyển, khoảng 2000 bài Thể thơ Đoản ca, trường ca, ca đối đáp, lối ca khắc ở tượng chân Phật đoản ca, trường ca, ca đối đáp đoản ca Nội dung Thơ tình, thơ nhớ nhau, thơ phúng điếu , tạp ca thơ vịnh bốn mùa, thơ tình, chúc tụng, ly biệt, bi thương Thơ vịnh bốn mùa, thơ tình, chúc tụng, ly biệt, bi thương, thơ tôn giáo Thần Phật Khổ thơ và phương pháp tu từ Khổ 5/7 (cắt làm 2 hay 4 câu). Dùng makura-kotoba, jôkotoba, tsuiku, hanpuku, jiamari Khổ 5/7 (cắt làm 3 câu một). Dùng makura-kotoba, jôkotoba, tsuiku, hanpuku, thêm vào đó hiyu (midate, gijinhô) Khổ 5/7 (cắt cuối câu đầu và câu thứ 3). Dùng makura-kotoba, jôkotoba, tsuiku, hanpuku, thêm vào đó honkadori, taigendome Thi phong Hùng tráng, thẳng thắn, chất phác, tức masuraoburi kỹ xảo, thiên về lý trí, khái niệm, tinh tế, hoa mỹ, tức taoyameburi kỹ xão, tượng trưng, kể lể, ugen, yuushin Xuất xứ: Genshoku Shiguma Shinkokugo Binran, 2002 C) Các thi tập waka cá nhân (tư gia tập=shikashuu) Sau thời của các Kokin -shuu (Cổ kim tập) “gom góp thơ xưa nay” là thời đại của các Shuu-I -shuu (Thập di tập) “nhặt sót” giới thiệu những thi nhân waka (kajin = ca nhân) tiếng tăm như Sone no Yoshitada (Tăng Nỉ, Hiếu Trung), Izumi Shikibu (Hòa Tuyền, Thức Bộ) và Fujiwara no Kintô (Đằng Nguyên, Công Nhiệm, 966-1041). Fujiwara no Kintô là con trai của chức kampaku tên Yoritada (Lại Trung), là người bác học và đa tài. Ông đóng vai chủ tể thi đàn thời bấy giờ và còn để lại hai tập phê bình thơ Shinsen zuinô (Tân tuyển tủy não) và Waka kubon (Hòa ca cửu phẩm) cũng như tập biên sọan Wakan rôei-shuu (Hòa Hán lãng vịnh tập, khoảng năm 1012). Còn Sone no Yoshitada (?-?) vì làm chức Duyện ở xứ Tango (Đan Hậu Duyện) nên được đời gọi là Sotan (Tăng Đan) tức là ông họ So (Tăng) xứ Tango (Đan Hậu). Tuy thơ được tán thưởng nhưng tính khí bướng bĩnh nên không ai dung. Ca phong của ông tự do, phóng túng, mới mẽ tân kỳ. Để lại tập Sotan shuu (Tăng Đan tập). Người thứ ba là bà Izumi Shikibu (Hòa Tuyền, Thức Bộ) (?-?), con gái của Ôe Masamune (Đại Giang, Nhã Chí). Trước tiên, bà kết hôn với Tachibana no Michisada (Quất, Đạo Trinh) và sinh ra Koshikibu (Tiểu Thức Bộ), rồi trở thành tình nhân của hai thân vương Tametaka (Vi Tôn) và Atsumichi (Đôn Đạo). Sau đó nhân hầu cận Jôtômon-in (Thượng Đông Môn Viện)[7] tức là bà Fujiwara Shôshi (Đằng Nguyên, Chương Tử, 988-1074), hoàng hậu của thiên hoàng Ichijô (Nhất Điều), bà mới tái hôn với Fujiwara Yasumasa (Đằng Nguyên, Bảo Xương) rồi lại ly hôn ông nầy. Cuộc đời tình ái sóng gió như vậy chứng tỏ tính tình tự do độc lập của bà. Thơ của bà điêu luyện về mặt kỹ thuật và phóng túng trong cảm nghĩ. Fujiwara no Kintô chủ trương Tâm và Từ phải có sự hòa điệu trong khi Yoshitada và Shikibu bộc lộ cá tính khác đời trong thơ của họ. Tập Sotan-shuu của Yoshitada và Izumi Shikibu- shuu của Shikibu là những “tập thơ cá nhân” mà người Nhật gọi là shikashuu (tư gia tập) hay kashuu (gia tập). Ngoài ba nhân vật nói trên, thời Gô kokin-shuu có Minamoto Tsunenobu [8] (Nguyên, Kinh Tín), thời Kin.yô-shuu có soạn giả tập ấy là Minamoto Toshiyori [9](Nguyên, Tuấn Lại), đều là những thi nhân waka kiệt xuất. Với Toshiyori (con của Tsunenobu), đề tài và phong cách của waka có thêm sự mới mẽ cũng như tự do về mặt biểu hiện.Tập thơ cá nhân của Toshiyori có nhan đề là Sanboku kika-shuu (Tán Mộc[10] Kỳ Ca Tập). Ông còn được biết tới vì tài thổi sáo, làm thơ thi tài trong các cuộc uta-awase và thiện nghệ về loại renga ngắn mang tên là tan-renga (đoản liên ca), một thứ tanka có 2 vế xướng họa giữa hai người. Có thể xem ông như người tiếp nối tư tưởng thi ca của Kintô và đã ảnh hưởng không ít đến waka thời Kamakura. Năm 1127, theo chiếu chỉ của thiên hoàng Shirakawa, ông đã soạn Kin.yô waka-shuu (Kim diệp hòa ca tập). Kể về những thi nhân waka cuối đời Hei-an thì có những nhân vật nổi tiếng như Fujiwara no Shunzei (Đằng Nguyên, Tuấn Thành) và tăng Saigyô (Tây Hành). Shunzei vốn là con của Toshitada (Tuấn Trung) và là cha của Teika (Định Gia). Trước kia Shunzei đã nhập môn phái bảo thủ của Fujuwara no Mototoshi (Đằng Nguyên, Cơ Tuấn, ? - 1142) nhưng vì mến mộ phong cách thanh tân của trường phái Minamoto no Toshiyori (Nguyên, Tuấn Lại, 1016-1129) nên lấy cái hay của hai nhà mà lập ra phong cách thi ca đặc biệt cho mình.Chủ trương cái đẹp nằm ở chỗ ẩn dấu, u huyền. Để lại tập thi luận Korai Futeishô (Cổ Lai Phong Thể Sao) ghi chép lại các thể thơ xưa nay và tập thơ cá nhân (kashuu) của ông tựa đề là Chôshuu Eisô (Trường Thu Vịnh Tảo). Còn tăng Saigyô (Tây Hành) (1118-1190) vốn có tục danh là Satô Norikiyo (Tá Đằng, Nghĩa Thanh) trước là vũ sĩ bảo vệ cung cấm nhưng sau bỏ vợ con lại, xuất gia làm tăng. Du lịch nhiều nơi và sáng tác. Thơ ông chuộng tự nhiên, không học đòi kỷ xảo. Để lại tập thơ riêng Sanka-shuu (Sơn Gia Tập). A) Các hội thi thơ (ca hợp=uta-awase) và phê bình thơ (ca luận = karon): Uta-awase[11](ca hợp) bắt đầu có vào giữa thế kỷ thứ 9, ban đầu chỉ là những cuộc hội họp để làm thơ có tính cách xã giao tiêu khiển mà thôi. Nhưng từ sau những hội thơ (xin hiểu là những cuộc bình thơ) có tiếng tăm như Teiji no in uta-awase (Đình Tử Viện ca hợp, 913) họp ở Teiji-no-in là chỗ ở của pháp hoàng[12] Uta (Vũ Đa) và Tentoku Dairi Uta-awase (Thiên Đức Nội LýcCa hợp, 960) trong năm Tentoku (Thiên Đức) thứ 4 ở điện Seiryô (Thanh Lương) trong hoàng cung, thì những lời phẩm bình thơ vào dịp đó (hanji = phán từ) đã trở thành cơ sở cho lý luận phê bình thơ (karon = ca luận) về sau. Bài viết về lý luận thơ waka đầu tiên có lẽ là lời tựa bằng quốc âm kana (kanajo) của Kokin-shuu (Cổ kim tập).Sau khi waka đã hưng thịnh rồi thì người viết về lý luận waka càng ngày càng nhiều và phải kể đến những tên tuổi như Mibu-no-Tadamine (Nhiệm Sinh, Trung Lĩnh) với Wakatai Jisshu (Hòa ca thể thập chủng), Fujiwara Kintô (Đằng Nguyên Công Nhiệm) với Shinsen Zuinô (Tân tuyển tủy não) và Waka Kubon (Hòa ca cửu phẩm), Minamoto-no-Toshiyori (Nguyên, Tuấn Lại) với Toshiyori Zuinô (Tuấn Lại tủy não), Fujiwara Kiyosuke[13] (Đằng Nguyên Thanh Phụ) với Fukurono Sôshi (Đại thảo tử). Như đã đề cập ở trên, đến đầu thời Kamakura (1185-1333) thì Fujiwara no Shunzei (Đằng Nguyên, Tuấn Thành) lại cho ra đời tập ca luận Korai Futei Shô (Cổ lai phong thể sao) ghi chép các thể thơ và phong cách waka từ trước đến nay. E) Vài đặc điểm của ngôn ngữ và cách sáng tác thơ Waka: 1) Vần điệu: Văn vần khác với văn xuôi ở chỗ có “vận luật”. Vần là những chữ đồng âm hay có âm tương cận và sự xếp vần là một công phu cần thiết trong khi làm thơ. Luật là số chữ trong câu hoặc số câu trong bài theo một mẫu mực cố định mà người làm thơ phải theo. Tiêu biểu cho văn vần (vận văn) Nhật Bản , waka lại không có vần, dù là cước vận (vần ở cuối câu như Âu Mỹ, Trung Quốc, Việt Nam) hay yêu vận (vần ở giữa câu như Việt Nam). Waka không theo một luật thuần nhất về số chữ trong câu (tứ ngôn, ngũ ngôn, thất ngôn…) hay số câu trong bài (tứ tuyệt, bát cú…) như Trung Quốc. Waka gồm một số câu, thường là theo hàng lẻ, và là một chuỗi 5/7/5/7/7 âm như đã trình bày ở phần trên. Sự hạn chế về vận luật của waka và các thể loại thơ Nhật về sau được giải thích bởi Uchida Kentoku (Nội Điền, Hiền Đức)[14] là vì ngôn ngữ Nhật Bản cấu thành bằng những âm mở ở cuối chữ (mẫu âm a/i/u/e/o chứ không phải âm đóng như phụ âm) và có những dấu nhấn cao thấp (chứ không phải mạnh yếu) làm cho nó không bắt vần dễ dàng được. 2) Từ ngữ: Về từ ngữ sử dụng trong waka thì khởi thủy nó dựa trên những chữ dùng trong các tác phẩm cổ điển, từ từ tăng thêm để có một ngữ vựng thi ca gọi là kago (ca ngữ). “Ca ngữ”mà cơ sở là “tiếng Nhật thanh nhã” tuy biến đổi với thời gian nhưng luôn luôn được phân chia ranh giới với ngôn ngữ hằng ngày và Hán ngữ. “Ca ngữ” được dùng lập đi lập lại trong thơ nhưng nội dung (hàm ý) của những chữ dùng đó dần dần được xác định.Nội dung đó có tên là hon-i (bản ý) tức là ý chính.Ví dụ khi sử dụng chữ ume (hoa mơ) thì các người làm thơ đã có qui ước với nhau là phải đặt trọng tâm đến làn hương (khứu giác) cứ không phải màu sắc (thị giác) của hoa.Nói đến tachibana no kaori (hương cam quít) , thi nhân đều đồng cảm về mùi hương gợi nhớ thương đến một người hay một cuộc gặp gỡ trong quá khứ. Chim cuốc (hototogisu) [15] là loài chim báo tin mùa hè. Xưa kia, một thi sĩ như Ôtomo no Yakamochi chẳng hạn, viết rất nhiều về chim cuốc. Cũng vậy, bài mở đầu cho phần mùa hạ trong Kokin waka-shuu đã vịnh ngay hototogisu và trong số 34 bài thơ nói về mùa hạ của tập nầy, đã có 30 vịnh tiếng cuốc kêu. Qui ước của tiếng cuốc là lòng nhớ thương người, là quá khứ xa xưa đuổi theo mình. Không những tiếng cuốc đầu mùa (sơ âm) mà lúc cuối mùa, tiếng cuốc vắng đi cũng là một đề tài nói về tiếc nuối. Những qui ước về “ca ngữ” như trên đã trở thành một bảo chứng cho thành viên của xã hội thơ cung đình để, khi áp dụng nó, họ cảm thấy mình là một bộ phận của xã hội đó. 3) Nơi chốn sáng tác: Theo Hayashi Tatsuya[16], khi làm waka, người ta ít khi làm một mình kiểu “độc vịnh” như để thoát ra tiếng thở dài trong cô quạnh. Thơ waka dầu là để tặng ai, dầu là làm trong một hội thơ, luôn luôn phát xuất từ mối quan hệ với người khác. Làm như waka là phương tiện giao cảm với tha nhân và việc sử dụng “ca ngữ” mà ai cũng chấp thuận, cũng đóng góp vào sự gắn bó, ràng buộc giữa người làm thơ và những kẻ chung quanh. Thời Heian, tâm lý người đến dự các hội thơ (uta-awase) cũng giống như người đến dự một cuộc đua ngựa hay xem đấu vật. Hội thơ là nơi để tiêu khiển trong sự phân tài cao thấp giữa các người làm thơ. Chính nhờ có những hội thơ như thế mà waka đã phục sinh sau một thế kỷ im ắng từ khi Man.yô-shuu ra đời, và nó lại còn là động cơ cho việc các thiên hoàng giáng chiếu soạn thi tập. Dầu vậy, các hội thơ không phải tổ chức ở những chốn riêng tư trong dân mà được diễn ra ở chốn công cộng như những nơi yến tiệc (hare no uta- awase) vì hare có nghĩa là lúc vui tươi nhộn nhịp. Muốn chiều ý đám đông, nó phải tránh né một số giới hạn về ngôn ngữ vì có những cấm kỵ, mê tín. Do đó, nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao nhưng không hợp với quan niệm đạo đức đương thời hay có nội dung quá cá nhân, đã bị gạt ra. Người chấm thi chính hay chủ khảo (hanja) chỉ chấp nhận tình cảm trung dung hay tình cảm mới nhưng lồng trong lời thơ theo qui ước cũ. Chủ đề “thuật hoài” than thở cảnh ngộ sinh ra không gặp thời chẳng hạn chỉ xuất hiện trong các hội thơ từ thế kỷ 13 và chủ đề lớn như tình yêu cũng chỉ được xếp sau chủ đề về thiên nhiên và sự vật. Những lời bình luận (hanji = phán từ) của chủ khảo sẽ là điểm tựa để qui định “bản ý” của câu chữ mà người làm thơ phải noi theo nếu không muốn gặp khó khăn. Đến thời cận đại, tình cảm cá nhân bộc lộ qua thi ca được đề cao nhưng dưới thời Heian, thái độ nầy bị coi như đứng bên lề dòng thơ chính thống nếu không nói là theo tà phái. 4) Nội dung: Waka không châm biếm, không ca ngợi chiến tranh hay vẻ đẹp của thân thể con người. Như đã nói, vì nó kết hợp tình cảm của con người với những hiện tượng thiên nhiên bằng một ngôn ngữ đã mã hoá (sương = nước mắt; sương = kiếp người mỏng manh và ngắn ngủi) cho nên thi tăng Saigyô (Tây Hành, 1118-1190) đã có thể nói lên được lòng tin tôn giáo của mình trong thơ ngay cả khi chỉ vịnh lá hoa, chim chóc. Nội dung của waka chỉ được gợi ra chứ không được đem ra trình bày thẳng. Khổ ngắn của waka chỉ cho phép bóng gió chứ không cho phép giải thích dài giòng. Nhà thơ có tài phải biết cho người ta hiểu nhiều tâm trạng mình dâng trào (amari no kokoro) ra ngoài những điều bày tỏ qua chữ viết. Nội dung của waka phong phú vì từ ngữ phần nhiều đa nghĩa.Hai âm kiku chẳng hạn có thể hiểu là “nghe” có thể hiểu là “hoa cúc”, động từ oku có thể hiểu là đặt xuống” nhưng cũng có nghĩa là “thức dậy”. 5) Chỗ khác nhau giữa Man.yô-shuu và Kokin-shuu: Trước hết Man.yô-shuu qui tụ hầu như những bài thơ viết cuối thế kỷ thứ 7 và tiền bán thế kỷ thứ 8 (trước 759) trong khi Kokin-shuu góp nhặt (năm 905 hay 914) những bài waka chủ yếu làm trong thế kỷ thứ 9. Man.yô-shuu không soạn theo chiếu chỉ thiên hoàng. Kokin-shuu thì có, chứng tỏ thời điểm đó waka mới được nhà nước nhìn nhận. Trong các tập thơ soạn theo sắc chiếu trước thế kỷ thứ 9 như Ryôun-shuu (Lăng vân tập), Bunka Shuurei-shuu (Văn hoa tú lệ tập) hay Keikoku-shuu (Kinh quốc tập) không thấy có waka. Thơ thu thập vào Kokin-shuu được sáng tác ở những chỗ hội họp công chúng và được đánh giá theo ý kiến chủ quan của giám khảo và sau đó là nền tảng để soạn những tập lý luận về thơ hay karon. Theo nhà nghiên cứu Katô Shuuichi, một chỗ khác nhau rõ rệt giữa hai tập là nguồn gốc xã hội của các tác giả. Tác giả trong Man.yô-shuu đủ loại người từ thiên hoàng đến nông dân miền Đông, lính thú miền Nam, quí tộc lẫn người thường. Còn Kokin-shuu thì tuy có 30% trong số 1100 bài là của tác giả vô danh (yomibito shirazu) nhưng xem nội dung và ngữ vựng mà xét thì các tác giả đó không phải là nông dân ở địa phương mà là những người đã tham dự vào các hội thơ (uta-awase) nghĩa là có một địa vị xã hội nào đó. Thế giới của Man.yô mở cho mọi người thì thế giới của Kokin hầu như đóng khung trong giai tầng quí tộc cung đình. Đặc điểm khác là có một số nhà thơ chủ yếu nổi lên, đó là 4 nhà biên soạn, xuất thân từ tầng lớp tiểu quí tộc. Riêng họ đã viết độ 1/5 tập rồi. Về mặt hình thức, chữ Hán thấy trong Man.yô đã nhường bước cho kana của Kokin. Trong Man.yô có nhiều chôka lẫn sedôka bên cạnh tanka nhưng hai thể loại đó đã vắng bóng đi trong Kokin (10/1100). Bởi vì tanka vốn ngắn, dễ làm hơn hai loại kia, được yêu chuộng ở các hội thơ. Tóm lại, waka càng phổ biến trong đại chúng bao nhiêu thì những thể thơ khó làm sẽ mất đi lý do tồn tại. Màu sắc Phật giáo thoáng thấy trong Kokin (khoảng 100 bài) nhưng chưa đủ nhiều để bảo là nó đi xa hơn Man.yô. Có chăng là trong Man.yô thơ nói về tình yêu nam nữ thì nhiều, thơ về sự thay đổi bốn mùa so với thơ nói về tình yêu thì ít (2/10 tập). Khuynh hướng đó ngược lại trong Kokin (6/20 tập) , thơ về bốn mùa có khi không đả động đến tình yêu. Có lẽ vì sự xuất hiện của một số “nhà thơ chuyên nghiệp” đã khiến cho đề tài của thơ “phi nhân cách hóa” đi chứ người thời Kokin không có lý do đặc biệt nào để yêu thiên nhiên hơn người thời Manyô cả Chúng ta cũng cần để ý một số điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng. Đó là ngữ nghĩa. Động từ kou (yêu) khi dùng trong Man.yô thì có nghĩa “ ôm ấp ”, “ ngủ chung ” “ lên giường ” và hướng về một đối tượng trong khi kou trong Kokin chỉ là “ nghĩ tới ”, “ mơ tưởng ” và thường dùng để chỉ một trạng thái của chủ thể phi đối tượng. Thơ Kokin tránh những động từ như ineru (ngủ chung) vì nó gợi rõ ý luyến ái xác thịt. Các nhà thơ thường mượn giấc mộng để ám chỉ sự việc muốn nói và lần đầu tiên , “ người tình trong giấc mộng ” đã đi vào văn học Nhật Bản qua những vần thơ của Ono no Komachi chẳng hạn. Cũng vậy, thi nhân Man.yô khi ngâm vịnh thường dùng thì hiện tại. Trong Kokin, liên hệ giữa hiện tại và quá khứ, hiện tại và tương lai được đề cập tới với một tâm lý phức tạp hơn người thời Nara. Một điều có thể nói ở đây là qua Kokin, ta thấy được truyền thống của quí tộc cung đình Heian, nó sẽ giúp họ xác định được bản sắc của mình, bản sắc mà họ còn truyền đạt cho nhau trong bí mật (Kokin denjuu : truyền thụ bí quyết thơ Kokin từ thầy qua trò) cho dầu khi quyền lực chính trị của họ rơi vào tay các vũ sĩ của thế lực mạc phủ Kamakura. Katô Shuuichi nhận định có một sự định chế hóa (institutionalization) waka trong thời điểm này. Kokin-shuu trở thành khuôn vàng thước ngọc (locus classicus) sau khi được đề cập đến như “ cách làm thơ mọi người phải bắt chước ” trong các tập karon (lý luận thơ) như Waka Kubon của Fujiwara no Kintô viết cuối thế kỷ thứ 10 chẳng hạn. Nó thể hiện mỹ học của giới quí tộc và nhất là nam giới đương thời, tìm về những cảm hứng bắt nguồn ở phong cảnh thiên nhiên. Đam mê tình dục của Man.yô-shuu và những vần thơ tình cảm lãng mạn của các nhà thơ nữ cung đình như Izumi Shikibu hầu như bị quên lãng. Hãy thử so sánh hai khuynh hướng đó. Thơ “ mẫu mực ” theo ý kiến của Kintô như sau: Sáng nay trời mới vào xuân , (Núi) Yoshino có chìm dần sương lam? (Bài Haru tatsu to, Shuui-shuu quyển 1, thơ Mibu no Tadamine) Đi qua bến Akashi, Trong sương thu nhớ thuyền đi đảo ngoài (Bài Honobinoto, Kokin-shuu, tập 9, tác giả vô danh) Địa điểm là núi Yoshino và bến Akashi, hai “ gối thơ ” quan trọng và kigo (chữ về mùa) là sương lam mùa xuân (kasumi) trong bài thứ nhất và sương mù mùa thu (kiri) trong bài thơ thứ hai theo ngữ vựng thời Heian. Trong khi ấy, những tuyệt tác của các nhà thơ nữ (không rõ ai viết nhưng có thể là của bà Izumi Shikibu) còn ghi lại trong Goshuui waka -shuu (Hậu thập di tập hòa ca tập, 1086) không được các nhà phê bình nam giới, tức là trọng tài không thể thay thế được của các cuộc bình thơ thời ấy, đánh giá cao, vì các tác phẩm đó không hợp với cảm xúc của quí vị đó. Thơ như sau : Tóc huyền chảy rối bờ vai, Mơ màng em nhớ tay ai vuốt hoài. (Bài Kuro kami no, Goshuui-shuu, bài 775) Mai sau để còn nhớ người, Giờ xin gặp một lần thôi cũng đành. (Bài Arazaran, Goshuui-shuu, bài 775) Ngày nay, người ta còn giữ lại được bản phúc trình kết quả các hội bình thơ (uta-awase) mà xưa nhất là hội thơ tổ chức ngày mồng ba tháng 3 năm 913, lúc đó thiên hoàng là người thắng giải (điều mà ta không lấy chi làm lạ). Cách chấm giải rất bảo thủ và chủ quan nên có thể bảo các hội thơ là cơ hội để củng cố truyền thống hơn là thực sự đi tìm cái hay, cái đẹp trong thơ ca. Sự định chế hóa thi ca nầy cũng thể hiện nhu cầu kết hợp mọi người theo một ý kiến chung, điều thường thấy trong xã hội Nhật Bản xuyên qua mọi thời đại. 6) Thiên nhiên trong thơ Waka: Trong waka nói riêng và thi ca Nhật Bản nói chung, thiên nhiên đóng một vai trò rất quan trọng, như một kỹ thuật, như một qui ước giữa những người sáng tác. Lòng yêu thiên nhiên và sự nhạy cảm đối với thời tiết là một đặc điểm của tâm hồn Nhật Bản. Chủ đề thiên nhiên tuy có làm phong phú nội dung thi ca nhưng trong một chiều hướng khác, nó đã tạo ra những câu thúc và khuôn sáo. Xin dẫn ra đây vài tên thực vật và động vật thông dụng vì thơ waka còn nói đến nhiều giống chỉ sống ở vùng ôn đới và đôi khi chỉ sống ở Nhật Bản. -Mùa xuân (tháng giêng đến tháng 3 âm lịch): Thực vật: mơ (ume), lan tím (sumire), anh đào (sakura) , hải đường (tsubaki), lê (nashi), tử đằng (fuji), đào (momo), liễu (yanagi), hồng vàng (yamabuki), ngải cứu (yomogi), cây đuôi chồn (warabi). Động vật: chim oanh (uguisu), én (tsubakurame), sơn ca (hibari), ong (hachi) ếch (kawazu), tằm (kaiko), bướm (chô), susume no ko (sẻ con) Vụ mùa: ngày dài (hinaga), đêm 88 (hachijuhachiya) để chỉ mùa hái trà, tiết xuân (haruoshimu), vãn xuân (yukuharu). Thiên văn-Địa lý: trăng mờ sương (oborozuki), tuyết tan (yukidoke), sương lam (kasumi) Sinh hoạt-Hội hè: kusamochi (bánh nếp bọc lá), tako (diều), vỡ ruộng (hatakeuchi), ngắt lá chè (chatsumi)… -Mùa hè (tháng 4 đến tháng 6 âm lịch):: Thực vật: hoa xương bồ (ayame), hoa diên vỹ (kakitsubata), hoa sơn chi (kuchinashi), sen (hachisu), hahakigi (kim tước chi), mẫu đơn (botan), hoa lưu ly thảo (wasurenagusa) Động vật: chim bói cá (u) gà nước ( kuina), cò (sagi), cuốc (hototogisu), đom đóm (hotaru), kiến (ari), muỗi (ka) , cá hương (ayu), ve (semi), cá vàng (kingyo). Vụ mùa: đêm vắn (mijikayo), nyuubai (đầu mùa mưa hè), atsusa (cái nóng), kề thu (akichikashi). Thiên văn-Địa lý: kaminari (sấm), niji (mống trời), yuudachi (mưa rào) Sinh hoạt -Hội hè: mugikari (gặt lúa mạch), yukata (áo mát), kaya (mùng), taue (cấy lúa)… -Mùa thu (tháng 7 đến tháng 9 âm lịch): Thực vật: lau sậy (ashi), cúc (kiku), chuối (bashô), lau già (ogi), quả hồng (kaki). Động vật: chuồn chuồn (kagerô), dế mèn (kirigirisu), dế tùng (matsumushi), chim cút (uzura), ngỗng trời (kari), chim “cát” (sandpiper, shigi), hải âu (miyakodori), gà gô (yamadori). Vụ mùa: yosamu (đêm lạnh), zansho (hơi nóng còn sót), chuushuu (trung thu) Thiên văn-Địa lý: Amanokawa (sông Ngân), inazuma (chớp nháng), trăng (tsuki), sương thu (kiri), tiếng thu (aki no koe). Sinh hoạt -Hội hè: Tanabata (Thất Tịch), kinuta (chày), tsukimi (ngắm trăng), tảo mộ (hakamairi), được mùa (hônen)… Mùa đông (tháng 10 đến tháng chạp âm lịch) Thực vật: tầm gửi (yodoriki), ochiba (lá rụng), negi (hành), suisen (thủy tiên), sazanka (sơn trà), daikon ( củ cải trắng) Động vật: vịt trời (kamo), chim óc cau (chidori), hạc (tsuru), thỏ (usagi), sò (kaki), mimizuku (một loại chim cú). Vụ mùa: rittô (lập đông), cuối năm (toshi no kure), oomisoka (trừ tịch) Thiên văn-Địa lý: kareno (đồng khô lá), sương giá (shimo), kitsunebi (lửa ma trơi), hatsuyuki (tuyết đầu mùa) Sinh hoạt-Hội hè: tất (tabi), ho (seki), futon (nệm), sumiyaki (đốt than), susuhaki (quét bồ hóng)… Đó là khởi điểm cho những chữ về mùa hay kigo (quí ngữ), rất thông dụng trong việc sáng tác thơ haiku. 7) Tìm hiểu thêm về phương pháp tu từ của Waka: -Makura-kotoba (chẩm từ, chữ làm gối, chữ gợi hứng): Thường thường là một câu chữ gồm 5 âm tiết để dẫn vào và trang điểm cho chữ đến ngay đằng sau. Phải có một mối liên hệ về mặt ý nghĩa giữa nó và nội dung bài thơ. Không được diễn ý nó ra văn nói mà phải để nguyên như thế. Ví dụ: kusamakura (lấy cỏ làm gối) để tiếp nối với tabi ( chuyến đi xa,) hay chữ utsusemi no (xác ve) để tiếp nối với munashi (sự trống rỗng), yo (cuộc đời), mi (thân phận), hito (con người,) trong khi chữ hisakata no (phía xa vời) để bắt liền với ama (trời), tsuki (trăng), kumo (mây), sora (bầu trời), hikari (ánh sáng) vv… -Jo-kotoba (tự từ hay chữ giáo đầu): Câu chữ không có hình thức nhất định nhưng ít nhất là bảy âm tiết, cũng đóng vai trò dẫn lối hay tu sức cho chữ đến sau. Tuy không dính liền với ý của bài thơ nhưng được dùng như một tỉ dụ hay một tương trưng.Khi muốn dịch ra văn nói phải gia công khéo léo. Ví dụ: Kazefukeba otsu shuranami (Gió nổi ngoài khơi sóng bạc đầu) nối liền với chữ tatsu (nổi lên, dựng lên) có thể làm người đọc vừa liên tưởng đến “sóng bạc nổi lên”, vừa liên tưởng đến “ngọn núi Tatsutayama” mà người tác giả nghĩ đến đang vượt qua trên đường đi. -Kakekotoba (Quải Từ, chữ mắc lên, treo lên) lợi dụng khả năng đồng âm dị nghĩa để dùng một chữ mà nói được hai ý, tạo nên một hình ảnh phức tạp. Ví dụ: Aki vừa có nghĩa là “mùa thu” vừa có nghĩa là “ngán”. Kari vừa có nghĩa là “ đi săn”, nhưng còn có các nghĩa khác như “chim nhạn”, “vay mượn”, “giả tạo”, Nami vừa có nghĩa là “sóng” vừa là “không còn gì”. Trong câu thơ; Hitomo kusa mo karenu (Cỏ héo khô, người lãng xa) Thì chữ karenu có hai nghĩa “đã lãng xa” và “đã khô héo” nên chỉ dùng một động từ kareru (khô héo) mà áp dụng được cho cả hai sự vật tức người ta (hitome) và cỏ cây (kusa). -Engo (Duyên ngữ, chữ gợi liên tưởng) Chữ có một liên hệ gần gũi với một chữ khác được dùng trong câu thơ, tạo được hình ảnh trùng phức. Ví dụ: Tsuyu (giọt sương) liên hệ gần gũi với tama (ngọc), namida (lệ), oku (đặt để), hiru (khô), kiyu (tan biến). Ashi (lau sậy) làm liên tưởng tới fushi (đốt cây), yo (lóng cây). Amanohashidate, cầu bắt ngang trời, một gối thơ quan trọng -Utamakura (Ca chẩm, địa danh làm gối cho thơ) tức là những nơi danh lam thắng cảnh hay có sự tích hay và được đưa nhiều lần vào thơ. Từ sau đời Heian, các Utamakura được dùng làm đề tài để ngâm vịnh (daiei = đề vịnh). Ví dụ: Núi Sue no Matsuyama (Mạt Tùng Sơn) thuộc Matsushima (Tùng Đảo) gần Sendai bây giờ đã được Kiyohara Motosuke (Thanh Nguyên, Nguyên Phụ, bố bà Sei, Shônagon, 908-990) vịnh để nói lên lời thề trung thành trong tình yêu: Cho dù sóng phủ Núi Tùng, Không vì duyên mới, đem lòng phụ em (Bài Chigiri kinakatami ni, trong Goshuui-shuu) Một ví dụ khác: bãi biển Awaji trên đảo Awaji (Đạm Lộ Đảo) nay thuộc vùng Kôbe là một nơi nổi tiếng tự thời xưa. Minamoto no Kanemasa, một thi nhân thế kỷ 12 không ai rõ hành tung, có làm một bài thơ vịnh cảnh mùa đông cô tịch của một người ra trấn thủ cửa quan Suma : Awaji lũ chim trời, Bao đêm đánh thức giấc người biên cương. (Bài Awajishima, trong Kinkai-shuu) Ngoài ra Amanohashidate (Thiên Kiều Lập) hay “Cầu Bắc Ngang Trời” ở tỉnh Miyazu bây giờ cũng là một “gối thơ” nổi tiếng. Đó là dải đất hẹp bắc qua một vịnh biển, một trong ba cảnh đẹp nhất nước Nhật. Bà Koshikibu (Tiểu thức bộ), nội thị trong cung và con gái của nhà thơ, nhà văn viết nhật ký tài danh Izumi Shikibu (Hoà Tuyền thức bộ) đã nói lên lòng nhớ mẹ, lúc đó đang sống ở vùng đó (Tango), muốn đến phải vượt núi Ôe và cánh đồng Ikuno. Đặc điểm bài thơ nầy có chữ iku, vừa xuất hiện trong địa danh Ikuno vừa có nghĩa là “đi đến”, và fumi vừa có nghĩa là “bước, dẫm lên”, vừa có nghĩa là “thư tín”: Đường xa, còn vượt Ôe, Cầu Trời chưa tới, thư về cũng không. (Bài Ôeyama trong Kinyô-shuu) Các tác phẩm nổi tiếng như Man.yô-shuu hay Truyện Genji là suối nguồn bất tận của các utamakura. Những ngọn Kaguyama, ao Iwashiro, bến Nikita, bãi Awaji của Manyô và các bãi biển Suma, Akashi, núi non Uji, Kitayama…của Genji đã trở thành chữ thông dụng và hàm súc (nói ít hiểu nhiều) của thi ca Nhật Bản. TẠM KẾT
Sau khi xác định vị trí ưu việt của mình dưới thời Heian, thơ quốc âm waka sẽ bước vào giai đoạn hoàng kim dưới thời Kamakura và Muromachi khi quá trình Nhật hóa thơ chữ Hán hoàn tất. CHÚ GIẢI
[1] Kokin Waka rokujô (Cổ Kim hòa ca lục thiếp) tương truyền do Ki no Tsurayuki, con gái ông và một số công khanh biên soạn, là thi tập ra đời cuối thế kỷ thứ 10 ghi chép thơ waka từ thời Man.yôshuu cho đến lúc đó. Tập gom góp ước chừng 4500 bài xếp theo 25 chủ đề (thiên tượng, địa nghi, nhân sự, thảo trùng mộc điểu…), viết ra làm sách tham khảo cho người muốn sáng tác waka. [2] Kazoe-uta là loại thơ trong đó có những con số đếm được, ví dụ nói “một cánh chim, hai cánh chim”. Chúng tôi nghĩ loại này bắt nguồn từ thơ Trung Quốc. Ví dụ ta từng thấy những câu như “Nhị thập tứ kiều minh nguyệt dạ” hay “Thập lý oanh đề lục ánh hồng” trong thơ Đỗ Mục đời Đường, người được gọi là “nhà thơ toán học” (toán bác sĩ). [3] Nazurae-uta vịnh những sự vật giống nhau, cùng một loại, tiêu chuẩn. [4] Lê Ngọc Thảo dịch là “nói bóng”(Ienaga, sđd). [5] Mitate (kiến lập) thủ pháp trong waka, haiku và kabuki biểu hiện một sự vật qua hình ảnh một sự vật khác. Được xem như một phương pháp hoán vị. Còn có mitate-e (kiến lập hội) là loại tranh dùng phương pháp hoán vị nầy, ví dụ vẽ Thúy Kiều là người đời Minh mà ăn mặc theo kiểu cô gái tân thời đời nay. [6] Gijinhô (Nghĩ nhân pháp) tức là nhân cách hóa [7] Jôtômon-in là tên lúc bà làm thái hậu (1026). Hai con bà đều là thiên hoàng. [8] Minamoto Tsunenobu (Nguyên, Kinh Tín) (1016-1097) học rộng đa tài, chủ tể thi đàn đương thời. [9] Minamoto Toshiyori (Nguyên, Tuấn Lại, 1055-1129) con của Tsunenobu (Kinh Tín) và cha của Shun-e (Tuấn Huệ) là nhà thơ cách tân trong đề tài lẫn hình thức biểu hiện. Từng tranh luận với phái bảo thủ của Fujiwara Mototoshi (Đằng Nguyên Cơ Tuấn). Để lại tập thi luận Toshiyori Zuinô (Tuấn Lại tủy não) và tập thơ Sanboku Kika-shuu (Tán mộc kỳ ca tập). [10] Sanboku (Tán mộc) lấy chữ trong sách Trang Tử, chương Nhân Gian Thế, ý nói loại cây vô dụng, hàm ý khiêm tốn là người không được việc gì. [11] Trong uta-awase (ca hợp), các nhà thơ ngồi dàn ra hai phía tả hữu và lần lượt ngâm thơ mình để được chấm cao hạ. Giám khảo gọi là hanja (phán giả), lời bình của người ấy gọi là hanji (phán từ). Thường được các bậc tôn quí như thái thượng hoàng, thiên hoàng hay hoàng hậu chủ tọa. Uta-awase có sớm nhất có lẽ là Zaiminbu-kyôke Uta-awase (Tại Dân Bộ Khanh Gia Ca Hợp) năm Ninna (Nhân Hòa) nguyên niên ( 885). [12] Pháp hoàng (Hô-Ô) tức Thái Thượng Hoàng nhưng sau khi nhường ngôi đã đi tu. [13] Fujiwara Kiyosuke (Đằng Nguyên Thanh Phụ, 1104-1177) con của Akisuke (Hiển Phụ), giỏi về lý luận thơ. Tác phẩm có Ôgishô (Áo nghĩa sao) và Fukuro-no- Sôshi (Đại thảo tử). [14] Uchida dẫn bởi Hayashi Tatsuya, Noyama Kashô biên, Kokubungaku nyuumon (Nhập môn quốc văn học), Hôsô Daigaku,Tôkyô, 2004. [15] Hototogisu (chim cuốc) xuất hiện trong thơ Nhật dưới nhiều biến thể chữ Hán: quách công, tử qui, đỗ quyên, bất như quy… [16] Hayashi Tatsuya và Noyama Kashô (op.cit.) |
|
#10
|
||||||||
|
||||||||
|
Chương 9 : Nguyễn Nam TrânTân Cổ Kim Hòa Ca Tập (Shin Kokin Waka-shuu) Thi tuyển đánh dấu thời hoàng kim của thơ quốc âm ![]() TIẾT I
TIẾT I : PHONG CÁCH MỚI CỦA THƠ WAKA : A) Waka (Hòa Ca) từ thời Kamakura (1185-1333): Phong cách waka mới do Fujiwara no Toshinari (còn đọc là Shunzei, Đằng Nguyên, Tuấn Thành) dấy lên cuối thời Hei-an đã được con trai ông là Fujiwara no Sada.ie [1](hay Teika, Đằng Nguyên, Định Gia) và những thi nhân waka theo mới như Fujiwara Ietaka[2] (Đằng Nguyên, Gia Long) thừa kế và tiếp nối. Thiên hoàng (thứ 82) Go-toba[3] (Hậu Điểu Vũ, trị vì từ 1183 đến 1198), tượng trưng cho thế lực đối kháng với chính quyền mạc phủ ở Kamakura, đã muốn chấn hưng waka ở triều đình Kyôto như một tượng trưng cho văn hóa truyền thống của lớp quí tộc.Các hội bình thơ (uta-awase) như hội Hyakushu Waka (Bách Thủ Hòa Ca = Một Trăm Bài) mở năm 1200 hay Sengohyakuban (Thiên ngũ bách ban ca hợp = Hội thơ một nghìn năm trăm bài) năm 1203 là hội thơ lớn chưa từng có đã được tổ chức và chính thiên hoàng đứng ra tham dự tích cực như một nhà thơ. Các giám khảo (hanja = phán giả) là bọn các ông Shunzei mười người. Cùng với Rokuhyakuban Uta-awase (Lục Bách Ban Ca Hợp), hội thơ nói trên là cơ sở tư liệu quan trọng để biên soạn Shin Kokin Waka-shuu. B) Shin kokin waka-shuu (Tân cổ kim hòa ca tập): Tập thơ nầy do năm soạn giả Minamoto no Michimoto (Nguyên, Thông Cụ), Fujiwara no Ari-ie (Đằng Nguyên, Hữu Gia), Fujiwara no Sadaie (Đằng Nguyên, Định Gia), Fujiwarano Ietaka (Đằng Nguyên, Gia Long), Fujiwara no Masatsune[4] (Đằng Nguyên, Nhã Kinh) và tăng Jakuren[5] (Tịch Liên, đang soạn nữa chừng thì mất) làm xong năm 1205. Năm 1201, trong cung đã lập ra cơ quan phụ trách về thơ gọi là Wakadokoro[6] (Hòa ca sở) và tháng 11 năm ấy, có chiếu của thái thượng hoàng Gotoba-in ra lệnh cho nhóm sáu người các ông Fujiwara Sada-ie soạn Shin Kokin Waka-shuu. Chính tay Gotoba-in chọn lọc lại những bài đã được sáu ông đó tuyển lựa, chỉ thị cho họ phải thêm bớt như thế nào[7]. Do đó có thể nói là Gotoba-in (có tên trong Tam Thập Lục Ca Tiên) đã đóng vai quan trọng của người giám sát và quyết định trong việc tuyển khảo. Shin-kokin waka-shuu là tập thi tuyển waka cuối cùng trong “các tập của tám đời” (Bát Đại Tập) đã nói đến ở trên. Tập Shin-kokin waka-shuu gồm 20 quyển, có chừng 2000 bài, trong đó thơ của tăng Saigyô (Tây Hành) là nhiều hơn cả (94 bài), sau đó đến thái thượng hoàng Gotoba-in, các soạn giả rồi đến các ca nhân nổi tiếng khác như tăng Ji-en [8](Từ Viên), Fujiwara no Ryôkei [9](Đằng Nguyên Lương Kinh), Fujiwara no Shunzei (Đằng Nguyên, Tuấn Thành) , công chúa Shokushi [10](Thức Tử nội thân vương), bà con gái ông Shunzei [11](Shunzeikyô no Musume), bà Kunai Kyô[12] (Cung Nội Khanh) vv…toàn là thi sĩ tiêu biểu của thời ấy.Không còn thấy những bài thơ vô danh như trong Kokin và số lượng thơ phái nữ đã tăng nhiều. Về nội dung, tập chia thành bốn mùa xuân (thượng, hạ), hạ, thu (thượng, hạ) , đông, (khánh) hạ, ai thương, biệt ly, lữ hành, luyến ái (1 đến 5) , tạp (thượng, trung, hạ) còn thêm tế thần và thích giáo[13]. Nó cũng có hai bài tựa, một bài bằng Hán văn (Manajo) do Fujiwarano Chikatsune diễn đạt ý của thái thượng hoàng, còn bài tựa bằng Nhật ngữ (Kanajo) là do Fujiwara no Yoshitsune viết.Từ khi mạc phủ Kamakura được thiết lập, việc làm hàng trăm bài theo một tựa đề đưa ra đã trở thành chuyện phổ thông và lối sáng tác thơ bằng cách dựa vào các căn cứ đã có (honsetsu = bản thuyết) như những bài waka nổi tiếng làm ra trước đó (honka = bản ca) hay từ sự tích các truyện kể và từ thơ chữ Hán, đã thông dụng. Trong bài tựa chữ Hán, thái thượng hoàng Go-Toba đã biện minh cho sự can thiệp của cá nhân ông vào công trình của 5 người bầy tôi, như sau: “Thơ 5 người biên tập dựa trên những tiêu chuẩn khác nhau, do đó, ta phải tự mình soạn lại lần nữa. Ta không cho đăng bài nào có trong 7 tập soạn theo sắc chiếu từ Kokin waka-shuu trở đi kể cả những bài chép lại từ Man.yô-shuu Tuy vậy những bài thơ (hiện đại) hay nhưng bị bỏ sót có thể hãy còn nhiều. Thơ thu thập được có chừng 2000 bài, biên thành 20 quyển. Xưa kia ta ở ngôi thiên hoàng, nhưng nay đã làm thái thượng hoàng, sống trong động phủ. Đương kim thiên hoàng, con ta, gặp thời thịnh trị, thiên hạ thái bình. Do đó ta mới dốc lòng nghiên cứu và biên tập waka, mong sao để lại cho đời. Man.yô-shuu là nguồn cội của waka nhưng dù sao cũng là thơ đời xưa nên không biết đã được soạn ra theo cách nào.Thời thiên hoàng Daigo, ngài đã ra lệnh cho bọn 5 người biên soạn Kokin waka-shuu, đến lượt thiên hoàng Murakami lại ra lệnh 5 người khác soạn Gosen-shuu. Sau đó, các tập thơ soạn theo sắc chiếu như Shuui-shuu, Go-shuu-ishuu, Kin.yô-shuu, Shika-shuu, Senzai-shuu đều là công trình của một nhà biên soạn cho nên việc bỏ quên để sót tất phải có. Nhân thế, theo tiền lệ “nhiều người cùng soạn” của Kokin waka-shuu và Gosen-shuu, ta mới quyết định dùng 5 người vào việc biên tập. Còn nói về chuyện ta thân đứng ra soạn lại một lần nữa là điều đã có tiền lệ bên Trung Quốc nhưng mới xảy ra lần đầu ở Nhật.Ngoài ra, việc đăng thơ của người ra lệnh thì xưa cũng có nhưng chỉ dưới mươi bài.Trong tập thơ nầy thơ ta có những trên 30 bài, đó cũng do trong số những tác phẩm vụng về của ta, ta rối trí không biết lấy hay bỏ bài nào. Cái nghiệp ta gây ra bởi lòng chấp nê đối với waka là như thế nên đành để hậu thế phê phán”. (Trích Bài tựa viết xong năm Genkyuu thứ hai, 1205) Sau đây xin trích dẫn một số bài thơ trong tập Shin kokin waka-shuu nầy, cùng với Man.yô-shuu và Kokin waka-shuu là 3 tuyển tập waka lớn của Nhật Bản: Trải tuyết sương, Yoshino, Núi đồng lại thấy cố đô xuân về. (Thơ Xuân, tập thượng 1, bài Mi Yoshino wa, Fujiwara no Yoshitsune) Gió đưa hương, tỉnh giấc hoa, Tay áo ướm gối, biết là mộng xuân. (Thơ Xuân, tập hạ 1, bài Kaze kayo-u, Shunzeikyô no Musume) Nhớ xưa am cỏ mưa đêm, Buồn nghe cuốc núi, đẫm thêm lệ sầu. (Thơ Hạ 201. Bài Mukashi omo.u, Fujiwara no Shunzei) Trong tập Shin Kokin nầy, các kỹ thuật như cách ngắt câu ở câu một hay câu ba, cách sử dụng danh từ hay đại danh từ ở cuối câu để “hãm” (tome) câu lại (còn gọi là taigendome = thể ngôn chỉ) trong thơ waka (và ảnh hưởng đến haiku về sau nữa) được dùng rất nhiều, phát huy được khả năng của ngôn ngữ để biểu hiện hình ảnh và tình cảm mà tác giả muốn gợi lên. Chẳng hạn trường hợp kỹ thuật cơ bản của waka là honkadori (bản ca thủ) tức là “không nhắc tới vật mình muốn nói trong lời thơ mà vẫn làm cho người ta hiểu mình muốn nói về nó” nhờ những điển tích có trong thơ xưa. Một ví dụ: vì đã có bài thơ nổi tiếng coi như thơ gốc (honka) của thi hào Ietaka tả cảnh ánh trăng chiếu trên bãi biển Shiga-no-ura rồi thì người đời sau, khi làm thơ, chỉ cần “chộp” (tori) điển cố “Shiga-no-ura” là người đọc liên tưởng được đến vầng trăng sáng đêm nào. Cũng vậy Jakuren đã cho ta ví dụ về bút pháp đó khi ông dựa vào một honka của Tsurayuki để viết một bài ca mới: Nếu Tsurayuki trong Kokin-shuu (905? 914?) có câu: Mỗi năm dòng Tatsuta, Đưa bao xác lá hồng xa núi rừng, Mùa thu có xuống cửa sông? thì Jakuren trong Shinkokin-shuu (1205) đã viết: Xuân đi, nào có hay miền ? Sông Uji những con thuyền củi khô Trôi về xuôi giữa sương mờ. Ngoài việc Shin Kokin có nhiều ngắt nghỉ nhỏ (tiểu hưu chỉ = shôkyuushi) giữa bài (để mô tả được nhiều hơn) và có số lượng honkadori khá cao làm (để có nội dung súc tích hơn) khiến cho nó khác với Kokin, ta còn có thể bảo thơ của Shin Kokin thiên về tượng trưng và đi theo con đường “monogatari” nghĩa là mang chủ đề liên quan đến những tình tiết trong Truyện Ise hay Truyện Genji. Nói cách khác, tuy nó có hình thức mới nhưng nội dung chất chứa nhiều hoài niệm về xã hội vương triều, như muốn từ khước cái xô bồ, phiền toái của xã hội đương thời. Thơ trong Shin Kokin thiên về tượng trưng thì có thể trích dẫn bài thơ sau đây của thái thượng hoàng Go-Toba. Khói bay trên đống củi chiều, Nghẹn ngào nhớ lửa xưa thiêu xác người. (Bài Omoi dezuru no. Shin Kokin, quyển 8, Go-toba –in) Sở dĩ bài thơ đạt được một trình độ tương trưng bởi vì hầu như mỗi chữ trong bài để có hai nghĩa. Ori có nghĩa là “ lúc, cơ hội » lại có nghĩa là “bẻ (củi)”. Shiba vừa có nghĩa là “ củi khô” lại có nghĩa là “thường thường”. Yukemuri là “khói chiều », “khói thổi cơm chiều ” và “khói thiêu xác” nữa. Musebu nghĩa là “nghẹn” nhưng có thể là “nghẹn khói” hay “nghẹn nước mắt”. Wasuregatami được hiểu là “khó quên” nhưng katami trong chữ ghép wasuregatami còn có ý nói “di vật của người chết” . Nếu không được một người Nhật như nhà nghiên cứu Katô Shuuichi giảng thì độc giả ngoại quốc chúng ta khó lòng thưởng thức được bài thơ nầy. Ngoài ra chi tiết ghi trong sách Gotoba-in gokuden (Hậu Điểu Vũ Viện ngự khẩu truyền) “Truyện nghe nói về ngài thái thượng hoàng Goto-ba” cho biết ông viết bài nầy sau khi đảo chính thất bại , đã chứng kiến bao nhiêu cái chết chung quanh ông và bị đày ra đảo Oki hoang vu. Đó là những chi tiết quan trọng để hiểu tâm sự tác giả. Sau đây là một bài thơ của Teika, không theo honkadori nào cả, chỉ mượn chữ yume no ukihashi trong Genji. Ukihashi có nghĩa là “cầu nổi” thường là chiếc cầu làm bằng thuyền ghép vào. Tuy nhiên, nó cũng có nghĩa “nỗi buồn của chàng Kaoru buồn nhớ nàng Ukihashi (Phù Kiều) sau khi nàng xuống tóc đi tu”, quang cảnh thấy trong chương cuối cùng của truyện Genji. Ở đây còn chỉ “chiếc cầu ghép mong manh có thể làm mình ngã giữa chiêm bao”. Teika nửa đêm tỉnh mộng nhìn ra ngoài trời thấy mây giăng ngang trời đang bỏ đỉnh núi bay đi. Tạm dịch: Mây thành, đỉnh núi chia đôi, Đêm xuân cầu nổi mộng trôi phương nào. (Bài Haru no yo no yume, Shin Kokin, quyển 1, Fujiwara no Teika) Sada-ie (Teika) người đứng đầu nhóm các nhà biên soạn thi tập nầy, đi xa hơn nữa trong quan niệm văn học u huyền (yuugen) mà cha của ông (Shunzei) đã đề xướng. Ông đi tìm vẻ yêu kiều diễm lệ (yô-en = yêu diễm) và chủ trương thi ca trước đó phải để vẻ đẹp lắng đọng thấm thía tận đáy lòng mình rồi sau đó tìm cách đem được tấm lòng đó vào thơ (đó là phong cách ushin = hữu tâm). Ông đã để lại rất nhiều bài waka mà đặc điểm là cái diễm lệ và huyền ảo của chúng. Đây là tập thơ waka đầu tiên kể từ Kokin đã đưa quan niệm thẩm mỹ của vương triều lên đỉnh cao và ảnh hưởng đến đời sau. C) Saigyô (Tây Hành, 1118-90): Tăng Saigyô, người có thơ đăng nhiều nhất trong Shin Kokin (94 bài), tên thật là Satô Norikiyo, đi tu lúc còn trẻ (1140) và sau đó, du hành khắp nước Nhật.Tập Sanka-shuu (Sơn gia tập) của ông không biết rõ soạn vào thời điểm nào nhưng có đến 1550 bài và một số đã được trích đăng trong Shin Kokin. Thơ ông không trau chuốt như thơ Teika nhưng đơn sơ và trực tiếp, đầy lòng yêu thiên nhiên, tự nhiên tự tại. Đối với ông, việc làm thơ còn có một ý nghĩa tôn giáo. Ông xem việc làm một bài thơ như khắc một bức tượng Phật. Cuộc đời ngắn ngũi làm sao, Sống nghìn năm, thoáng chiêm bao , khác gì! (Bài Hakanashina. Sankashuu tập thứ ba, tạp thi, Saigyô) Nếu lòng trăm mối ngổn ngang, Thì ta cứ để tuôn tràn, đã sao! (Bài Ukaretazuru, Sanka-shuu, tập trung, tạp thi, Saigyô) Saigyô cũng làm thơ theo những chủ đề đương thời nghĩa là bốn mùa, hoa anh đào, chim chóc, gió, trăng…như quí tộc thời Heian nhưng ông đem đến cho chúng một giá trị có tính cách tượng trưng hơn họ. Sau đây là bài thơ làm ở nhà trên núi vào một buổi chiều thu khi ông thấy chim shigi (sandpiper), một loại chim đậu trên cát ướt, bay vụt khỏi mặt đầm. Cái đầm đó ở tỉnh Kanagawa nay còn mang tên Shigitatsu-sawa tức “đầm chim shigi bay vụt lên” để nhớ đến ông: “Vô tâm nào biết chi sầu, Cũng nghe thấm thía tình thu chiều tàn, Khi cánh chim vút mặt đầm. (Bài Kokoro naki, quyển 4, phần Thu (thượng), thơ Saigyô) Cái khác của ông đối với những nhà thơ vương triều là ông đi nhiều trong khi họ ít khi ra khỏi kinh đô và chỉ dựa vào các mẫu uta-makura cố định. Thế nhưng ông cũng không có đề tài mới mẻ gì hơn họ, chứng tỏ ông vẫn trung thành với văn hóa vũ sĩ là giai cấp gốc gác của ông: Ước sao chết giữa xuân sang, Dưới vòm đào thắm, trăng vàng chiếu soi. (Bài Negawaku wa, Sanka-shuu, tập trung, Tạp thi, Saigyô) Ông muốn chết giữa mùa xuân như đức Phật Thích Ca và người ta bảo hình như ông đã được toại nguyên. Đời sau biết đến ông như một nhà thơ du hành không ngừng nghỉ và đã đem ông vào các bản tuồng hát và thi văn như một nhân vật thần thoại. Bashô xem ông như mẫu mực, người hướng dẫn tinh thần của mình. D) Hyakunin isshu[14] (Bách nhân nhất thủ): Tập thơ này được nhiều người cho là công trình biên soạn của Fujiwara Sadaie (Định Gia) vào khoảng năm 1235 và thơ dựa trên Hyakunin Shuuka (Bách nhân tú ca) tức thơ hay của trăm nhà mà ông đã chọn để viết trên giấy họa để trang trí biệt thự ở dưới chân núi Ogura nên nó còn có tên là Ogura Hyakunin Isshu (Tiểu Thương bách nhân nhất thủ) nữa. Hyakunin Isshu (quen gọi tắt là Hyakuninshu) chọn của 100 tác giả mỗi người một bài thơ (từ thiên hoàng Tenji (Thiên Trí) cho đến Juntoku-in (Thuận Đức Viện, tức cựu thiên hoàng (thứ 84) Juntoku, trị vì 1210-1221) và lấy những bài đó ở các thi tập soạn theo sắc chiếu, tính từ Kokin-shuu (Cổ kim tập, 24 bài) cho đến Shoku-Gosen-shuu (Tục-Hậu tuyển tập, 2 bài). Ông không trích thơ các thiên hoàng mà thôi vì thơ trong tập phần lớn là của 36 thi hào (ca tiên) với như tên tuổi lớn như Kakinomoto no Hitomaro, Ki no Tsurayuki, Otomo no Yakamochi, Yamabe no Akahito, Ki no Tomonori, Kiyohara no Motosuke vv…Những bài thơ trong tập sách nầy (43 bài về tình yêu và 16 bài về mùa thu) đều đặc sắc nên đã được chú thích cặn kẽ, truyền bá rộng rãi về sau dưới mọi hình thức nghệ thuật kể cả trò chơi của thường dân. Chẳng hạn vào đầu thời Edo, có trò chơi Utagaruta (Ca gia lưu đa) tức trò chơi “ai nhanh tay” bốc những quân bài ( karuta = carta, gốc tiếng Bồ Đào Nha ) có in câu dưới của bài thơ trong Hyakunin Isshu là thắng cuộc. Khi giám khảo ngâm câu trên trong yomifuda tức quân bài để đọc thì phải biết mà bốc quân bài có ghi câu dưới trong torifuda tức là quân để bốc. Đây là một trò chơi tao nhã rất phổ biến trong quần chúng vào dịp Tết nhất cho đến tận giờ. Xin thoát dịch 15 bài [15] tuyển chọn trong số 100 bài ấy: 1- Bài Aki no ta no ( số 1) của thiên hoàng Tenji, đặt mình vào cảnh ngộ của nhà nông qua đêm trong vựa chứa lúa đặt tạm giữa ruộng vào vụ gặt để vịnh kiếp sống gian khổ của họ, khi mà những giọt sương khuya thấm áo cũng có thể là nước mắt: Ruộng thu, lều tạm, mái thưa, Tay áo người để sương khuya thấm tràn. (Go-sen-shuu, quyển 6) 2-Bài Harusugite (số 2) của nữ thiên hoàng Jitô vịnh cảnh người ta đem quần áo ra phơi trắng lớp giữa màu xanh lục của ngọn núi Kaguyama khi trời mới vào hè, nói lên được sự nhạy cảm của người Nhật thời cổ trước những biến chuyển của thiên nhiên.: Xuân vừa đi hạ đến rồi, Áo ai phơi trắng núi đồi Kagu. (Shin Kokin-shuu, quyển 3) 3-Bài Ashibikino (số 3) của nhà thơ Kakinomoto no Hitomaro, một thi nhân lỗi lạc vào thời kỳ thứ hai của Man.yô, giỏi về chôka, nói về nỗi cô đơn lẻ bạn khi ngủ một mình.Tương truyền, loài chim trĩ núi (yamadori = copper pheasant) , trống mái đến đêm tẽ ra đi ngủ riêng ở núi khác. Tâm sự chờ người yêu nên khó ngủ của Hitomaru cũng giống như con chim trĩ trống . Đuôi chim buông dài thật dài, Đêm khuya dằng dặc, nhớ ai khôn nằm. (Shuui-shuu) 4-Bài Okuyama ni (số 5) của Sarumaru-dayu vịnh cảnh nai đực đi tìm nai cái, gọi bạn giữa rừng thu lá đỏ. Bài này có thuyết cho là tác phẩm đã gợi hứng cho Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư: Núi sâu, rẽ lối lá phong, Nai kêu chi để chạnh lòng sầu thu. ( Kokin-shuu, quyển 4) 5- Bài Kasasagi no (số 6) của quan tham nghị Ôtomo no Yakamochi khi ngắm trời đêm, nhìn thấy giá băng sáng mùa đông đã đóng trên bậc thang lên điện trong cung mà ông ví với cầu ô thước đưa Khiên Ngưu đến gặp Chức Nữ. Ông biết đêm đã hầu tàn và ước mơ gặp gỡ trở thành vô vọng. Sương đông đã trắng lối sang, Đêm tàn, ô thước lỡ làng cầu qua. (Shin Kokin-shuu) 6-Bài Ama no hara ( số 7) của học tăng Abe no Nakamaro, người tương truyền có đến Việt Nam, làm quan thứ sử Giao Châu dưới đời nhà Đường, nhìn vầng trăng trên trời Trung Quốc nhớ về vầng trăng quê hương núi Mikasa nước Nhật trước ngày lên đường: Trời cao, trăng mọc xa xa, Phải chăng trăng núi quê nhà xuân xưa? (Shuu-i-shuu, quyển 10) 7-Bài Hana no iro wa (số 9) của trang tuyệt thế Nhật Bản Ono no Komachi, một trong Lục Ca Tiên, nhìn hoa anh đào héo úa mà buồn cho nhan sắc phai tàn: Màu hoa phai, nhan sắc tàn, Cảm thương thân thế, trông hàng mưa sa. (Kokin-shuu, quyển 2) 8-Bài Koreya kono (số 10) của nhà thơ mù Semimaru khi đi ngang qua cửa ải Afuzaka đầy người qua kẻ lại mà xót thương cho kiếp người cô đơn và trôi nổi: Trên ải kẻ lại người qua, Dù quen dù lạ cũng là chia tay. (Gosen-shuu, quyển 15) 9-Bài Watano hara (số 11) của quan tham nghị Ono no Takamura, phó sứ trong sứ bộ qua nhà Đường, vì tranh chấp với chánh sứ Fujiwara no Tsunetsugu mà bị tội lưu ra ngoài hoang đảo Oki giữa biển Nhật Bản, một vùng khí hậu khắc nghiệt. Giữa mùa đông lạnh, cô đơn, chèo thuyền loanh quanh chùm đảo nhỏ, đi mãi mà chưa đến nơi. Ông nhớ về mẹ già và vợ con còn ở kinh đô: Chèo quanh biển, chưa đến nơi, Nhắn ông câu hỏi thăm người kinh đô. (Kokin-shuu, quyển 9) 10-Bài Ama no kaze (số 12) của tăng nhân Sôjô Henjô, tục danh là Yoshimine Munesada. Ông cảm động vì vẻ đẹp của các nữ vũ công trông cung đình nên ví họ với những nàng tiên nữ. Ông nhờ gió thổi đem mây chắn lối họ về thiên cung để giữ thêm ít lâu cái vẻ đẹp ấy cho trần gian: Gió ơi hãy khóa lối mây, Để cho tiên nữ ở đây không về. (Kokin-shuu) 11-Bài Naniwa-gata (số 19) của Ise, nhà thơ nữ, sống khoảng năm 900. Bà vốn con gái quan đầu tỉnh vùng Ise (Ise no Kami) một trong 36 ca tiên ngang hàng với Ki no Tsurayuki, mang nỗi niềm tuyệt vọng, gửi tặng một người đàn ông bạc tình, hận vì người yêu với mình như hai đốt một cây lau trên bãi Naniwa, tuy gần nhau nhưng không bao giờ tìm gặp được nhau: Hai đốt lau ngắn mà lìa, Như người trên bãi đã chia ngấn lòng. (Shin-Kokin-shuu, quyển 10) 12-Bài Akenureba (số 52) của Fujiwarano Michinobu tức Ason, một nhà thơ tài hoa nhưng mệnh yểu. Trong bài nầy, ông nói đến cái nỗi khổ tâm phải chia tay (chia áo = kinuginu, tức mặc lại quần áo) với người yêu khi trời sáng để ra về, dù biết rằng đêm đến sẽ lại gặp nhau: Biết đến đêm lại gặp nhau, Sáng nay chia áo vẫn sầu khôn nguôi (Go-shuui-shuu) 13-Bài Taki no oto wa (số 55) của quan tham nghị cấp cao Fujiwara no Kintô, nói lên lòng hoài cựu khi nhìn cái thác nước xây thời thiên hoàng Saga nay đã khô cạn. Kintô (Công Nhiệm) là nhà thơ được xưng tụng là có đến Sanshuu no Sai (tài lớn ba bồ) tức là tài đàn sáo, tài làm thơ waka và tài làm thơ chữ Hán: Tiếng nước đổ vắng lâu rồi, Còn tên của thác để đời mà thôi . (Shuui-shuu) 14-Bài Hototogisu (số 81) của quan Tả Đại Thần Gotokudaiji nói lên niềm vui khi nghe tiếng cuốc đầu tiên gọi vào hè: Nghe tiếng cuốc gọi vào hè, Nhìn theo chỉ thấy trăng khoe ánh rằm. (Senzai-shuu, quyển 3) 15-Bài Yono naka yo (bài 83) của Toshinari, chức đại phu trong cung hoàng thái hậu, ý nói muốn lánh đời mà không sao lánh được khi nghe tiếng nai kêu buồn trong núi sâu (vì ở trong núi đời cũng buồn không kém): Dẫu lánh đời biết đi đâu, Vì nghe trong núi nai sầu kêu thương. (Senzai-shuu, quyển 17) Có thể nói 97% thơ trong tập này do thi nhân thời Heian viết ra và khi Teika chọn lọc, ông đã chọn theo tiêu chuẩn của mình nên nó mới được thống nhất. Tiêu chuẩn đó là sự lưu loát và diễm lệ của thể thơ gọi là ushin (hữu tâm) nghĩa là sự thấu hiểu đối tượng trong thái độ sáng tác, khác với thể thơ yuugen (u huyền) thần bí của Shunzei, cha ông. Tập nầy là sách gối đầu giường của trường phái Nijô, tức một trong ba trường thơ mà con cháu ông lập nên. Nó đã được các bậc thầy trong làng phê bình đời sau như Sôgi (Tông Kỳ), Yuusai (U Trai), Teitoku (Trinh Đức), Azuma-maro (Xuân Mãn), Mabuchi (Chân Uyên), Norinaga (Tuyên Trường) giảng nghĩa và chú thích, trở thành sách nhập môn cho người nghiên cứu văn học Nhật Bản. E) Kinkai Waka-shuu (Kim Hòe Hòa Ca Tập, 1215): Tập thơ do Fujiwarano Sada.ie (Teika, 1162-1241) gồm thu khoảng 660 đến 700 bài (con số không nhất định vì có nhiều dị bản) của tướng quân đời thứ ba mạc phủ Kamakura, Minamoto no Sanetomo[16] (Nguyên, Thực Triều, 1192-1219), một nhà thơ có định mệnh bi đát. Tức vị Tướng Quân từ lúc mới lên 11 tuổi sau khi anh ông là Yoriie bị ám sát. Nhân họ ngoại Hôjô[17] (Bắc Điều) mượn tiếng giữ chức shikken (chấp quyền) dành mất quyền bính, ông rút lui khỏi triều chính và chỉ hoạt động trong lãnh vực văn hóa. Ông học tập thi pháp từ tập thi luận Kindai shuuka (Cận đại tú ca) của Teika cho nên dù ở Kamakura (vùng Kantô) xa xôi đối với kinh đô thi ca là Kyôto và bị ám sát chết lúc mới 28 tuổi bởi người cháu (con của Yoriie), ông đã để lại những bài thơ rất xuất sắc có cả phong cách diễm lệ, huyền ảo của Shin Kokin và hùng tráng của Man.yô-shuu.. Tăng Jien (Từ Viên) trong tập bình luận lịch sử Gukanshô rất nghiêm khắc đối với ông, cho ông đã là một nhà lãnh đạo lại quá mê thơ để thiệt thân và đến nỗi không còn để lại dấu vết trong lịch sử. Tuy vậy, tên ông hãy còn mãi trong văn học sử, được mọi người chú ý trong khi tên tuổi Jien chỉ được một dúm người nghiên cứu lịch sử biết đến.. Kinkai là tập thơ riêng của Sanetomo sau nầy được học giả quốc học thời Edo là Kamo no Mabuchi (Hạ Mậu, Chân Uyên, 1697-1769) và các nhà thơ lớn cận kim như Masuoka Shiki (Chính Cương, Tử Quy, 1867-1902) và Saitô Mokichi (Trai Đằng, Mậu Cát, 1882-1953) hết sức tán dương. Họ xem ông là một trong hai hay ba nhà thơ lớn thời trung cổ. Xin trình bày hai bài thơ tượng trưng cho phong cách nhà thơ Sanetomo: Giây tím từ kết tóc xanh, Bao giờ ta nghĩ cạn tình em đâu! (Bài Yuisomete, Kinkai-shuu, Tạp thi, tập hạ, Minamoto no Sanetomo) Cạnh bài nầy có đề thêm một câu “Có người con gái tôi âm thầm đi lại, một ngày bảo tôi nàng muốn đi đến một nơi thật xa. Thế rồi…”. Dĩ nhiên chữ “kết tóc” thời nầy được các thi nhân dùng một lúc hai nghĩa và Tướng Quân Sanetomo tuy quyền cao chức trọng nhưng là một người cô độc và bất hạnh, luôn luôn bị họ ngoại Hôjô chèn ép.Bài thơ sau đây như muốn nói lên nỗi niềm uất ức và tuyệt vọng đó: Biển khơi sóng muốn xô ghềnh, Đánh ầm, bủa khắp, rồi im tan tành. (Bài Ôumi no kiso mo, Kinkai-shuu, Tạp thi, tập hạ, Minamoto no Sanetomo). Tuy Sanetomo hâm mộ văn hóa vương triều nhưng thơ ông có cái gì khác họ và đôi khi vượt họ vì sống ở mạc phủ Kamakura, xa Kyôto, ông là một nhà thơ độc lập với xã hội cung đình.Rất tiếc là thơ ông làm trong giai đoạn 1215-1219 tức là 4 năm trước khi chết không thấy đâu cả. F) Thập Tam Đại Tập: Sau khi Shin Kokin, tập cuối cùng của Bát Đại Tập đã ra đời, thi đàn bỗng mất dần sức sống. Sada-ie (Teika) còn soạn thêm Shin Shokusen Waka-shuu (Tân sắc tuyển hòa ca tập, 1235) nhưng phong cách không nghiêng về mỹ thuật, diễm ảo như Shin Kokin mà nhẹ nhàng, giản dị đi. Phong cách của Shin Shokusen sẽ là nền tảng cho các thi tập waka soạn theo sắc chiếu của thiên hoàng về sau. Sau Sadaie (Teika), đến lượt con trai ông là Tameie (Vi Gia, 1198-1275) tiếp tục cầm đầu thi đàn và sau khi ông nầy mất, các con ông ta nối nghiệp cha ông nhưng lại đối lập với nhau, chia thành ba phái gọi là” tam gia” (sanke). Tame-uji (Vi Thị) trở thành ông tổ chi Nijô (Nhị Điều), Tamenori (Vi Giáo), ông tổ chi Kyôgoku (Kinh Cực) còn Tamesuke (Vi Tướng) thành ông tổ chi Reizei ( Lãnh Tuyền). Phái Nijô của Tame-uji được sự bảo trợ của dòng thiên hoàng Bắc Triều ở Kyôto, tục gọi là dòng Ji-myô-in (Trì Minh Viện), có khuynh hướng bảo thủ trong lối diễn tả lẫn ngữ vựng. Phái Kyôgoku, trái lại, được sự bảo trợ của dòng Daikakuji (Đại Giác Tự) của các thiên hoàng Nam Triều, đóng đô ở vùng Yoshino, thì mới mẽ, diễm lệ hơn. Thành thử sự đối kháng về quan niệm thi ca của anh em Tame-ie được lồng khung trong cuộc tranh ngôi của hai triều đình Nam Bắc[18] cuối thời Kamakura. Phái Nijô xem Shin Shokusen (Tân Sắc Tuyển) của tổ phụ là Sada-ie như khuôn vàng thước ngọc để soạn các tập thơ sắc chiếu khác, chủ trương tôn trọng truyền thống, ôn hòa tao nhã. Trong khi ấy, phái Kyôgoku đi tìm cái mới, gần gũi với thiên nhiên, thấy qua các thi tập họ soạn ra như Gyokuyô Waka-shu (Ngọc Diệp Hòa Ca Tập, 1312) và Fuuga Waka-shuu (Phong Nhã Hòa Ca Tập, 1344-49). Thi nhân quan trọng của phái Kyôgoku đã góp phần vào việc soạn Gyokuyô là Vi Kiêm (Tamekane)[19]. Trong khi đó thì Reizei tức phái thứ ba do Vi Tướng (Tamesuke) lãnh đạo, chủ trương tương đối tự do, đứng giữa hai nhà nhưng ảnh hưởng không quan trọng bằng họ. Như thế, sau Bát Đại Tập của các đời trước, qua thời Nam Bắc Triều (1337-1392) đến thời Muromachi (1333-1568), lại có thêm “các tập mười ba đời” (Thập tam đại tập) nữa. Đó là Tân Sắc tuyển (1235), Tục Hậu sắc (1251), Tục Cổ kim (1265), Tục Thập di (1278), Tân Hậu tuyển (1303), Ngọc diệp (1312), Tục Thiên tải (1320), Tục Hậu thập (1326), Phong nhã (1349), Tân Thiên tải (1359), Tân Thập di (1364), Tân Hậu Thập di (1384), Tân Tục Cổ kim (1439). Soạn giả những tập thơ nầy hầu hết là ông, con, cháu nhà Fujiwara no Sada-ie (Teika), một đại gia đình văn học. F) Waka thời Nam Bắc Triều (1337-1392) và Muromachi (1333-1568)[20] Dưới thời Nam Bắc Triều, hai nhà thơ waka phái Nijô (theo Bắc Triều) được biết tiếng nhiều nhất là Ton-a[21] (còn đọc là Tonna, Đốn A) và tăng Kenkô (Kiêm Hảo), tức tác giả tập tùy bút Tsurezuregusa (Đồ nhiên thảo). Ngoài ra còn có hoàng thân Muneyoshi[22] (Tông Lương thân vương), người đã soạn Shinyô Waka-shuu (Tân diệp hòa ca tập, 1281) nói lên tình cảm bi thương của người theo Nam Triều. Sang thời Muromachi, có thêm tập thơ soạn theo sắc chiếu cuối cùng là Shin Shoku Kokin Waka-shuu (Tân Tục Cổ kim hòa ca tập, 1439) nhưng waka không còn là địa hạt của giới quí tộc cung đình nữa. Nó đã sang tay những người viết mới: vũ sĩ, tăng lữ…trong đó nổi tiếng có nhà thơ kiêm vũ tướng Imagawa Ryôshun[23] (Kim Xuyên, Liễu Tuấn) thuộc phái Reizei và môn nhân của ông là Shôtetsu[24] (Chính Triệt). Shôtetsu chịu ảnh hưởng của Sada.ie (Teika) và chủ trương phục hưng phong cách diễm lệ, tình cảm của Shin Kokin nhưng gặp trở ngại vì cổ tục truyền thụ phong cách của thơ xưa (ở chỗ “bí truyền” tức giữ bí mật và chỉ dành cho một số người), cho nên waka dần dần ngã sang việc chú trọng hình thức và suy thoái đi. G) Các tập Karon, bình luận về Waka: Khi waka được hưng thịnh và phổ biến thì tất nhiên sẽ nẩy ra những cuộc thảo luận về phương pháp, kỹ thuật làm thơ, phẩm bình chung quanh người làm thơ cũng như những điều tâm đắc rút ra từ đó. Truyền thống bình luận thơ hay karon (ca luận) của đời trước được nối tiếp và chung đúc trong các tác phẩm phê bình thơ. Đáng để ý nhất là Mumyôshô[25] (Vô danh sao) của Kamo no Chômei (Áp, Trường Minh), Kindai shuuka[26] (Cận đại tú ca) và Maigetsushô[27] (Mỗi nguyệt sao)[28] và Go-toba-in Gokuden (Hậu Điểu Vũ Viện ngự khẩu truyền). Quyển cuối cùng ghi chép những nhận xét sắc bén về thơ của cựu thiên hoàng đa tài và bất hạnh Go-toba. TIẾT II
TIẾT II: HÌNH THỨC LIÊN NGÂM RENGA[29] (LIÊN CA): Renga là hình thức văn nghệ dùng xướng họa (tsuke-ai) để vui chơi, theo đó, trước tiên một người ngâm 3 câu đầu của bài Tanka (phần thượng = kami) nghĩa là ba câu 5/7/5. Xong người thứ hai ngâm 2 câu dưới (phần hạ= shimo) tức 2 câu 7/7. Trong Man.yô-shuu thời Nara đã có ví dụ về loại nầy rồi. Trong thi tập soạn theo sắc chiếu Kinkai (1127) lần đầu tiên đã có một mục đặc biệt dành cho renga nữa. Lối xướng họa gồm hai vế 17 (hay 5/7/5) và 14 (hay 7/7) chữ nói trên được gọi là tanrenga (đoản liên ca). Từ cuối thời Hei-an trở đi thì nó được kéo dài liên tiếp như một chuỗi dây xích 5/7/5 – 7/7 – 5/7/5 – 7/7……..và được mệnh danh là chôrenga (trường liên ca) hay kusari-renga (tỏa liên ca). Đến đời Kamakura các nhà biên soạn Shin Kokin như Fujiwara no Sada-ie (Teika) cũng thừa dư hứng của tanka mà bước luôn qua lãnh vực renga. Họ rất yêu thích renga và mở các cuộc họp bình thơ gọi là renga-awase (Liên ca hợp), gặp gỡ nhau ở cung thái thượng hoàng Go-toba-in. Có hai loại renga: loại thứ nhất có tính hoạt kê, hài hước, vô tư lự… nên được gọi là “vô tâm liên ca” (mushin renga) hay kurinomoto renga (liên ca dưới cây hạt dẻ). Loại thứ hai đứng đắn thâm trầm được các nhà quí tộc trên điện (đường thượng quí tộc = dôjô kizoku) yêu chuộng thì gọi là “hữu tâm liên ca” (ushin renga) hay kakinomoto renga (liên ca dưới cây quả hồng). Cuối đời Kamakura, renga được phổ biến rộng rãi trong quần chúng hạ tầng (địa hạ = jige), ở dưới đất như tăng lữ, vũ sĩ, thứ dân….Họ ngâm nga xướng họa renga dưới hoa anh đào, phối hợp với những trò múa hát dân dã ( điền nhạc = dengaku), trò khỉ ( viên nhạc = sarugaku) để mua vui. Cho nên renga còn có hình thức mang tên “xướng họa dưới hoa” (hana no moto renga). A) Tsukuba[30]-shuu (Thố Cửu Ba Tập): Đến thời Nam Bắc Triều, Renga càng phồn thịnh. Nijô Yoshimoto [31](Nhị Điều Lương Cơ) tuy là một quí tộc cao cấp đã làm đến các chức quan trọng như kanpaku (quan bạch), sesshô (nhiếp chính) nghĩa là từng nắm vận mạng quốc gia nhưng lại vô cùng yêu thích renga. Ông thờ soạn giả liên ca bình dân (jige renga) tên là Kyuusei (còn đọc là Gusai[32], Cứu Tế) làm thầy, và với sự hợp tác của ông nầy, đã biên soạn tập renga đầu tiên mang tên Tsukuba-shuu (Thố Cửu Ba tập). Sách ra đời khoảng năm 1356-1357.Sau đó, tập nầy được liệt vào hàng thi tập soạn theo sắc chiếu. Điều đó đưa địa vị của renga lên ngang hàng với waka. Nijô Yoshimoto còn đặt lề lối, qui tắc cho renga. Ông viết Renga Shinshiki (Liên ca tân thức) còn được biết là Ô.an Shinshiki (Ứng An tân thức) (1372) và soạn tập luận thuyết về renga tên là Tsukuba Mondô (Trúc Ba Vấn Đáp) (trước 1372). Nhưng mấy năm sau, Yoshimoto cùng với tướng quân Ashikaga Yoshimitsu (Túc Lợi Nghĩa Mãn), học tăng Gidô Shuushin[33] (Nghĩa Đường, Chu Tín), Zekkai Chuushin[34] (Tuyệt Hải, Trung Tân) của trường phái văn học Gozan[35] (Ngũ Sơn) họp nhau lại lại làm thơ liên cú Hòa Hán[36] và chịu ảnh hưởng của thơ văn chữ Hán. Họ dần dần có khuynh hướng rời xa renga. B) Kỹ thuật renga hoàn thành: Bước vào thời Muromachi, lại có những soạn giả renga như Bontô Anshu (Phạn Đăng, Am Chủ) và đệ tử là Sôzei (Tông Thế), Senjun (Chuyên Thuận), Shinkei[37] (Tâm Kính) ra đời. Shinkei học lâu năm ở cửa ca nhân Shôtetsu (Chính Triệt), muốn tìm cách diễn tả cái diễm (en), lãnh (hie), tịch (sabi) nghĩa là vẻ đẹp ưu nhã, lạnh lẽo, tịch mịch, những tiêu chuẩn của thơ quốc âm Nhật Bản. Shinkei đã trình bày những luận điểm xuất sắc của ông trong các tác phẩm như Sasamegoto (Nói thầm, 1463), Hitorigoto (Nói một mình), Oinokurigoto (Già lập đi lập lại)… C) Minase sangin-hyakuin (Thủy Vô Lại tam ngâm bách vận): Người tiếp nối được truyền thống của bọn các ông Shinkei là Sôgi[38] (Tông Kỳ). Sôgi xem yuugen (u huyền) và ushin (hữu tâm) làm lý tưởng, cùng các cao đệ như Shôhaku[39] (Tiêu Bách), Sôchô[40] (Tông Trường) soạn ra Minase Sangin-Hyakuin vào năm 1488. Đây là một kiệt tác của thể loại renga hyakuin (liên ca bách vận). Bài hát do ba người (tam ngâm của Sôgi, Shôhaku và Sôchô) cùng ngâm liên tiếp một trăm câu (bách vận). Đó là thơ renga đọc lên ở đền Minase trong dịp lể tế vong hồn cựu thiên hoàng Go-toba-in, một người am tường văn học (đã nhắc đến bên trên), thờ ở đấy. Sau đây xin trích sáu câu đầu. 1- “Chiều về tuyết còn đọng, Chân núi bồng bềnh sương (Sôgi) 2- Xa xa dòng nước chảy, Qua làng mai tỏa hương (Shôhaku) 3- Gió sông lay chòm liễu, Tin xuân đã tỏ tường (Sôchô) 4- Tiếng chèo khua nước sớm, Trong như nắng ánh gương (Sôgi) 5- Trăng đêm và mù tỏa, Trên trời, có vấn vương? (Shôhaku) 6- Cánh đồng trùm buốt giá, Như tin thu lên đường” .(Sôchô) Trong 6 câu thơ trên thì 1 nói về cảnh đông tàn xuân đến trên núi, 2,3, 4 nói về cảnh xuân trên sông và làng quê bỗng đổi qua đêm thu, rồi cuối thu đầu đông trong hai câu 5, 6. Nguyên tắc là người làm câu tiếp theo lấy một chủ đề trong câu trước rồi khai triển ra một đề tài mới. Trong sự liên tục (“núi Yoshino / mây / hoa anh đào” hay “sông Tatsuta / mùa thu / lá phong đỏ” chẳng hạn) lại có sự thay đổi và thay đổi này có thể đột ngột, không ngờ tới. Sôgi từng nói trong Azuma mondo, (Ngô thê [41]vấn đáp), một tập vấn đáp về thơ như sau: “Renga khác với waka ở chỗ có những câu chữ không ngờ tới”. Tuy nhiên, Nijô Yoshimoto đi xa và khúc chiết hơn khi bảo: “Renga không nối kết hai ý trước, sau với nhau. Trong đời nầy, thịnh, suy, vui, buồn nối tiếp nhau. Khi ta nghĩ về quá khứ thì hiện tại đang trôi đi, lúc ta đang nghĩ về mùa xuân thì thu đã đến và hoa anh đào thay bằng lá phong đỏ rồi. Làm renga, phải quên đi ý tưởng trước và không lo gì đến câu sau, cứ làm câu tiếp trên cơ sở nhận thức về câu mình vừa được xem. Đó là thái độ mới: sống cho hiện tại, quên quá khứ và không lý đến tương lai. ” (theo Tsukuba mondo). Renga là một hình thức văn nghệ tập đoàn (group literature), hợp với một xã hội dựa trên các tiểu tập đoàn như xã hội Nhật Bản. Truyện Taiheiki (Thái Bình Ký, quyển 7) có kể đến các chiến sĩ thường mời các thầy renga đến dự các buổi thơ renga và chính các quân nhân cũng tham gia sáng tác. Nói tóm lại, nếu các uta- awase là nơi họp mặt giải trí của thi nhân waka cung đình thì hội thơ renga là hình thức tiêu khiển của tầng lớp bình dân vậy. Nó là một trong những đặc điểm của văn học Muromachi. TIẾT III
TIẾT III: HÌNH THỨC HAIKAI RENGA : Trước tiên, haikai (bài hài) có nghĩa là sắp xếp câu chữ hoạt kê để đùa chơi. Khi hội họp hát renga, có lúc vui vẻ thừa hứng hát điệu ấy với nội dung đùa bỡn thì gọi là haikai renga. Nó đi song song với loại mushin-renga (vô tâm liên ca) vốn có từ thời Kamakura. Từ sau thời Sôki, renga đã qui tắc hóa, đi tìm tính nghệ thuật, xa lánh ngôn ngữ đê tục để trở thành nhã chính (junsei renga = thuần chính liên ca). Ở thời điểm này thì haikai renga lại được lưu hành trong dân chúng vì nó phản ánh những đòi hỏi thích cười ranh mãnh, thích vui chơi của tầng lớp thứ dân.Tập haikai renga sớm nhất là Chikuba Kyôgin-shuu (Trúc Mã cuồng ngâm tập) (1499), sau đó là Inu-tsukuba-shuu (Khuyển Trúc Ba tập) (1532) của Yamazaki Sôkan (Sơn Kỳ, Tông Giám[42] và Moritake Senku (Thủ Vũ, Thiên Cú) của Arakida Moritake[43] (Hoang Mộc Điền, Thủ Vũ), những tác phẩm nổi tiếng thuộc loại nầy. Nó là nguồn gốc của haikai mà ta sẽ thấy xuất hiện vào thời cận đại. Trong haikai renga, có những bài nhại giọng các nhà thơ lớn đời xưa như Hitomaro, Ono no Komachi hay Saigyô. Nội dung của nó dung tục, chế diễu các nhân vật dã sử được tôn kính như anh em nhà Sôga hay sư Benkei, bộ tướng của Yoshitsune. Ngôn ngữ thì hay nói đến những bộ phận trong thân thể như “lỗ mũi”, “râu mép”, “mông”, “bìu”…và đề cập đến đủ các món ăn (điều hiếm khi thấy trong waka) cũng như nói đến cơ quan sinh dục nam nữ, miêu tả giao cấu và cả đồng tính luyến ái nữa. Sự tương phản trong hình thức diễn đạt nầy so với sự trang nhã trịnh trọng của waka thời Heian không chỉ nói lên đặc tính thông tục của người bình dân nhưng cũng chứng tỏ chủ tâm chống đối của họ đối với giá trị quan của giai cấp thống trị. TẠM KẾT
TẠM KẾT: Waka sẽ được nối tiếp bởi haiku, một chi lưu của nó, suốt thời Edo. Sau đó, bước vào thời Duy Tân, tuy suy tàn và nhường chỗ cho thơ mới nhưng thể tanka (đoản ca), loại waka ngắn với 31 âm tiết vẫn được duy trì và được đại diện bằng những tài năng sáng giá như Ishikawa Takuboku (Thạch Xuyên, Trác Mộc 1886-1912), Masaoka Shiki ( Chính Cương, Tử Qui, 1867-1902), Saitô Mokichi (Trai Đằng, Mậu Cát, 1882-1953) và gần đây nhất là nữ thi sĩ ăn khách Tawara Machi (Biểu, Vạn Trí, sinh năm 1962). CHÚ GIẢI
[1] Fujiwara Sada.ie hay Teika (1162-1241), ca nhân (thi nhân waka) tiêu biểu của trường phái cải cách. Ra công nghiên cứu các tác phẩm cổ điển như Truyện Ise, Truyện Genji, nhật ký Sarashina. Đã vâng sắc chiếu thái thượng hoàng Gotoba-in soạn Shin kokin-waka shuu (Tân Cổ Kim Hòa Ca Tập), Shin chokusen-shuu (Tân Sắc Tuyển Tập). Tập thơ riêng ông thu thập thì có Shuu-i gusô (Thập Di Ngu Thảo) gồm 3.800 bài waka, bình luận về thơ thì có các tập Kindai shuuka (Cận đại tú Ca), Eika Taigai (Vịnh ca đại khái), Maigetsu-shô (Mỗi nguyệt sao) và nhật ký Meigetsu-ki (Minh nguyệt ký).Có thuyết cho biết tiểu thuyết Matsuura no miya monogatari (Tùng Phố Cung vật ngữ, 1185) cũng là của ông. [2] Fujiwara Ietaka (1158-1237), ca-nhân tiêu biểu của thời đại ông, ngang hàng với Sada.ie. Soạn Shin kokin waka-shuu (Tân cổ kim hòa ca tập) và có tập thơ Mini-shuu (Nhâm nhị tập). [3] Thiên hoàng (thứ 82) Go-toba (1180-1239) là đệ tứ hoàng tử của thiên hoàng (thứ 80) Takakura (Cao Thương). Giỏi mọi thứ từ các loại thơ waka, renga, vũ nghệ, đá cầu. Yêu thích waka, nằm lòng Shin Kokin waka-shuu dầu đang soạn dang dở. Có chí khí, muốn trung hưng vương triều. Sau cuộc loạn Jôkyuu (Thừa Cữu, 923) vì đảo chánh mạc phủ thất bại, bị đày ra đảo Oki (Ẩn Kỳ) nhưng sau lại tiếp tục soạn Shin kokin waka–shuu.Thi tập riêng có Go-toba-in gyoshuu (Hậu Điểu Vũ Viện ngự tập), thi luận có Go-toba-in gyokuden (Hậu Điểu Vũ Viện ngự khẩu truyền). [4] Fujiwara no Masatsune (Đằng Nguyên, Nhã Kinh, 1170-1221), hiệu Asukai (Phi Điểu Tỉnh) nên còn được gọi là Asukai Masatsune, giỏi nghề đá cầu, để lại thi tập Asukai waka-shuu (Minh Nhật Hương Tỉnh Hòa Ca Tập). Ở đây, âm Asukai được viết theo dạng chữ Hán khác. [5] Tăng Jakuren (Tịch Liên, ?-1202), cháu họ Shunzei, có thời làm con nuôi. Tục danh là Fujiwara Sadanaga. Có thi tập Jakuren Hôshi-shuu (Tịch Liên Pháp Sư tập). [6] Chúng ta biết ở Trung Quốc, đời Hán đã đặt ra cơ sở lo việc phổ nhạc vào thơ dùng trong lễ nghi, yến tiệc cung đình gọi là Nhạc Phủ . Lại đặt ra chức quan đi sưu tầm thơ trong dân chúng (thái thi quan). [7] Phần thơ về sự vật và lễ lạc cung đình bị bỏ, thay vào đó là thơ nói về thần, Phật (theo Katô, Shuuichi, sđd), có lẽ do ảnh hưởng Phật Giáo Tịnh Độ Tông [8] Tăng Ji-en (Từ Viên, 1155-1225), con trai Fujiwara Tadamichi (Đằng Nguyên, Trung Thông), pháp chủ phái Thiên Thai (Thiên Thai tọa chủ). Có tập bình luận lịch sử Gukanshô (Ngu quản sao), và thi tập Shuugoku-shuu (Thập ngọc tập). [9] Fujiwara Ryôkei (Đằng Nguyên, Lương Kinh, 1169-1206), con trai Kanezane (Kiêm Thực), cháu họ tăng Jakuren. Làm quan đến Nhiếp Chính Thái Chính Đại Thần. Chủ trì hội thơ Roppyakuban Uta-awase (Lục bách ban ca hợp), viết lời tựa bằng chữ quốc ngữ Kana cho Shin kokin waka-shuu. Có tập thơ Akishino gessei-shuu (Thu Điều Nguyệt Thanh Tập). [10] Công chúa Shokushi (còn đọc là Shikishi, Thức Tử, 1151-1201), con gái thiên hoàng (thứ 77) Go-Shirakawa (Hậu Bạch Hà). Có để lại tập thơ Shokushi nai shinnô shuu (Thức Tử Nội Thân Vương Tập). [11] Đáng tiếc ngày xưa, nhiều nhà thơ phụ nữ không được nhớ đến tên riêng dù là tác giả những tác phẩm quan trọng. [12] Kunai Kyô (không rõ tên, giữ chức Cung Nội Khanh, chết năm 20 tuổi vào khoảng 1204-1205) một cung nhân của Gotoba-in. Con gái Minamoto-no-Moromitsu (Nguyên, Sư Quang). Một câu thơ nổi tiếng của bà có chữ wakagusa (nhược thảo = cỏ non) nên đời còn gọi bà là Wakagusa-no-Kunai Kyô (Nhược Thảo Cung Nội Khanh). [13] Thích giáo ca : loại thơ lấy tư tưởng Phật giáo làm trung tâm. [14] Năm mà Sada,ie (Teika, Định Gia) được bố vợ của con mình (Tame.ie hay Vi Gia) tên là Renshô (Liên Sinh, tức Utsunomiya Yoritsuna, Vũ Đô Cung Lại Cương) nhờ viết những bài thơ hay (tú ca) lên giấy để dát cửa cho ngôi biệt thự trên núi Saga-Ogurayama gần Kyôto, trùng với năm Hyakunin isshu ra đời nên người ta xem giữa hai công trình này có sự dính líu chặt chẽ với nhau. [15] Yamazaki , Manken và Okano Hirohiko biên tập, Kanmei Kokura Hyakunin Isshuu, Shôbun xuất bản, 1998, in lần thứ 13, Tôkyô. [16] Minamoto no Sanetomo (Nguyên Thực Triều, 1192-1219), tướng quân đời thứ 3 của mạc phủ Kamakura. Bị cháu là Kuujô (Công Hiểu) nuôi thù vì chuyện tranh ngôi, ám sát ở đền Tsuruoka Hachimanguu trong lúc dự lễ. [17] Họ Hôjô vốn là một chi của họ Taira đã bị họ Minamoto diệt. Phải chăng đây là một sự phục thù có tính cách hòa bình? [18] Cuộc tranh ngôi giữa con cháu hai vị thiên hoàng (thứ 89, trị vì 1246-1260) Go-Fukakusa (Hậu Thâm Thảo)và (thứ 90) Kameyama (Qui Sơn) (trị vì 1260-1274) đã đưa tới cuộc phân tranh này. [19] Fujiwara noTamekane (Đằng Nguyên Vi Kiêm, 1254-1332) còn gọi là Kyôgoku (Kinh Cực) Tamakane. Con trai Tamenori (Vi Giáo). Ông chủ trương waka phải có phong cách mới mẽ, tự do. Ngoài việc thủ vai chính trong công trình soạn Gyokuyô, còn để lại tập bình luận Tamekane-kyô Waka-shô (Vi Kiêm Khanh hòa ca sao).Về sau vì mắc phải âm mưu chính trị, bị đày ra đảo Sado (Tá Độ) rồi Tosa (Thổ Tá). [20] Theo cách phân chia thời đại của các sử gia Nhật Bản, giai đoạn nay có những thời gian trùng lên nhau. Thời Muromachi (1333-1568) bao trùm lên cả thời Nam Bắc Triều (1337-1392) và thời Chiến Quốc (1467-1568). [21] Ton-a (Đốn A, 1285-1372) ca nhân phái Nijô, cùng với Kenkô (Kiêm Hảo), Jôben (Tĩnh Biện), Kei-un (Khánh Vận) được xưng tụng là Hòa Ca Tứ Thiên Vương. Có viết Sôan-shuu (Thảo am tập) [22] Hoàng thân Muneyoshi (1311-1385) là hoàng tử của thiên hoàng (thứ 96, trị vì 1318-1339) Go-Daigo (Hậu Đề-Hồ). Cầm đầu thi đàn Nam Triều. Có tập Rika-shuu (Lý Hoa Tập). [23] Imagawa Ryôshun (Kim Xuyên, Liễu Tuấn, 1326-1414?) nhân vật chính trị trọng yếu của mạc phủ Ashikaga (Túc Lợi). Trước là võ tướng sau khi đi tu mới lấy hiệu Ryôshun .Thi nhân phái Reizei, học renga (liên ca) của NijôYoshimoto (Nhị Điều Lương Cơ), giỏi về lý luận thơ. Có để lại nhiều trứ tác trong đó Nigon-shô (Nhị ngôn sao) phân biệt ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ thông tục như chuộng ngôn ngữ thông tục để làm thơ. Có khuynh hướng đi tìm tự do và cái mới trong thi ca, đối lập với thi phong bảo thủ của phái Nijô. Thầy của Shôtetsu (Chính Triệt). [24]Shôtetsu (Chính Triệt, 1381-1459), ca tăng phái Reizei. Có tập thơ Sôkon-shuu (Thảo căn tập) và tập bình luận Shôtetsu monogatari (Chính Triệt vật ngữ). [25] Sách do Chômei viết ra năm 1211 kể giai thoại về thơ và các nhà thơ. [26] Sách do Sada-ie (Định Gia) viết khoảng năm 1209 để dâng cho tướng quân Sanetomo (Thực Triều). [27] Sách Sada-ie kuận về ushintai (hữu tâm thể) mà theo ông là một lý tưởng mà waka phải đạt đến. [28] Shô (sao) có nghĩa là ghi chép, rút gọn hay chú thích những điểm khó hiểu. [29] Hình thức hát đối đáp và thơ liên cú ở Việt Nam (Bà Chúa Liễu Hạnh liên ngâm với các bạn trên Hồ Tây) cũng có dạng tương tự với renga chăng? [30] Chữ Tsukuba có nhiều cách viết như Thố Cữu, Trúc Ba…nhưng nó thường gợi cho người Nhật hình ảnh Trúc Ba Sơn, quả núi cao 876m ở tỉnh Ibaraki, gầnTôkyô bây giờ. Núi có hai ngọn, một ngọn nam, một ngọn nữ, nổi tiếng không thua núi Fuji (Tây Phú Sĩ, Đông Trúc Ba) vì là cái nôi của văn hóa Nhật Bản. Xưa có ca viên (utagaki) là nơi trai gái hát đối đáp trong những cuộc tế lễ của xã hội nông nghiệp thượng cổ. Tsukuba là điểm phát xuất của ca dao, hát đối… nên có liên hệ với renga. [31] Nijô Yoshimoto (Nhị Điều Lương Cơ, 1310-1388) quí tộc Bắc Triều, có địa vị chính trị quan trọng.Bác học đa tài, soạn giả waka và renga, còn ngờ là tác giả quyển sử Masukagami (Tăng Kính). [32] Tăng Gusai (Kyuusei, Cứu Tế, 1282?-1376?). Soạn giả renga bậc thầy, Cùng với NijôYoshimoto và đệ tử của mình là Shuu-a (Chu-A) được coi là Liên Ca Tam Hiền. [33] Gidô Shuushin (Nghĩa Đường, Chu Tín, 1325-1388), tiểu biểu cho văn học Ngũ Sơn tức “năm chùa thiền”. Từng trụ trì ở Enkakuji (Viên Giác Tự). Kenninji (Kiến Nhân Tự), Nanzenji (Nam Thiền Tự). Tác phẩm có Kuuge-shuu (Không hoa tập). [34] Zekkai Chuushin (Tuyệt Hải, Trung Tân, 1336-1405), cũng là tăng Ngũ Sơn, cùng với Shuushin được tướng quân Yoshimitsu tin cậy. Trụ trì Shôkokuji (Tướng quốc tự) Tác phẩm có Shôkenkô (Tiêu kiên cảo ). [35] Gozan bungaku (Ngũ Sơn văn học) dòng văn học Hán Văn qui tụ ở năm ngôi chùa thiền tông chung quanh Kyôto và Kamakura suốt từ thời Kamakura đến thời Muromachi. [36] Liên cú (renku) Hòa Hán là loại Renga xen kẽ một câu thơ quốc âm sau một câu thơ chữ Hán. [37] Shinkei (Tâm Kính, 1406-1475). Tăng quan cấp cao. Am tường thi ca. Đề xướng thống nhất waka, renga với tư tưởng Phật giáo.Cuối đời, tránh loạn Ônin (loạn năm Ứng Nhân, 1467-77) về ở vùng Sagami (gần Tôkyô bây giờ) và mất ở đó. [38] Sôgi (Tông Kỳ, 1421-1502) tên thật là Iio Sôgi (Phạn Vĩ, Tông Kỳ), bậc thầy renga. Từng theo học renga với Sôzei (Tông Thế), Shinkei (Tâm Kính), Senjun (Chuyên Thuận), học waka và cổ điển với Asukai Masachika (Phi Điểu Tỉnh, Nhã Thân) và Ichijô Kanera (Nhất Điều Kiêm Lương), lại được Tô-no-jôen (Đông Thường Duyên) truyền cho bí quyết thơ của Kokin. Năm 1495, soạn Shinsen Tsukuba-shuu (Tân tuyển Thố Cửu Ba tập), được nhìn nhận vào loại tuyển tập soạn theo sắc chiếu. Sôgi hâm mộ tăng Saigyô, du lịch khắp nơi như ông ta rồi cũng lại chết ở đất khách. Ông đem văn hóa Kyôto truyền đến những nơi xa xôi như Echigo (phía Tây-Bắc Tôkyô hiện nay, phiên trấn của danh tướng Uesugi Kenshin=Thượng Sam Khiêm Tín) hay Yamaguchi (gần Hiroshima bây giờ, đất của họ Ôuchi=Đại Nội), giảng nghĩa cổ điển và chỉ dạy nghệ thuật renga. Còn lưu lại tập tuyển chọn renga tên là Chikurin-shô (Trúc lâm sao) và tập bình luận renga Azuma mondô (Ngô Thê vấn đáp). [39] Shôhaku (Tiêu Bách, 1443-1527), con của Naka-no-in Michikiyo (Trung ViệnThông Thuần), dòng dõi họ Minamoto.Thân với bọn Sanjônishi Sanetaka (Tam Điều Tây, Thực Long), sống ở Sakai (Giới), dạy waka và renga. [40] Sôchô (Tông Trường, 1448-1532), thầy dạy renga.Thờ Imagawa Yoshitada (Kim Xuyên Nghĩa Trung), sau học thiền Ikkyuu Sôjun (Nhất Hưu Tông Thuần). Có viết Sôchô Shuki (Tông Trường thủ ký) và Sôchô nikki (Tông Trường nhật ký). [41] Azuma chỉ miền đông, vùng Kamakura và Tôkyô bây giờ. [42] Yamazaki Sôkan (Sơn Kỳ Tông Giám, ?-1539), thầy trong nghề renga và haikai. Cùng với Moritake là hai ông tổ của haikai renga.Ông là soạn giả của Inu-tsukuba-shuu, Haikai Renga-shô (Bài hài liên ca sao), Shinsen Inu-Tsukuba-shuu (Tân tuyển Khuyển-Trúc Ba tập). [43] Hoang Mộc Điền Thủ Vũ (1473-1549), bậc thầy trong nghề renga và haikai. Tác phẩm có Moritake Senku (Thủ Vũ thiên cú), Haikai-no-renga dokugin senku (Bài hài nhi liên ca độc ngâm thiên cú), Tobi-ume Senku (Phi mai thiên cú). Giữ chức quan ở đền Ise Jinguu (Y Thế Thần Cung). |
![]() |
| Bookmarks & Social Networks |
|
|
| Ðiều Chỉnh | |
| Xếp Bài | |
|
|
|





































Chế độ bình thường
