oOo VnSharing oOo

Chào mừng đã đến với forum oOo VnSharing oOo.

Bạn chưa đăng kí (hoặc chưa đăng nhập) nên quyền lợi của bạn sẽ bị hạn chế. Việc đăng kí làm thành viên hoàn toàn miễn phí, sau khi đăng kí bạn có thể post bài, tham gia thảo luận, liên lạc với các thành viên khác qua hệ thống tin nhắn riêng, yêu cầu manga/anime... và rất nhiều quyền lợi khác. Thủ tục đăng kí rất nhanh chóng và đơn giản, hãy Đăng Kí Làm Thành Viên!

Nếu bạn quên mật khẩu, xin nhấn vào đây.

Nếu bạn gặp trục trặc trong vấn đề đăng kí hoặc không thể đăng nhập, hãy liên hệ với chúng tôi.
Go Back   oOo VnSharing oOo > Music Center > Music Fans-Club > J-Rock

HD cho người mới | ĐĂNG KÍ VIP MEMBER: KHÔNG QUẢNG CÁO, KHÔNG CẦN POST BÀI ĐỂ DOWNLOAD!
Mua sắm bằng Rep! | VnSharing Shop   Facebook


Chính thức đưa host Mega vào sử dụng
Topic giải quyết việc phá forum của mod kẻ lang thang + Clouds-san


Ðề tài đã khoá
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 07-12-2008, 09:19
zing_ruby's Avatar
zing_ruby zing_ruby is offline
[B] Z' XIII
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Venus Angel Kaze no fukiya (Dart of Wind) Pink iPod tan Angel Classic 
Venus Angel God Angel Orange iPod tan Đá cấp 1: Cat's eye 
Tổng số huy hiệu: 14
Tham gia ngày: 07-11-2007
Bài gửi: 2,081
Cấp Độ: 90
Rep: 4293
zing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond repute

Gửi tin nhắn qua Yahoo chat tới zing_ruby Gửi tin nhắn qua Skype™ tới zing_ruby
.:: Những điều bạn cần biết về JRock và Visual Kei ::.

.::JRock History::.




X Japan



Rock là một thể loại âm nhạc được khởi nguồn từ phương Tây, và Rock Nhật thật sự được du nhập trong vòng 1 hoặc 2 thập kỷ sau khi nó được chấp nhận ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Vì vậy, Rock Nhật trong những năm cuối thập niên 80, 90 bị ảnh hưởng trực tiếp làn sóng âm nhạc những năm 60 và 70 của Rock phương Tây. Và Rock Nhật ngày nay vẫn đang tiến triển từ từ và mang hình ảnh của những năm cuối 80. Cũng như ở phương Mỹ và Châu Âu có những Elvis Presley, the Beatles và Led Zeppelin ... mở đường để chinh phạt thế giới, để truyền cảm hứng cho hệ thế tiếp theo, dĩ nhiên Rock Nhật cũng có những band tiên phong, nhiều người chưa tìm hiểu kĩ thì họ thường phong thánh cho X Japan như là người sáng lập ra JRock, nhưng thật sự là chưa chính xác. Theo một số tài liệu trên internet, được biết có 3 band cùng xuất hiện trong cùng thời gian khỏan đầu thập niên 80. Thứ nhất là Boowy thành lập năm 82, thứ hai là Buck Tick (1983) và thứ ba là X Japan (band thành lập khỏang giữa năm 82 và 83, nhưng chưa thật sự được công nhận cho đến năm 85 ban mới làm cái gì đó với single đầu tiên “I’ll kill you” ). Trong số những band trôi nổi bềnh bồng trong cái biển mù mịt mà người ta gọi là "rock music", 3 nhóm này xoay xở có phần nổi trội hơn. Làm sao họ làm được như thế? Và tài sản họ để lại cho chúng ta là những cái gì? Và chỗ đứng của họ hiện nay trong lịch sử âm nhạc Jrock? chúng ta sẽ liệt kê những thành công và thất bại của mỗi band, sự đóng góp của họ và thời điểm họ kết thúc ngay đây.

Band thành lập đầu tiên là Boowy (1982). Âm nhạc của Boowy là những giai điệu đơn giản và dễ hiểu của những năm đầu 80. Không có nhiều người được nghe Boowy, bởi thế khi tìm thông tin về Boowy tôi thật sự là bối rối và khó khăn bởi vì chỉ có 1-2 website là đề cập đến và phân tích khá là ...lang man. Và một sự thật khó tin là tôi chẳng kiếm được bất cứ thông tin nào của Boowy bằng tiếng Anh. Điều này hầu như là chắc chắn bởi vì fanbase của Boowy được chính những người từng là teenager trong thời gian Boowy toả sáng tạo dựng nên (mà bây giờ có lẽ có cháu chắt rồi cũng nên). Những fan này là những người trung thành 1 cách cuồng nhiệt với thần tượng của mình, như là một minh chứng cho sự thành công của Boowy, website Boowy bằng tiếng Nhật vẫn còn tồn tại, ngoài ra bất cứ những đĩa tổng hợp hoặc best album của Boowy vẫn còn sức hút, và luôn luôn nằm trong bảng những album bán chạy. Có lẽ chúng ta không bàn đến sự tan rã của band nhưng có thể nói Boowy đã làm một số lượng lớn khán giả chán nản bởi thứ âm nhạc vô cùng cũ kĩ của họ và cho đến nay cũng chẳng lôi cuốn thêm được nhiều rockfan.

Boowy đã là band mở đường, và thành công nhất trong thời điểm đó. Được ví như mũi tên tiên phong của thể lọai mới mẻ này tại Nhật Bản, bởi vì họ toàn tâm toàn ý nắm bắt những khái niệm cơ bản: Như thế nào là 1 band nhac Rock và lòng kiên trì đi hết chặng đường để phấn đấu vì nó. Lấy ví dụ 1 số ban có tên tuổi cùng thời điểm với Boowy như Unicorn và Red Warriors, những người cũng có chung 1 con đường nhưng vì 1 số lý do nào đó chỉ còn Boowy là đứng vững trên ánh đèn sân khấu. Tên tuổi Boowy vẫn sống trong lòng những người hâm mộ cho đến tận ngày nay bởi vì rất nhiều những fan trung thành với họ trong suốt 20 năm và con số có lẽ vẫn chưa dừng lại (đặc biệt dành cho các fan ưa thích classic rock chăng). Chỗ đứng của band trong nền âm nhạc Nhật Bản được biết như là hạt giống đầu tiên được gieo trên sa mạc khô cằn, và đâm chồi nảy lộc khá tốt, họ đã trở thành 1 tượng đài vĩ đại của 1 quan điểm sống, 1 thế hệ và đặc biệt mang ý nghĩa quan trọng với 1 thể lọai âm nhạc tương đối xa lạ với người Châu Á vào thời điểm đó.





Buck-Tick


Band thứ hai chúng ta lướt qua là Buck-Tick. Cũng là 1 band classic rock của Nhật, họ được biết như 1 band nhạc không thích chưng diện và khá bảo thủ. Buck-Tick rất thường đi lưu diễn vòng quanh, thế nên họ có một lượng fan rất đông đảo và không phân biệt tuổi tác. Nhưng không giống như Boowy, âm nhạc của họ không bao hàm trong một phạm trù nào cả, nó đủ đủ sức lôi cuốn tất cả mọi người, mọi tuổi tác cách biệt và thế hệ khác nhau. Bởi vì họ đã tự tìm cho mình một thể loại riêng và không rập khuôn theo phương Tây. Tuy nhiên theo trả lời phỏng vấn, Buck-Tick tuyên bố chính Boowy là đàn anh mà cả nhóm chịu rất nhiều ảnh hưởng.

Sự sa sút của Buck-Tick bắt đầu khi họ có những thay đổi lớn, tuy vậy những thay đổi đó chưa đủ "đô". Hầu hết những bài hát của họ có chất gắn kết và khá bộc trực. Atsushi, vocalist của nhóm có một giọng ca quyến rũ chết người, những thành viên còn lại cũng đều là những tay "gộc". Thế nhưng, âm nhạc của họ chẳng mấy đặc sắc cho lắm. Họ say đắm và chìm trong giai điệu âm nhạc của họ, tuy nhiên chính thứ âm nhạc đó lại có vẻ như không say đắm và mặn mà đối với họ cho lắm. Nhận xét một cách tổng quát, sự cống hiến của Buck-Tick đối với Jrock là sự đi lên chậm mà chắc chứ không hề làm 1 cuộc dạo chơi trên đỉnh cao một cách chóng vánh rồi "ngủm củ tỏi" cũng nhanh như khi xuất hiện của Boowy. Nếu có một từ ngữ nào để có thể mô tả Buck-Tick thì đó là: Kiên định. Qua thời gian cho đến tận ngày nay họ vẫn còn trụ vững trên ánh đèn sân khấu, vẫn còn đấy những giai điệu lôi cuốn.
Như chúng ta ai cũng biết hoặc nghe thoáng ở đâu đó, X Japan là ban nhạc khá ư nổi (tai) tiếng và tài năng. Điều đáng ngạc nhiên là nhiều người không thể hiểu tại sao âm nhạc của X Japan lại phổ biến rộng rãi mọi ngỏ ngách và có sức thuyết phục nhiều người như thế.

X Japan không phải là band nhạc đầu tiên của Rock Nhật như nhiều người lầm tưởng. Boowy thành lập năm 1982, Buck-Tick thành lập năm 1983. X Japan lập nhóm khoảng đầu năm 83 thế nhưng chưa chính thức ra mắt, chỉ là cùng tập luyện chung (rehearse), mãi đến năm 85 band nhạc mới thực sự bước ra ánh sáng với single đầu tay I'll Kill You.

Âm nhạc của X Japan là sự pha trộn đỉnh đạc và có chọn lọc, là sự kết hợp tinh tế giữa thứ âm nhạc mang âm hưởng huyền bí của phương Đông với chất metal. Được thành lập năm 1982 chỉ được biết với cái tên đơn giản là X, sau vài năm cái tên của nhóm có chút thay đổi và người ta quen gọi là X Japan, phần nào phản ánh được âm nhạc của nhóm trở nên phổ biến hơn đối với quốc tế, và phạm vi kiểm soát của họ đã ngoài nước Nhật. X Japan là ban nhạc đầu tiên của đất nước hoa anh đào đạt được thành công bên ngoài đất nước của họ và dĩ nhiên cũng là ban nhạc thành công nhất.

X được thành lập bởi 2 thành viên cột trụ là Toshimitsu Dayama (vocal) và Yoshiki Hayashi (chơi piano và trống) sau khi có sự gia nhập của 2 thành viên khác (không biết tên). Sau đó ban tung ra 2 single ra mắt I'll kill you (1985) và Orgasm(1986) ngay lập tức bùng nổ số lượng fan, trong 2 sigle này nhóm đã cố gắng nhắn gửi những thông điệp vào chất metal đầy ngẫu hứng trong lần ra mắt đầu tiên. Tại thời điểm này nhóm có một sự thay đổi quan trọng Pata, Tomoaki Ishizuka (guitar) và Taiji Sawada (bass) tham gia vào nhóm. Năm 1988 nhóm thực hiện album thứ nhất “Vanishing Vision” với hãng đĩa Extasy Records và thuê thêm 1 anh tài khác là Hideto Matsumoto (guitar lead), album đuợc phát hành ngay lập tức nhận được thành công đáng nể.

http://www.x-japan.de/discography/images/BlueBlood.jpg

Thành công của họ nhanh chóng nhận được sự chú ý của hãng đĩa Sony, và cuối cùng họ cũng đã ký được một hợp đồng với hãng đĩa nổi tiếng này. Và album "Blue Blood" được tung ra, trong đó có single “Endless Rain”, đây là bản ballad đầu tiên của nhóm mà mình được biết, khuyên các bạn gái không nên nghe vì nghe rồi mắc công bị ghiền giống mình , tiếng Piano của Yoshiki cứ réo rắt như cơn mưa dài trong khi Toshi thì cứ mặc tình lả lướt với giọng hát trong suốt cao vút, bên cạnh đó phải kể đến đoạn lead cực hay của Hide khúc giữa bài hát.

"Endless rain, fall on my heart kokoro no kizu ni
Let me forget all of the hate, all of the sadness
Endless rain, fall on my heart kokoro no kizu ni
Let my heart take in your tears, take in your memories"


http://www.x-japan.de/history/images/Jealousy1991.jpg

Cũng nói thêm về album tuyệt vời này, nếu bạn đã yêu thích X thì nhất định phải tìm mua cho được album này, hoàn toàn đủ chất và thấm đẫm giai điệu của X Japan, từ bản intro World Anthem cho đến những bản metal chạy tốc độ đầy kĩ thuật, và cả những đoạn solo tuyệt dịu trong Xclamation chắc hẳn sẽ làm bạn mê mẩn mất thôi. Trở lại với thành công của nhóm đem đến cho nhóm nhiều tour diễn. Ngày 1 tháng 7 1991, X tung ra album Jealousy, với album này các thành viên muốn tiến xa hơn nữa đến tận Hoa Kỳ sứ sở của âm nhạc. Vào thời điểm này nhóm quyết định đổi tên ban nhạc vì vào thời điểm này có một ban nhạc của Hoa Kỳ lấy tên là X, vì sợ có sự trùng lặp nên các thành viên quyết định lấy tên cho nhóm là X Japan. Khi album được tung ra tại Nhật đã được được con số vào hàng kỷ lục tại Nhật chỉ trong vòng vài tuần, trong album này đã có sự thay đổi đáng kể, Yoshi thay cây piano bằng dàn trống cũng đủ thấy âm nhạc của họ đã nặng hơn rất nhiều, bản intro Esdur của Yoshi thực sự gây ấn tượng cho tôi, đây là một bản intro hoàn hảo mang phong cách rất classic, nhưng đoạn cuối là những âm thanh gián đoạn rồi tắt hẳn, sau đó bản Silent Jealousy chơi lại một đoạn piano trước khi tắt hẳn trước khi tiếng trống của anh nhanh như bão táp bắt đầu.

"Silent jealousy, don't you leave me alone. Falling into sadness, adored by love, that I can't return to. Into this repetitive solitude. Tell me true, where ever I go, I must learn to love this pain. I still want your love, stop your love. Silence the memories where the madness grows."

Âm thanh của X cứ thế mà càng nhanh và mạnh dần lên qua 2 bài Miscast và Desperate Angel rồi lại nhường cho một bản instrumental chơi guitar thùng rất chất, trong bài Voiceless Screaming hầu như mọi thứ quanh tôi đều trở nên mềm nhũng ra với giọng hát cực kì não nề của Toshi và tiếng guitar gãy từng âm hoà dịu vào tâm hồn. Mọi thứ đang lắng xuống thì đột ngột X tạt ngay vào mặt tôi 1 trận bão âm thanh với Stab Me In The Back với guitar riff như điên cuồng và trống giống như sấm.

"Wipe out my life (Bask in blood) dripping from your heart. Destroy this world (Drive me mad) don't need nothing in my life. Wipe out my life (Bask in blood) dripping from your heart.

Destroy this world (Drive me mad) o.d. on sex. I'm having sex, wishing for sex, I'm having sex, touch me, make me feel. Can't you give me more, do or die, I can't be satisfied."

Với Love Replica bản instrumental với âm thanh điện tử chiếm ưu thế hoàn toàn mặc sức làm tình làm tội tôi, cực kì tuyệt. Với Joker, X pha vào đó điệu Bongie như thứ âm nhạc của Aerosmith với giọng hát như giễu cợt của Toshi, hẳn những fan của Aerosmith sẽ thích ngay bài này. Và cuối cùng là bản ballad cực hay phô diễn hoàn toàn chất giọng của Toshi và âm thanh mượt mà của cây piano Yoshi lại trở lại cực kì hoàn hảo.

Say anything … WOW I love it

"You say anything Whatever you like to say to me
Say anything you Leave me out of my eyes
You say anything All I can hear is voice from dream
Say anything You can dry my every tear "


http://www.x-japan.de/history/images/history01.jpg

Vào thời điểm này ban nhạc thục sự gặp nhiều Stress với mật độ làm việc quá cao. Hàng loạt thành viên phải nhập viện vì sức khoẻ yếu (nhìn tấm hình cũng đủ biết) cộng thêm sự căng thẳng quá mức có nguy cơ làm tan rã ban nhạc. Trong một lần xích mích Yoshi và Taiji đã ẩu đả kết quả là Taiji bị gãy tay vì thế anh đã rời nhóm. Toshi bắt đầu khởi nghiệp hát solo với album đầu tay Made In Heaven năm 1992 , phần nào khơi gợi những kỉ niệm cũ về một ban X khi xưa mặc dù lúc này anh chưa rời X. Mặc dầu thế Yoshi vẫn tiếp tục hoạt động của X khi cho ra đời 1 single dài đến 23 phút mang tên “Art of life” ký kết với hãng đĩa Atlantic và đem Heath thay thế vị trí của Taiji và bắt đầu chuyến lưu diễn đễ quảng bá cho album mới nhất của nhóm.

http://www.x-japan.de/discography/images/dahlia.jpg

Năm 1996, nhóm tung ra album “Dahlia” trong đó có 3 bài ballad cực hay là "Crucify My Love" , "Tears" và "Forever Love" và ca khúc “Forever Love” được lấy làm soundtrack cho một bộ phim hoạt hình mang tên rất giống với cái tên của nhóm, “X” do nhà xuất bản CLAMP thực hiện. Hide cũng bắt đầu khởi nghiệp solo với album Psyence.

"Endless rain, fall on my heart kokoro no kizu ni
Let me forget all of the hate, all of the sadness
Endless rain, fall on my heart kokoro no kizu ni
Let my heart take in your tears, take in your memories"
Endless Rain

"Loneliness, your silent whisper
fills a river of tears through the night
Memory, you never let me cry
and you, you never said good-bye
Sometimes our tears blinded the love
We lost our dreams along the way
But I never thought
you'd trade your soul to the fates,
never thought you'd leave me alone"
Tears

"Forever love, forever dream
Only flowing emotions,bury this intense,
trying, meaningless times.
Oh tell me why ... all I see is blue in my heart.

Will you stay with me? Wait until after the wind passes,
all my tears are still flowing... "

Forever Love .


Sau đó vì cũng do bất đồng nội bộ và thói hay cáu gẳng của Yoshi, đồng thời với cú shock sự ra đi của Toshi khi đưa ra yêu cầu rút chân khỏi nhóm để thực hiện album Artistic and Religous Reasons, tháng 9 1997 các thành viên quyết định chia tay nhau mặc dù còn rất quyến luyến với những thành công của nhóm, sau khi thông tin tan rã đã được đưa ra, 2 tháng sau album Live Live Live album cuối cùng nhóm ghi âm được tung ra. Và nhóm thực hiện một đêm buổi diễn chia tay vào tháng 12, nhiều fan đã không cầm được nước mắt và gào thét như điên cuồng. Ngày 2 tháng 5 1998 các fan lại nhận được một tin bi kịch, Hideto Matsumoto cây guitar tài năng của X đã tự tay kết liễu cuộc sống của mình. Sau đó Yoshiki ít xuất hiện trên sân khấu, ban nhạc nổi tiếng của sứ sở Hoa anh đào đã có một kết cuộc đau buồn và đầy nước mắt.

Hide có lẽ chẳng bao giờ nổi tiếng đến nổi Metal Jedi phải trầm trồ khen tặng nếu như... anh ta không chết, việc này cũng dễ hiểu thôi mà cũng giống như việc người ta vẫn chẳng thể nào biết được Picasso vẽ cái chi chi cho đến khi ông ta lăn đùng ra "ngẻo". Tuy rằng Hide là một cây guitar rất "gộc" nhưng chưa đủ là một huyền thoại, mặc dù vậy rất nhiều guitarist của Jrock chịu ảnh hưởng rất nặng của anh.

Có thể xem X Japan là cái phao mà rất nhiều band nhạc sau này bấu víu. Mà có thể xem họ là 1 tượng đài cũng chẳng ngoa, bởi họ đã để lại rất nhiều điều đáng học hỏi, tạo nền tảng cho cả một thế hệ Jrock sau này. Chúng ta thử điểm sơ qua những đóng góp của X:

Thứ nhất - Hình Ảnh (Image): đối lập với Boowy và Buck-Tick bị sa lầy vào những hình ảnh ảm đạm thường thấy, X Japan tạo ra một hình ảnh gây shock nặng đối với xã hội lúc bấy giờ. Đối với giới trẻ, X Japan là biểu tượng của sự nổi loạn với mớ dây xích lẻng kẻng, rượu chè be bét, bám bụi thuốc lá, cùng những hình xâm ngang dọc thân thể, trang sức loè loẹt, và mái tóc lởm chởm hoang dại, đủ sắc màu. Lý do biện minh là họ muốn tự phân loại họ là một ban nhạc metal so với các ban khác. Chúng ta không cần xem xét cân nhắc sự hợp lý hay không hợp lý ở đây. Với cái lý do khá là ngộ ngĩnh này, ban nhạc X Japan đã vạch dấu gạch đầu dòng cho khái niệm Visual Rock trở nên phổ biến.

Thứ hai - Tài Năng (Talent): Như đã nói ở trên Hide chẳng phải là một huyền thoại guitar, thế nhưng khi kết hợp lại Hide, Taiji, Pata, Yoshiki và Toshi (sau này thay thế bằng Heath), X Japan đúng là một con khủng long bạo chúa của Jrock, chưa có ban nhạc nào cho đến tận ngày nay có một đội hình hùng mạnh và đều tay như thế. Với đội hình như thế họ dư sức nắm vững âm nhạc trong lòng bàn tay và bắt nó nhảy múa tạo nên những giai điệu quá đỗi đẹp. Điều đó ít khi bắt gặp trong một ban nhạc khác của phương Đông.

Thứ ba – Âm Nhạc (Sound): Tuy là một nhóm rock metal thế nhưng X Japan được biết đến nhiều hơn với những bản ballad quyến rũ và đắm say lòng người, thật là một sự mâu thuẫn thú vị giữa âm nhạc và thể loại họ chơi. Âm nhạc của X Japan cũng như hình ảnh của họ là một sự mày mò tìm tò cái mới và đối lập tột cùng so với 2 ban nhạc cùng thời điểm kể trên. Qua những âm thanh chát chúa của metal cho đến những bản ballad giàu cảm xúc, X Japan luôn đem lại nhiều điều đáng suy ngẫm cho chúng ta. Bởi thế không chỉ được biết qua những hình ảnh bắt mắt của họ, chúng ta cũng có thể nhận biết X Jpan qua chính chất liệu âm nhạc của họ.

Thứ tư - Kịch Tính (Drama): hãy cùng nhìn lại, sự tồn tại của X Japan được xem như là một vở kịch nhiều biến cố mà vai chính do Yoshiki thủ vai. Điều này khá hấp dẫn những người hâm mộ X Japan. Không ai không thích đọc những đoạn hùng biện của Yoshiki về mối quan hệ với Hide hoặc Toshi trên báo chí, không ai không muốn tìm hiểu tại sao Hide lại mạo hiểm trên bước đường solo, cũng như muốn hiểu rõ tại sao Pata lại trầm lặng một cách đầy bí ẩn với cái cách mà anh ta né tránh ánh đèn sân khấu như thể nó là cả một tai hoạ đối với anh, hay lý do chính xác tại sao Taiji lại rời ban nhạc. Và thế nào đi nữa sự sụp đổ của X Japan và cái chết của Hide vẫn là 2 biến cố lớn và gây shock nhất. Có lẽ chính bản thân chúng đã là một bi kịch lớn, góp phần nào xây đắp nên một tượng đài bất tử của Jrock.

Điều cuối cùng - Tầm Nhìn (Vison): Đây có lẽ là điều quan trọng nhất khi nói về X Japan. Nếu nói Boowy đã khai sinh ra đúng thời điểm và đúng địa điểm và Buck-Tick kiên định tồn tại, thì X Japan không hề được xem là kiên định, cũng chẳng thực sự được xem là đúng thời và đúng nơi chốn với âm nhạc của họ. Thực vậy, nếu chúng ta nhìn nhận lại thì những gì X Japan làm đều là trái ngược với cái thời của họ, hầu như họ không ngừng gây dư luận từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác, và từ sư khó hiểu này nối tiếp sự khó hiểu khác. Từ trang phục "quái-lập-dị", thể loại âm nhạc "xa-lạ-thường", trung bình những bài hát dài tròn trèn đến 10 phút. Thế nhưng với sự pha trộn và cải tiến âm nhạc của mình, X Japan trong suốt 10 năm ngự trị nền âm nhạc Nhật Bản đã thực hiện một nhiệm vụ vô cùng cao cả của mình là đã phát triển nhạc Rock tại sứ sở này đến tầm cao hơn. Điều này ngay cả những người không ưa thích X Japan cũng phải nhìn nhận. Không phải bởi tài năng của họ, không phải bởi sự phô trương, cũng không phải là sự kiên cường của họ. Công lớn này thuộc về Yoshiki, con người đã quyết tâm cho thế giới thấy rằng Nhật Bản có thể chơi nhạc Rock cũng tuyệt vời và lôi cuốn như thể loại này được chấp nhập ở phương Tây, nhưng có lẽ sẽ không có gì xảy ra nếu như thiếu vắng tài năng của những thành viên còn lại trong ban nhạc. Cho đến khi X Japan tan rã, Yoshiki và Hide vẫn hết lòng hướng đến cho thế hệ sau đi theo con đường của mình như: Dir en Grey, Oblivion Dust, Transtic Nerve, L'Arc~en~Ciel and Glay... Có thể nói rằng Boowy đã đem đến sự sống cho Jrock, Buck-Tick đem đến sức mạnh để mơ ước, để kiên trì và tin tưởng, thì X Japan đã đem đến trái tim của âm nhạc.

-------------------------------------------------------------------------------

Một số ban nhạc Jrock tiêu biểu, mang ít nhiều ảnh hưởng từ X Japan




Glay


Glay (Gray)
Thành lập năm 1988, với những thành viên Teru (vol), Takuro (git), Hisashi (git), Jiro (bass). Cho đến nay Glay đã đạt được thành công to lớn tại Nhật Bản với âm nhạc pha trộn Pop Rock của họ, tuy mang ý nghĩa thương mại nhiều hơn nhưng rất đáng trân trọng. Tên của ban nhạc phát âm là "gurei" trong tiếng Nhật nghĩa là màu xám (gray). Về khái niệm tại sao là xám, không phải đen cũng không phải trắng và cách viết tên sai chính tả, ban nhạc muốn đi theo quan điểm "khác biệt" của họ, cũng như phần nào nói rõ chất liệu âm nhạc mà ban nhạc theo đuổi. Cho đến nay sự nghiệp của họ bao gồm có tất cả 12 albums kể cả những albums tổng hợp, 28 singles và điều đặc biệt thành công hơn cả là hình ảnh của họ đã được vẽ trên một chiếc phản lực Jumbo của hãng hàng không Nhật Bản, điều mà chưa bao giờ có ban nhạc nào thực hiện được. Trong năm 1999 Glay đã tổ chưa một concert lớn nhất lịch sử âm nhạc Nhật Bản từ trước đến nay với số lượng người hâm mộ tham gia trên 200.000 người, một con số thật khủng khiếp. Đó là những nét chính và con số tiêu biểu cho band nhạc được mệnh danh Beatles của Nhật này.




Dir En Grey

- Dir En Grey
Thành lập năm 1997 sau đống tro tàn của ban nhạc La:Sadies. Sau khi La:Sadies tan rã Kyo (vol), Die (git), Kaoru (git) và Shinya (drum) đã dựng nên một ban nhạc khác, đó là Dir En Grey (DEG) với sự tham gia của Toshiya (bass). Với sự giúp đỡ của huyền thọai Yoshiki (X Japan), năm 1999 album đầu tay của DEG Gauze trong đó có 5 sáng tác của Yoshiki đã đạt tiếng vang lớn với chất liệu âm nhạc dark industrial gothic mang nặng ảnh hưởng của metal Mỹ. Tài sản của họ không nhiều với 3 album (Gauze, Macabre, Kisou), có 2 EP (Missa, six Ugly) và 8 singles nhưng mang một sắc thái rất riêng. Đen tối và sắc cạnh là những gì âm nhạc của họ chứa đựng. DEG là hình ảnh thu nhỏ của Visual Rock trong thập niên 90, với những phục trang khá ư luộm thuộm và loè loẹt


google.com

Trans by Ghost , bài viết tại www.japanest.com
__________________


...::: the Vietnamese Jrock Forum :::...
http://ichibanvn.net/
  #2  
Old 07-12-2008, 09:53
zing_ruby's Avatar
zing_ruby zing_ruby is offline
[B] Z' XIII
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Venus Angel Kaze no fukiya (Dart of Wind) Pink iPod tan Angel Classic 
Venus Angel God Angel Orange iPod tan Đá cấp 1: Cat's eye 
Tổng số huy hiệu: 14
Tham gia ngày: 07-11-2007
Bài gửi: 2,081
Cấp Độ: 90
Rep: 4293
zing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond reputezing_ruby has a reputation beyond repute

Gửi tin nhắn qua Yahoo chat tới zing_ruby Gửi tin nhắn qua Skype™ tới zing_ruby
.::Visual Kei::.

.::Visual Kei::.



Visual Kei (hay Visual Style) là một trong những nét văn hóa rất đặc biệt của Nhật Bản. Từ khi X Japan được thành lập và bắt đầu biểu diễn ở ngoài nước cho đến nay, Visual Kei đã phát triển nhanh chóng và phân ra thành các nhánh khác nhau, kể cả phong cách Gothic Lolita cũng là một loại của Visual Kei. (*) Người nghệ sĩ Visual Kei luôn được các fan đặc biệt chú ý tới, đặc biệt là cho trang phục của họ.

(*) Nói thêm một chút nha: Các bạn đừng lầm lẫn Gothic Lolita trong nhánh thời trang Lolita với Gothic Lolita trong Visual Kei. Tuy giống nhau về mặt hình thức quần áo nhưng khác nhau về mặt tính chất. Nếu trong nhánh Lolita, Gothic Lolita chỉ là 1 nhánh nhỏ, thì trong Visual, Gothic Lolita là một mảng thời trang lớn xuất hiện rất nhiều, bao gồm EGA, EGL và Kuro Loli, Ichi đã từng giải thích và đã viết kĩ bên dưới, các bạn đọc cẩn thận nhầm lẫn giữa hai phong cách nha!

Các nhánh của thời trang Visual Kei



Visual Kei Androgyny.

“Androgyny” hay “Androgynous” có nghĩa là “lưỡng tính” , hay “ái nam ái nữ”. Visual Kei thời “sơ khai” đặc biệt tập trung vào những trang phục nữ giới, những kiểu tóc vĩ đại với màu chói, và make-up thật đậm. Việc nam giới mặc đồ của phụ nữ, sơn móng tay và đeo nhiều trang sức đã trở thành “chuyện thường ngày”.



X Japan




Hide




Dir en Grey




Due’le Quartz


Những cử chỉ “xoắn xuýt” giữa các anh jai Jrockers trên sân khấu, gọi là “fanservice” hay còn gọi là phục vụ các fangirls cũng trở thành “mốt”, và vẫn được hưởng ứng nhiệt liệt cho đến tận bây giờ.

_______________

Kote Kei


Là những band Visual Kei thuần nhất, nguyên bản với kiểu trang phục kiểu Visual.

Ichi xin giải thích một chút với các bạn về khái niệm "visual trong visual" này. Visual Kei vốn là một phong cách lớn gắn liền với các nghệ sĩ Jrock. Các trang phục được các nghệ sĩ Jrock sử dụng sẽ được ghép vào là "thời trang của Visual Kei", nhưng thực chất thời trang Visual Kei chính là thứ trang phục mà nghệ sĩ Jrock sẽ mặc, chứ bản thân Visual Kei không phải là "một loại trang phục", một dòng trang phục như là Lolita chỉ có một kiểu.

Trong dòng trang phục lớn này có nhiều kiểu trang phục: Gothic, Punk, Lolita, và Visual, vv.. Và kiểu quần áo visual này thường thấy ở các band Kote kei, có thể miêu tả sơ qua: Rất cầu kì, có nhiều chi tiết, sử dụng nhiều họa tiết nhằng nhịt và các mảng màu đối chọi, rất thành công trong việc nêu bật lên sự hoành tráng của ban nhạc. Các chất liệu sử dụng đa dạng, phối nhiều kim loại, dây da, lỗ ore tạo cảm giác nhức mắt gây hiệu ứng visual effect và đặc biệt nhiều phụ kiện. Các bạn có thể xem hình, ngay lập tức sẽ nhận ra kiểu đặc trưng của Visual.




D




Phantasmagoria

_____________

Angura Kei

Angura: Bắt nguồn từ từ Underground, nghĩa là "ngầm". (“underground” đọc theo kiểu tiếng Nhật là “andaaguraundo”). Đây là một sự dịch chuyển nền văn hóa ở Nhật từ những năm 1960 và có ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật kịch sân khấucủa Nhật. Nó cũng tác động lên nhiều tác giả manga muốn tìm một phong cách riêng cho thế giới quan sáng tác của mình. Phong cách này cũng có liên quan đến Eroguro nhưng sự khác biệt nhất là Angura bình thường hơn và mang tính chất u tối hơn Eroguro.

Angura thuộc phong cách mà người mặc có xu hướng thiên về tôn vinh những nét trang phục truyền thống. Các trang phục truyền thống của Nhật Bản như Kimono (Inugami circus dan), đồ pháp sư điện thờ (Onmyouza) được các Angura band sử dụng thường xuyên. Onmyouza... onmyouji có ai còn nhớ bé Subaru trong Tokyo Babylon mặc gì không? Band nhạc Onmyouza cũng sử dụng loại trang phục này cho biểu diễn đó. Một loại trang phục nữa đi kèm là đồng phục đại cán (đồng phục nam sinh Nhật Bản từ xưa, có cổ dựng cao, màu đen và hàng cúc màu trắng).

Có thể nói Angura Kei đã sử dụng phong cách thời trang Wamono làm trang phục diễn cho mình. Giới thiệu sơ qua: Wamono là phong cách thời trang dùng kimono chính thống hoặc cách điệu vài chi tiết. Phong cách này hiện giờ đã tách ra thành một nhánh lớn, bao hàm cả Wa-lolita trong đó. Sở dĩ có phong cách Wamono bởi vì không chỉ có Lolita hay Visual sử dụng kimono như trang phục, mà còn rất nhiều biến thể của kimono như các cô gái Shibuya: Gyaru, Ganguroo cũng cách điệu Kimono theo cách riêng để làm đẹp.






Onmyouza




Kagrra

_____________


Eroguro (Shironuri Kei)


Cái tên eroguro xuất phát từ hai từ "erotic"- gợi tình "grotesque"- đáng ghê tởm. Nếu như các bạn còn nhớ phong cách Erololi và Gurololi thì các bạn sẽ hiểu được tính chất của phong cách này. Phong cách này thường sử dụng ngoại hình bệnh hoạn, máu me, diễn tả những cảm xúc méo mó, điên loạn, phô ra những sự xấu xa và góc tối của tâm hồn. Nếu như ở các phong cách Loli chỉ là hình ảnh những con búp bê bị vỡ, những đứa trẻ bị bỏ rơi, thì ở Eroguro hẳn sẽ là những con quái vật, những kẻ giết người.

Đối với Eroguro, có lẽ thời trang không hẳn là danh từ đúng để nhắc đến, nó thiên về thứ "fetish" nhiều hơn, sử dụng những loại quần áo rách rưới, da bó sát, lỗ ore, những màu sắc gợi ám ảnh và đối chọi như đen đỏ để tạo cảm giác. Nếu nó được coi là đẹp, thì đây là một cái đẹp nguy hiểm và gây sợ hãi.

Phong cách này không có thể loại quần áo đặc trưng, để nhận ra phong cách này thì việc cảm giác thông qua những ấn tượng của các nghệ sĩ là cách duy nhất. Nhưng Eroguro rất dễ nhận ra.




D'ESPAIRSRAY
____________________


Oshare Kei


“Oshare” nghĩa là “fashionable” – đúng mốt, hợp thời trang. Và đó cũng chính là đặc điểm của Oshare Kei. Oshare dùng nhiều màu sắc, chủ yếu là các màu sáng, và dùng nhiều “thời trang đường phố” hơn là Visual Kei điển hình. Ranh giới giữa Oshare Kei và Visual Kei đang dần bị xóa mờ, vì ngày càng nhiều nhóm nhạc Visual từ bỏ trang phục “phụ nữ” và tiến đến cái gì đó “nam tính” hơn. Tuy nhiên sự nam tính này không được đo lường bằng độ hồng hường trái tim và những thứ kute khác X3




An Cafe




Kra




LM.C




SuG

___________________

Koteosa Kei


Phong cách này có sự pha trộn giữa Oshare Kei Kote Kei: Trang phục Visual và màu sắc tươi sáng sặc sỡ



Shoujo Lolita 23q




Ayabie


___________________


Koi Kei X

Koi là tình yêu , Kei là Phong cách, X là sự nhiễm độc. Đây cũng là một nhánh xuất hiện sau của Visual Kei (khoảng những năm 2000 hay 2001). Phong cách ăn mặc của Koi Kei X là Punk Nhật. Ichi sẽ có một chuyên đề giới thiệu riêng về Punk sau nha, còn Punk Lolita mới chỉ là một phần nhỏ nhỏ nhỏ xíu của Punk mà thôi~




the GazettE




Miyavi

_______________


Kurofuku Kei

Kurofuku nghĩa là trang phục tối màu (kuro = đen, fuku = trang phục).
Phong cách ăn mặc của Kurofuku Kei là sử dụng những trang phục thông thường như Vest,... tối màu, tạo cảm giác tăm tối, u ám. Phong cách này không để cập đến kiểu dáng quần áo, mà chỉ là màu sắc, cũng giống như White Kei phía dưới.




Buck-tick

_________________


Gothic Lolita

Bắt nguồn từ dòng gothic, tiêu biểu là Malice Mizer hay Schwarz Stein, Velvet Eden.




Malice Mizer




Schwarz Stein




Velvet Eden


Những nghệ sĩ theo phong cách Gothic Lolita (hay GothLoly – được phát âm là Gosurori ở Nhật), ăn mặc và trang điểm bằng những gam màu tối, làm toát lên sự u sầu, buồn bã. Phong cách này trở nên cực kì phổ biến nhờ sự xuất hiện của thần tượng guitar Mana, người mà sau này đã thành lập hãng thời trang riêng cho mình theo phong cách Gothic. Tạp chí The Gothic & Lolita Bible đã rất được ưa chuộng không chỉ bởi những bạn trẻ Nhật Bản.
Trong dòng Gothic Lolita có một số nhánh nhỏ như:

Elegant Gothic Lolita ( Tao Nhã ) và Elegant Gothic Aristocrat ( Quý Tộc ) – có ảnh hưởng rất lớn. Trào lưu này được chính Mana khởi xướng.

Kurololi: “Black Lolita” – Lolita màu đen. Khái niệm này chắc các bạn không còn lạ gì sau loạt bài giới thiệu về Gothic Lolita rồi heng ^^.


White Kei:


Trong phong cách này, màu sắc là cái được đề cập đến: các ca sĩ chính sẽ mặc trang phục màu trắng, bất kể là kiểu gì cũng được chấp nhận: vest, punk, visual...






Renter En Soi


Chipoo ,Múp
(Dịch và tổng hợp)


Nguồn:ichinews.acc.vn
  #3  
Old 18-05-2010, 10:03
miyaku_no_hate's Avatar
miyaku_no_hate miyaku_no_hate is offline
Pawn
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Tham gia ngày: 16-12-2007
Bài gửi: 154
Cấp Độ: 8
Rep: 369
miyaku_no_hate không cao nhưng mọi người phải ngước nhìnmiyaku_no_hate không cao nhưng mọi người phải ngước nhìn

Gửi tin nhắn qua Yahoo chat tới miyaku_no_hate
khái quát lịch sử hình thành và phát triển của J-Rock

chả biết để cái này ở đâu nên tôi tạm đặt ở đây, nếu sai chỗ nhờ mod dịch chuyển hộ.

J-Rock, từ quá trình còn là một bào thai đến giờ, cũng đã có một tuổi đời kha khá. Trong bài viết này, tôi sẽ viết một cách khái quát nhất có thể. Từ khi J-Rock còn ẩn mình đâu đó cho đến bây giờ.

J-Rock bắt đầu từ đâu, khi nào, thì thú thực tôi chưa biết cụ thể là như thế nào. Trên mạng cũng nhan nhản những bài viết về lịch sử J-Rock, nhưng đa phần đều không rõ ràng và có đôi chút sai lệch về kiến thức. Có lẽ J-Rock bắt đầu từ những năm 60, khi mà những band mang hương vị phương Tây như The Beatles, Led Zeppelin, Bob Dylan hay The Rolling Stones có những live show ở Nhật. Từ đó hình thành ra những band nhạc chuyên đánh lại những bài của họ. Có thể nói J-Rock đã bắt đầu từ những nhóm "chuyên chơi lại" này.

Về thủa sơ khai, J-Rock vẫn nằm trong cái vỏ bọc của thứ âm nhạc mang tên Goup Sounds (G.S) mang đậm ảnh hưởng của The Beatles, một số bands tiêu biểu thời này có thể kể đến The Tigers (http://www.youtube.com/watch?v=t4Ol7s0GzJY) hay The Spiders. Sau đó, J-Rock tiếp tục phát triển với thể loại Psychedelic/Space Rock vào khoảng cuối những năm 60. Trong thời gian này đã sản sinh rất nhiều band và trong đó tiêu biểu là The Mops (band chơi psychedelic đầu tiên của Nhật) Jacks với album Vacant World (http://www.youtube.com/watch?v=bgQyW5bn4is), Les Rallizes Denudes, 1 band nhạc "kinh điển" vì cái thể loại psychedelic noise/proto-punk rất cực đoan của họ (http://www.youtube.com/watch?v=xiTW6jr4mGo) (ngoài ra, Les Rallizes Denudes còn nổi tiếng về cách sắp đặt cái live show của họ và tay bassist cũng từng tham gia vào vụ không tặc 351). Và sau này cũng có Fushitsusha, High Rise chơi thể loại tương tự.Taj-Mahal Travelers thì chơi một loại psychedelic/avant-garde rất quái đản (http://www.youtube.com/watch?v=Il_2J4I9lE4). Progressive Rock thì có Far East Family Band (và đó cũng là band chơi progressive/space rock đầu tiên của Nhật). Từ đó, Group Sounds bắt đầu bị đào thải dần.

Song song với psychedelic, folk rock cũng xuất hiện vào thời điểm này, nhưng chưa được rõ ràng, phải đến đầu những năm 70, những band như Happy End (bassist của Happy End - Haruomi Hosono, sau này trở thành một trong ba thành viên của Yellow Magic Orchestra - 1 band tiên phong trong thể loại electro-pop Nhật), và những band đến từ vùng Okinawa như Champloose mới làm nó trở nên nổi tiếng.

Kết thúc những năm 60s, khi mà bước vào những năm 70, ảnh hưởng Black Sabbath, hay trào lưu New Wave Of Brtitish Heavy Metal đã đánh vào Nhật. Và sau đó, những tour diễn vòng quanh thế giới của AC/DC, Judas Priest hay Iron Maiden đã đưa người Nhật tiếp cận đến với Metal. Về cơ bản, J-Rock đã có một bước ngoặt khá rõ rệt tại thời điểm này, khi khái niệm metal hay hard rock bắt đầu trở nên rõ ràng. Và theo như những gì tôi biết, band metal đầu tiên của Nhật, đó là BOW WOW (sau đổi tên thành VOW WOW, tuy vậy, đến năm 1995 thì lại trở thành BOW WOW). BOW WOW được thành lập vào năm 1975. Cho đến giờ, họ được công nhận là band hard rock/heavy metal lâu đời nhất của Nhật (từ 1975 và vẫn active đến giờ) và có tầm ảnh hưởng quan trọng đối với J-Rock.
Trong thời kì này, ngoài sự tấn công của metal vào Nhật, các thể loại từ năm 60 vẫn tiếp tục phát triển, nhất là thể loại garage rock/punk, cùng với punk movement từ Anh như The Clash, Sex Pistols, Ramones, tạo tiền đề cho hardcore và punk phát triển mạnh mẽ tại Nhật.

Những năm 80 được đánh giá là thời kì phát triển mạnh mẽ nhất của J-Rock. Thời kì này đánh dấu sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của nhiều thể loại, đặc biệt là dòng nhạc metal, điều này đã tạo một sự phân hóa mạnh. Thời kì này được coi là đỉnh cao của heavy/speed/thrash metal và hard rock. Đầu tiên là phải kể đến 2 cột trụ xuất hiện đầu tiên sau BOW WOW là Loudness (1980) và Anthem (1980), cả hai đều chơi thể loại heavy metal mang nhiều dáng dấp của Iron Maiden, Judas Priest hay Def Leppard. BOW WOW thì đạt đến đỉnh cao khi được "xuất ngoại" với hai album "Warning From Stardust" và "Asian Volcano". Rồi những band heavy metal/hard rock như AION, Hellen, 44MAGNUM. Sau heavy metal là sự xuất hiện của những band thrash/speed metal như X Japan, DOOM, Casbah, Flatbacker (sau này là EZO), Sabrabbells, Sex Machineguns đã thực sự đưa dòng thrash/speed metal lên đến đỉnh cao, và đánh dấu sự xuất hiện của hai lực lượng metal đối đầu nhau đến từ vùng Kanto và Kansai .

Cùng với thời kì này, một số band khác lại đi một con đường riêng rẽ, không chạy theo trào lưu thrash/speed metal đang làm mưa làm gió trong nền underground metal bấy giờ, đó là những band chơi thể loại dễ nghe hơn, hòa hard rock với những chất liệu khác để tạo thành một giai điệu nghe rất catchy và trở thành mainstream như BOØWY, BUCK-TICK, B'z, GLAY.

Một điều đáng nói trong thời kì này, đó chính là sự xuất hiện của những người tạo ảnh hưởng đến J-Rock, đáng ghi nhận nhất là Kiyoshiro Imawano (忌野清志郎), người được coi là "David Bowie của Nhật" hay "Japan’s King of Rock” vì đã đưa những tinh túy của tiếng Nhật vào âm thanh của mình. Đồng thời ông cũng là thủ lĩnh của band RC Succession, một trong số những rock band thành lập sớm nhất ở Nhật (1966) và ít nhiều có ảnh hưởng đối với J-Rock thời bấy giờ. Ngoài ra, trong những năm 80 này còn có Yoshiki (X Japan) Tomoyasu Hotei (布袋寅泰 - guitarist của BOØWY ) Ryuichi Sakamoto (Yellow Magic Orchestra*) và rất nhiều, rất nhiều những người khác đã có những đóng góp nhiều J-Rock nói riêng và nền âm nhạc Nhật nói chung.
(*=Tuy Ryuichi Sakamoto là từng ở trong Yellow Magic Orchestra - 1 band electropop tiên phong của Nhật nhưng vì ông cũng compose nhiều cho những người khác và trong đó có một số rock band nên tôi vẫn đưa tên vào).

Năm 80 còn đánh dấu sự xuất hiện của Visual Kei với những band đã đưa hình ảnh này đến với công chúng như X Japan, Dead End, D'ERLANGER và những band khác. Vì visual kei đã có nhiều bài rồi nên tôi chỉ nói lướt qua chỗ này.

Ngoài những thứ trên ra, J-Rock còn xuất hiện thêm các thể loại khác như Black Metal, Symphonic/power metal hay neo-classical metal. Đầu tiên phải nói đến Sabbat, có thể coi Sabbat là band đầu tiên chơi black/thrash metal với âm hưởng của Venom, Bathory hay Celtic Frost. Và Sabbat cũng tạo một số ảnh hưởng đến những band chơi black metal sau này. Thêm một điều nữa, thể loại noise đã trở thành một scene được thế giới công nhận và có hẳn một tên riêng "Japanoise". Nổi tiếng nhất là Merzbow, solo project của Masami Akita, một người chịu ảnh hưởng của phong cách dada và junk-art. Ngoài ra còn có The Gerogerigegege, Masonna, Hanatarash, Incanpacitants. Những "nghệ sĩ noise" này ít nhiều tạo được ảnh hưởng cả ở trong nước lẫn ngoài thế giới. Và noise vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển xa hơn nữa và biến hóa thành rất nhiều thể loại khác nhau.

Như đã nói ở trên, punk movement từ Anh với The Clash, Sex Pistols, Ramones, và hardcore scene với garage rock từ Mỹ đều đã đổ bộ vào Nhật. Và từ tiền đề đó, Nhật đã cho ra đời thể loại hardcore và nó trờ thành 1 trào lưu underground rất mạnh ở Nhật. Tiêu biểu trong trào lưu Hardcore Nhật là G.I.S.M (1980 - được coi là band hardcore đầu tiên của Nhật), Gauze (1981) và nổi tiếng nhất là The Stalin(1980). Sau này còn có Paintbox (?) Lip Cream (?) Death Side (1987)

Tạm kết thúc thời kì 80s đánh dấu những sự chuyển biến rõ rệt trong J-Rock. Những năm 90s cũng được coi là một thời kì quan trọng khi trào lưu Visual kei trở nên phát triển, cộng với sự xuất hiện, phát triển và phân hóa giữa những thể loại khác nhau.

Trong thời kì này, điều đáng nói đầu tiên là sự xuất hiện của Sigh. Sigh được coi là thủ lĩnh trong nền exetreme metal của Nhật, vì những gì họ làm, ảnh hưởng của họ. Âm nhạc của họ mang những âm hưởng của Hellhammer, Venom, Mercyful Fate hay Mayhem, đồng thời kết hợp nhiều chất liệu khác nhau, tạo nên một dấu ấn rất riêng và không gây nhàm chán.
Ngoài ra, Death Metal cũng đã xuất hiện trong thời kì này. Theo như tôi biết, Subconscious Terror được coi như là band death metal đầu tiên (tôi nhớ còn một band đánh grind ra đời sớm hơn cả band này nhưng tôi không tìm được thêm thông tin nên tạm cho Subconscious Terror là band death metal đầu tiên). Tuy vậy, death metal thời kì này vẫn chỉ là thai nghén, chưa có một cái gì rõ ràng cả.
Ngoài ra, trong thời kì này, tôi cũng xin dẫn ra một số mốc thời gian quan trọng trong nền J-Rock
-X Japan thay đổi âm thanh của mình, từ thuần speed/thrash metal đã chuyển sang progressive metal/avant-garde. Bằng chứng rõ ràng nhất là Art Of Life. Cũng trong thời kì này, X Japan tan rã và hide mất.
-Rất nhiều band mà sau này họ có những vị trí hết sức quan trọng trong nền J-Rock được thành lập. Điển hình như Boris (1992 - chơi các thể loại rất đa dang, từ dòng drone cực đoan đến stoner/sludge/psychedelic với ảnh hưởng của Melvins), Mono (1999 - khởi đầu cho dòng chảy post-rock Nhật), và các band visual kei như Dir en Grey, Malice Mizer. Luna Sea. Hoặc những band chơi pop rock/alternative rock, pop punk như BEAT CRUSADERS, Asian Kung-fu Generations.

Nhắc lại đôi điều rằng thể loại psychedelic rock vẫn còn âm ỉ chảy, trong đó band Acid Mother Temple do Kawabata Makoto lãnh đạo và đạt được nhiều thành công. Hardcore thì đã xuất hiện nhiều bước tiến mới, và một số band visual kei đã sử dụng các chất liệu của hardcore sau này (như the gazettE).

Tạm kết thúc những năm 90 cuối thể kỉ 20. Đến bây giờ, J-Rock đã có nhiều bước tiến mới mẻ. Đầu tiên là về underground extreme metal càng ngày càng vững chắc. Với Black Metal thì xuất hiện những band chơi raw và lược bỏ những thể loại khác trong black như Endless Dismal Moan, Ghoul/Glueh và Gallhammer (ai biết đc con gái cũng chơi được black metal ). Death Metal thì phát triển với những band chuyên chơi slam deathm brutal death hay grind như Infected Malignity, Infernal Revulsion, Gorevent, Abort Mastication, Vomit Remnants, Intestine Baalism, Defiled, vân vân. Power Metal thì nổi bật hơn hẳn với sự xuất hiện của Galneryus (2001 - phải nói Galneryus chơi power metal rất chất). Symphonic/neoclassical metal thì có Ark Storm và Versailles.

Về visual kei thì xuất hiện cũng rất nhiều band và visual kei được phát triển thành nhiều thứ khác. Và đến giờ, visual kei đã ảnh hưởng đến lối chơi nhạc của các band. Ví dụ như thể loại Oshare Kei, Angura Kei đều ít nhiều ảnh hưởng đến phong cách họ chơi. Tuy với Dir en Grey, từ sau khi họ bỏ lốt visual kei từ Vulgar thì những album về sau của họ đều rất đáng nghe và có thể khẳng định rằng càng về sau Dir en Grey càng chất, đỉnh cao nhất là hiện nay với UROBOROS.

Về post-rock, sau khi Mono "khai thông dòng chảy" thì đã xuất hiện rất nhiều band chơi thể loại này, đầu tiên phải kể đến những band chơi post-rock có kết hợp các chất liệu khác nhau như té, Toe, Downy, Miaou, World's End Girlfriend, Kashiwa Daisuke, Eksperimentoj, Sgt. và vô vàn những band post-rock chất lượng khác. Tuy nhiên, Mono vẫn được coi là band nổi tiếng nhất và tạo được nhiều ảnh hưởng nhất (chắc có cộng sự thành công của Girugamesh, The GazettE, MUCC và D'espairRay vào chắc mới bằng được những gì Mono đã làm).

Các alternative rock, pop rock, pop punk thì đạt được sự thành công lớn về mainstream, tiêu biểu là UVERworld, hay Asian Kung-Fu Generations, BEAT CRUSADERS, Ellegarden, Abingdon Boys School, L'arc~en~ciel. Ngoài ra còn có sự thành công của Maximum the Hormone. HIGH and MIGHTY COLOR, ORGANGE RANGE, Aqua Timez, và rất nhiều các band khác.

có thể nói hiện nay, J-Rock đã trở nên rất phát triển, rất đa dạng với nhiều sắc thái khác nhau. Và hơn hết nữa, J-Rock được thế giới ghi nhận và kéo theo hàng triệu triệu fan từ khắp mọi nơi trên thế giới. Bài viết khái quát về lịch sử hình thành và phát triển J-Rock của tôi tạm kết thúc tại đây. Nếu rảnh tôi sẽ tiếp tục đi chuyên sâu vào các vấn đề khác nhau. Rất mong các bạn góp ý để tôi rút kinh nghiệm. cám ơn các bạn đã bỏ thời gian đọc.

written by me - amphibious7 (aka miyaku_no_hate, Zaizie Rainyday)
feel free to copy/paste, translate, but please credited
__________________
Trích:


thay đổi nội dung bởi: miyaku_no_hate, 15-07-2010 lúc 21:38
  #4  
Old 29-06-2011, 22:13
miyaku_no_hate's Avatar
miyaku_no_hate miyaku_no_hate is offline
Pawn
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Tham gia ngày: 16-12-2007
Bài gửi: 154
Cấp Độ: 8
Rep: 369
miyaku_no_hate không cao nhưng mọi người phải ngước nhìnmiyaku_no_hate không cao nhưng mọi người phải ngước nhìn

Gửi tin nhắn qua Yahoo chat tới miyaku_no_hate
indie rock Nhật Bản

mình ko biết nên đặt bài này ở đâu, nếu mod thấy để sai vị trí thì move hộ mình Bài mình viết hơi kém về mặt trình bày và chữ nghĩa, mong các bạn thông cảm bỏ quá cho

Indie, viết tắt của independent, thể hiện sự độc lập của các band nhạc trước các hãng thu âm lớn (major record). Do sự độc lập và không bị ràng buộc vào các hãng thu âm lớn nên các band indie được tự do thể hiện phong cách riêng của mình hơn. Nếu nói về indie scene của Nhật Bản thì khá là rộng lớn và bát ngát nên tác giả sẽ chỉ viết về indie rock với khoảng thời gian thời gian bắt đầu từ khi Les Rallizes Denudes xuất hiện cho đến bây giờ (Nếu ai tìm hiểu về Les Rallizes Denudes sẽ hiểu lý do tại sao người viết lại lấy cái mốc từ khi band xuất hiện)



Nói qua về thập niên 60, khi “Beatles Mania” nổ ra, Nhật Bản cũng không phải ngoại lệ. Hàng loạt các band Group Sound (G.S) mang tính “trường học” xuất hiện. Các band thường chỉ chơi trong các lễ hội trường, các festival. Tuy nhiên, thời kì G.S cũng bị đào thải nhanh chóng vì sự lặp đi lặp lại đến nhàm chán của các band và nhường chỗ cho các thể loại mới như Psychedelic Rock, Progressive Rock.


The Spiders (ザ・スパイダース) - Một trong những band Group Sound nổi tiếng nhất thời bấy giờ

Sự xuất hiện của Les Rallizes Denudes trong khoảng giữa thập niên 60 như là một bước ngoặt lớn đối với âm nhạc Nhật Bản nói chung. Là một trong những band “ẩn dật” nhất và khá ít được biết đến, nhưng band gây ảnh hưởng mạnh bởi cách chơi nhạc rất táo bạo và mới lạ (đến nhức óc) chịu ảnh hưởng của The Velvet Underground và The Stooges. Các ghi âm của band đều đa phần là live bootleg và rất ít được dán nhãn official. Band cũng thường biểu diễn ở những nơi như ở vùng núi cao, hay ở các buổi biểu tình của các nhóm chính trị thuộc cánh tả (đỉnh điểm là vụ không tặc của bassist). Sự ảnh hưởng của band đã giúp đưa những dòng nhạc mang tính thể nghiệm cao đến gần với Nhật Bản hơn và góp phần cho sự xuất hiện của những người như Keiji Haino và P.S.F Record.


Mizutani Takeshi - Les Rallizes Dénudés

Vanity Record và Nagomu Record



Vanity Record được thành lập bởi Agi Yuzuru, nhà phê bình\biên tập viên của tờ tạp chí ROCK MAGAZINE. Vanity Record được coi là một trong những hãng indie record mang ảnh hưởng lớn trong underground music scene Nhật Bản với những band mang phong cách post-punk như Aunt Sally hay những band Electro chịu ảnh hưởng của Brian Eno như DADA, SAB, BGM, RNA ORGANISM….


s/t album của Aunt Sally


Nagomu Record được thành lập bởi Kera – vocalist của band Uchoten. Nagomu Record là indie record nổi tiếng với những band mang phong cách New Wave mang tính thể nghiệm như Tama, Jinsei (sau này là Denki Groove), Picky Picnic hay Kinniki Shoujo tai. Sự ảnh hưởng của “âm thanh Nagomu” đã tạo ra một trào lưu mới và ít nhiều ảnh hưởng đến visual kei sau này và cả phong cách Lolita.


Uchoten (有頂天)


indie rock tầm giữa tới cuối thập niên 80; thập niên 90 và bây giờ


Thập niên 80 và 90, cơn bão của Alternative Rock, Britpop và Grunge cùng các thể loại khác như Post-rock, Shoegaze đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến âm nhạc Nhật Bản. Có thể nói đây là khoảng thời gian mà indie rock Nhật Bản có những biến chuyển mạnh mẽ nhất với sự xuất hiện của những band chịu ảnh hưởng của âm nhạc Âu Mỹ. Nổi tiếng nhất thời kì này có lẽ là the pillows và NUMBER GIRL (thú thực ai nghe indie rock Nhật mà không biết đến hai band này thì nên xem lại), cả hai band đã giúp khẳng định “âm thanh” của indie rock Nhật Bản thời điểm đó và đến giờ họ vẫn mang ảnh hưởng lớn đến indie rock scene Nhật Bản. Ngoài ra thời kỳ này cũng đã kéo indie scene đến gần thị trường mainstream hơn như Base Ball Bear, RADWIMPS… đều được các major label ký kết những hợp đồng thu âm lớn.


Swinging Popsicle


Các band indie rock nên tìm hiểu (ở đây chỉ đề cập những band indie rock mới, từ thập niên 90 đến bây giờ, cũng xin bỏ qua mảng visual kei do mình không nghe mảng đó nhiều, vả lại mình tin rằng đã có nhiều bài viết giới thiệu tỉ mỉ về mảng đó rồi nên mình mạn phép bỏ qua)

NUMBER GIRL

đã nói ở trên

recommend album: NUN-HEAVYMETALLIC/School girl Distortional Addict


Number Girl


The Pillows

đã nói ở trên

Recommend album: Little Busters/Happy Bivouac


The Pillows


Midori (ミドリ) (không biết đến band này thì hơi phí)

Được thành lập từ năm 2005, Midori được coi là một band nhạc rất táo bạo khi kết hợp chất nổi loạn, mạnh mẽ của hardcore với chất ngẫu hứng của Jazz cùng với enka, Kabuki. Vocalist của nhóm – Mariko Goto sử dụng vocal từ kiểu hát dễ thương đến scream, growl rất hoang dã, mạnh mẽ mang ảnh hưởng của Jun Togawa. Một band không nên bỏ qua.

Recommend album: Aratamemashite, Hajimemashite, Midori desu/First/Second


Midori




MASS OF THE FERMENTING DREGS

Nếu ai hay chú ý về các band nhạc Nhật thì sẽ thấy MASS OF THE FERMENTING DREGS là cái tên thường xuất hiện. Mang ảnh hưởng của Shoegaze và cả Post-Rock, MASS OF THE FERMENTING DREGS đã gây được chú ý ngay từ debut album. Một band không nên bỏ qua

Recommend album: MASS OF THE FERMENTING DREGS/Zero Comma, Irotoridori no Sekai.


MASS OF THE FERMENTING DREGS



Rin Toshite Shigure (凛として時雨)

Thành lập từ năm 2002 tại Saitama, Rin Toshite Shigure pha trộn nhiều thể loại từ Post- Hardcore đến Progressive Rock với nhịp trống phức tạp, ngẫu hứng và nhịp được thay đổi liên tục. Rin Toshite Shigure nhận được nhiều lời khen ngợi và họ đã thành lập một label cho riêng họ mang tên Nakano Record. Một band không nên bỏ qua.

Recommend album: Inspiration is DEAD/Still a Shigure Virgin?


Rin Toshite Shigure




9mm Parabellum Bullet

Thành lập từ năm 2004, 9mm Parabellum Bullet cũng chơi thể loại post-hardcore tương tự Rin Toshite Shigure nhưng kết hợp thêm cả surf rock với tiếng slide guitar của Yoshimitsu Taki.

Recommend album: Vampire/Termination


9mm Parabellum Bullet



Ogre You Asshole

Thành lập từ năm 2001 tại Nagano, Orge You Asshole chơi thể loại post-punk, indie rock chịu ảnh hưởng của Modest Mouse, Fugazi, Talking Heads, Television… Với tiếng guitar đặc trưng của Mabuchi Kei và giọng hát của Deto Manabu, Ogre You Asshole đã khẳng định vị trí mình trong indie rock scene Nhật Bản. Một band không nên bỏ qua.

Recommend album: Ogre You Asshole/Fog Lamp


Ogre You Asshole



Luminous Orange

Thành lập vào năm 1992 tại Yokohama bởi Takeuchi Rie. Luminous Orange chơi thể loại shoegaze/dream pop mang ảnh hưởng của My Bloody Valentine, Pale Saints với lyric chủ yếu bằng tiếng Anh. Trong suốt quãng thời gian hoạt động của mình, Luminous Orange đã hợp tác với nhiều band nổi tiếng và nhận được nhiều lời khen ngợi.

Recommend album: Drop You Vivid Colour/Shakura Swirl


Takeuchi Rie - Luminous Orange



Cruyff in the Bedroom

Thành lập từ năm 1998 tại Shimokitazawa. Cruyff in the Bedroom chơi thể loại Shoegaze/dreampop mang nặng ảnh hưởng của My Bloody Valentine nhưng các album về sau đã mở rộng thêm về thể loại và không chỉ dừng lại ở shoegaze.

Recommend album: Perfect silence/saudargia


Cryuff in the Bedroom



School Food Punishment

Thành lập vào cuối năm 2004. School Food Punishment là một band indie pop khá độc đáo với phong cách hòa trộn giữa electro-pop/rock, lounge Jazz và các thể loại khác. Một band không nên bỏ qua.

Recommend album: Amp-Reflection/School Food is Good Food.


School Food Punishment



Base Ball Bear

Thành lập từ năm 2001 với mục đích là chỉ đơn giản là biểu diễn trong các festival của trường. Nhưng Base Ball Bear đã trở thành một band hoàn chỉnh chơi indie rock với ảnh hưởng của NUMBER GIRL, the pillows và sau đó đã chuyển sang hãng major label EMI Japan

Recommend album: Band B ni Tsuite/High Color Time/1235


Base Ball Bear



Seagull Screaming Kiss Her Kiss Her

Thành lập vào năm 1992, âm nhạc của Seagull Screaming Kiss Her Kiss Her lúc đầu mang phong cách indie rock và sau đó kết hợp thêm các chất liệu của Shibuya-kei. Lyric được viết hoàn toàn bằng tiếng Anh và được Higurashi Aiha thể hiện một cách hoàn hảo. Tuy tan rã vào năm 2002, nhưng Seagull Screaming Kiss Her Kiss Her đã có một fanbase vững vàng ở trong Nhật Bản và ở nước ngoài. Đồng thời các thành viên khác cũng có một sự nghiệp solo khá thành công

Recommend album: Red Talk/Furture or No Furture/No! No! No Star 2000


Seagull Screaming Kiss Her Kiss Her



Tsushimamire (つしまみれ)

Thành lập vào năm 1999. Tsushimamire đã tạo được lối đi riêng của mình với phong cách âm nhạc kết hợp giữa hard rock, funk, pop punk, surf, ska với lyric thường hài hước hoặc gây phản cảm, tạo ra một âm thanh rất riêng và đa dạng. Band đã đi lưu diễn tại nhiều nơi bên Mỹ cùng những girlband khác và tạo được thành công vang dội, góp phần khẳng định vị thế của mình trong indie rock scene và trở thành một trong những girlband độc đáo nhất. Một band không nên bỏ qua.

recommend album: Shoujou Nishin/Sex on the Beach/Giving Blood


Tsushimamire


Soutaiseiriron (相対性理論)

Indie pop/rock band thành lập từ năm 2006 tại Tokyo. Shotaiseiriron được biết đến là một band khá kín tiếng. Họ thường không xuất hiện tại các buổi họp báo và chỉ cho biết rất ít thông tin về các thành viên của band. Tuy nhiên âm nhạc của Shotaiseiriron khá đa dạng, cùng với giọng hát khá ấn tượng của Yakushimaru Etsuko.

Recommend album: Chiffon Shugi/Synchroniciteen


Soutaiseiriron


ART-SCHOOL

ART -SCHOOL là band nhạc indie rock được thành lập vào năm 1200 bởi Kinoshita Riki. Art-school gây được tiếng vang lớn trong indie rock scene Nhật Bản bằng lối chơi mới lạ và nhịp điệu khá catchy.

Recommend album: Paradise Lost/Requiem for Innocence


ART-SCHOOL



Mono

Post-Rock band được thành lập từ năm 1999 tại Tokyo. Mono là một trong những band Post-Rock gây được tiếng vang lớn không chỉ trong Nhật Bản mà còn ở nhiều nước khác. Với phong cách ảnh hưởng từ các thể loại như Shoegaze, Noise, Classical, Mono đã khẳng định được vị thế của mình trong third wave Post-Rock. Một band đáng nghe

Recommend album: You are there/Hymn to the Immortal Wind/One Step More and You Die


Mono


Toe

Thành lập từ năm 2000, Toe chơi thể loại kết hợp giữa Math Rock và Post-Rock. Bằng tiếng delay guitar chậm rãi, đầy cảm xúc và tiếng trống phức tạp, ngẫu hứng, Toe đã tạo ra những âm thanh đầy phá cách, độc đáo và mới lạ. Một band đáng nghe.

Recommend album: A Book About My Idle Plot on a Vague Anxiety/For Long Tomorrow


Toe



World’s End Girlfriend

Là solo project của Maeda Katsuhiko. Đặc điểm của World’s End Girlfriend là sự kết hợp giữa, IDM, Glitch, Classical với Post-Rock tạo nên một thứ âm thanh rất riêng và khó quên. World’s End Girlfriend cũng thực hiện soundtrack cho phim Late Bloomer và Air Doll.

Recommend album: The Lie Lay Land/Hurtbreak Wonderland/Dream End Come True


Maeda Katsushiko - World's End Girlfriend


Envy

Được thành lập từ năm 1992, Envy đã trở thành một band trụ cột và có ảnh hưởng lớn mạnh trong indie scene bởi sự kết hợp độc đáo giữa Post-Hardcore, Screamo và Post-Rock. Đặc trưng của band nằm ở vocalist kết hợp giữa tiếng scream đầy kỹ thuật nhưng đầy cảm xúc cùng với clean vocal.

Recommend album: All The Footprint You’ve Ever Left and the Fear Expecting Ahead/Breathing and Dying in this Place /Recitation


Envy


Với sự rộng lớn và thay đổi không ngừng của mình, indie rock scene Nhật Bản đã khẳng định vị trí của mình và trở thành một phần không thể thiếu của âm nhạc Nhật. Vẫn còn rất nhiều indie pop/rock band đợi bạn khám phá nữa.


Sưu tầm, tổng hợp từ internet. Khi copy/paste xin hãy ghi nguồn

thay đổi nội dung bởi: miyaku_no_hate, 30-06-2011 lúc 10:00
Ðề tài đã khoá

Bookmarks & Social Networks


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 13:09.

Bản quyền oOo VnSharing Group oOo © 2007 - 2012
Vui lòng ghi nguồn VnSharing.net khi bạn dùng các bài viết của site. LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: 0945255655. Mail: hyutars@gmail.com
Powered by: vBulletin Copyright © by 2000-2013, Jelsoft Enterprises Ltd.