oOo VnSharing oOo

Chào mừng đã đến với forum oOo VnSharing oOo.

Bạn chưa đăng kí (hoặc chưa đăng nhập) nên quyền lợi của bạn sẽ bị hạn chế. Việc đăng kí làm thành viên hoàn toàn miễn phí, sau khi đăng kí bạn có thể post bài, tham gia thảo luận, liên lạc với các thành viên khác qua hệ thống tin nhắn riêng, yêu cầu manga/anime... và rất nhiều quyền lợi khác. Thủ tục đăng kí rất nhanh chóng và đơn giản, hãy Đăng Kí Làm Thành Viên!

Nếu bạn quên mật khẩu, xin nhấn vào đây.

Nếu bạn gặp trục trặc trong vấn đề đăng kí hoặc không thể đăng nhập, hãy liên hệ với chúng tôi.
Go Back   oOo VnSharing oOo > Các Box Chung > VnSharing Wikipedia > Manga - Anime

HD cho người mới | ĐĂNG KÍ VIP MEMBER: KHÔNG QUẢNG CÁO, KHÔNG CẦN POST BÀI ĐỂ DOWNLOAD!
Mua sắm bằng Rep! | VnSharing Shop   Facebook


Chính thức đưa host Mega vào sử dụng
Topic giải quyết việc phá forum của mod kẻ lang thang + Clouds-san


Ðề tài đã khoá
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 27-09-2011, 11:16
DMN's Avatar
DMN DMN is offline
 
Lover
Dynamite Natalia
Idol Kaito
Kaito đã trở thành một chàng điển trai luôn ca hát để truyền sự ấm áp của mình cho mọi người xung quanh
SP: 171
Phòng trưng bày huy hiệu
Angel of Charm Silver of Light Kaze no fukiya (Dart of Wind) Memory Seal 
Witch of the Liberal Field Orange iPod tan Red iPod tan Pink iPod tan 
Tổng số huy hiệu: 11
Tham gia ngày: 18-11-2007
Bài gửi: 1,710
Cấp Độ: 9
Rep: 252
DMN là một tấm gương sáng để noi theo

Blazblue

NOTE:
  • Wiki đang trong quá trình hoàn tất
  • Tiến độ: Tùy hứng người dịch
  • Hotlink sẽ sửa sau khi hoàn thành
  • Sử dụng rất nhiều hình kích thước lớn nên trang sẽ load khá lâu với một số bạn










CLICK VÀO ẢNH NHÂN VẬT ĐỂ XEM PROFILE TƯƠNG ỨNG




LƯỢC DỊCH TỪ BLAZBLUE WIKIA


thay đổi nội dung bởi: DMN, 05-01-2012 lúc 18:59
  #2  
Old 27-09-2011, 11:18
DMN's Avatar
DMN DMN is offline
 
Lover
Dynamite Natalia
Idol Kaito
Kaito đã trở thành một chàng điển trai luôn ca hát để truyền sự ấm áp của mình cho mọi người xung quanh
SP: 171
Phòng trưng bày huy hiệu
Angel of Charm Silver of Light Kaze no fukiya (Dart of Wind) Memory Seal 
Witch of the Liberal Field Orange iPod tan Red iPod tan Pink iPod tan 
Tổng số huy hiệu: 11
Tham gia ngày: 18-11-2007
Bài gửi: 1,710
Cấp Độ: 9
Rep: 252
DMN là một tấm gương sáng để noi theo

Arc System Works
Phát triển



JP Arc System Works
NA Aksys Games
EU pQube & Zen United
Phát hành




Toshimichi Mori
Yūki Katō
Thiết kế



Daisuke Ishiwatari
Soạn nhạc


Arcade (Taito Type X²)
PlayStation 3
Xbox 360
Microsoft Windows
Hệ máy





Fighting Game
Thể loại


CERO: B
ESRB: T
PEGI: 12
USK: 12
Ratings








GAME TRAILER



Blazblue (ブレイ ブルー カラミティ トリガー, bureiburū: karamiti torigā) (/ bleɪz blu ː /) là một fighting game được phát triển bởi Arc System works. Tên trò chơi ghép giữa blaze và blue với âm z câm trong phát âm tiếng Nhật, làm nó tương tự với từ "brave"-(dũng cảm) khi phát âm. Trò chơi được phát hành cho hệ Taito Typex2 Arcade System board với độ phân giải 768p tỉ lệ 16:9 vào ngày 19 tháng 11 năm 2008 ở Nhật và 20 tháng 10 năm 2008 ở Mỹ. Bản PlayStation 3 và Xbox 360 được phát hành vào ngày 25 tháng 6 năm 2009 ở Nhật. Bản port cho hệ PlayStation Portable dưới tên BlazBlue Portable phát hành vào ngày 25 tháng 2 năm 2010 ở Nhật, 9 tháng 9 năm 2010 ở Châu Âu. Bản PC ra đời vào ngày 26 tháng 8 năm 2010 ở Nhật và 20 tháng 8 năm 2010 ở châu Âu . Bản PC là bản được hoàn toàn convert từ hệ x360 sở hữu khả năng tương thích đa nền tảng thông qua hệ thống dịch vụ Windows-Live. Phần tiếp theo, BlazBlue: Continuum Shift cũng đã được Arc System Works phát hành cho hệ Arcade, PlayStation 3 và Xbox 360.

Gameplay

 
Blazblue: Calamity Trigger là một game fighting truyền thống với hai nhân vật tham gia vào một cuộc đấu. Một hiệp được gọi là một “Rebel” và một trận đấu bao gồm từ một đến 5 “Rebel”. Để giành chiến thắng, người chơi phải triệt hạ đối phương đến khi thanh health của họ có giá trị bằng không hoặc có trữ lượng health lớn hơn đối phương khi hết thời gian quy định. Mỗi nhân vật đều có 4 đòn đánh cơ bản là : yếu(nhẹ), vừa , mạnh và drive. Drive là đòn đặc biệt phụ thuộc vào nhân vật được sử dụng. Những đòn này còn được gọi ngắn gọn theo thứ tự là : A,B,C,D. Những combo đa dạng có thể được triển khai trên nền tảng của việc phối hợp cẩn thận 4 đòn đánh này. Combo bao gồm hai hoặc nhiều hơn những loạt đánh liên tiếp không để đối thủ vào trạng thái nghỉ ngơi hay phản công. Nếu combo dài hơn có nghĩa những đòn này sẽ gây ít damage hơn và cho đối thủ cơ hội lớn hơn để phản đòn. “Grabs” –( đòn nắm lấy) có thể được sử dụng bằng cách nhấn cùng lúc “B” và “C”. Đôi khi, một số đòn đánh sẽ sử dụng cột heat gauge ở dưới màn hình, đơn vị của cột này được tính bằng số damage nhận đuợc cũng như số damage bạn gây nên cho đối phương. Khi nhân vật có ít nhất 50% heat, chiêu thức đặc biệt mang tên “Distortion Drive” có thể được sử dụng, gây damage rất lớn cho đối thủ. Cùng với các đòn tấn công, mỗi nhân vật được trang bị hai loại “block”- (đỡ,khóa tấn công của đối phương). Loại đầu tiên là các pha block thông thường sẽ bị “guard crush”(đẩy đối thủ về sát phần sân nhà bằng cách liên tiếp tấn công) phá vỡ. Loại thứ hai là một barrier block, sử dụng bằng cách giữ “A” và “B”, barrier block sẽ không bị phá nhưng có một giới hạn thời gian nhất định khi sử dụng nó, được chỉ định bằng cột barrier gauge. Nếu cột này bằng không, người chơi sẽ nhận 150% damage đến khi nó tái tạo một nửa.

Một hình thức chiến thuật nâng cao là “rapid cancel”. Được sử dụng sau bất kì đòn đánh nào , ngay lập tức hủy frame ảnh động và đưa nhân vật về trạng thái nghỉ ngơi, tốn 50% cột heat gauge để sử dụng chúng. ‘Counter’ là chiến thuật dễ hơn để thực hiện: tấn công đối phương để làm gián đoạn việc chuẩn bị tấn công của họ, đồng thời đặt họ vào trạng thái ‘mở’- cơ hội thi triển combo. Nếu người chơi ở tình huống chịu áp lực liên tiếp từ đối thủ, một “Barrier Burst” có thể được sử dụng để đẩy đối thủ ra xa , tuy nhiên người chơi sẽ không còn dung được Barrier Block và nhận 150% damage cho phần còn lại của hiệp đấu. Barrier Burst cũng có thể dung được để phá vòng bảo vệ của đối phương, tất nhiên cái giá phải trả là tương tự, vì thế một barrier burst chỉ có thể được dùng 1 lần 1 hiệp.
Bản home version được bổ sung đòn Astral Heat cho mỗi nhân vật (đòn dứt điểm). Đòn đánh yêu cầu 100% heat gauge và đối thủ có 20% hoặc ít hơn health gauge. Thành công sử dụng đòn này , người chơi sẽ có một Astral Finish.

Nhân vật

 
  • Ragna the Bloodedge
  • Jin Kisaragi
  • Noel Vermillion
  • Rachel Alucard
  • Taokaka
  • Carl Clover
  • Litchi Faye-Ling
  • Arakune
  • Iron Tager
  • Bang Shishigami
  • Nu-13
  • Hakumen

Gallery

 


Đánh giá

 
Phiên bản console nhận được nhiều nhận xét tích cực từ dư luận với điểm số 88% ở Game Rankings và 88% ở Metacritic. Dù có dàn nhân vật khá nhỏ trong cộng đồng fighting game, nhiều lời khen ngợi được đã đưa ra cho chiều sâu của Gameplay cũng như chế độ chơi mạng tuyệt hảo. Cốt truyện của Blazblue cũng bất ngờ được đón nhận, nhiều ý kiến ghi nhận sự phức tạp đặc biệt của nó so với dàn plot fighting games vốn mờ nhạt và không được chăm chút.
Cả hai bản console xuất hiện trong top 10 doanh số bán hàng của Nhật Bản trong tuần đầu tiên ra mắt. Bản PlayStation 3 đứng thứ 5 với 34000 bản được bán trong khi con số này của bản Xbox 360 là 25000, giúp nó dành được hạng 6. Năm 2009, trò chơi được đề cử cho giải Spike Fighting Game of the Year nhưng thất bại trước Street Fighter IV.



thay đổi nội dung bởi: DMN, 10-10-2011 lúc 20:59
  #3  
Old 27-09-2011, 11:19
DMN's Avatar
DMN DMN is offline
 
Lover
Dynamite Natalia
Idol Kaito
Kaito đã trở thành một chàng điển trai luôn ca hát để truyền sự ấm áp của mình cho mọi người xung quanh
SP: 171
Phòng trưng bày huy hiệu
Angel of Charm Silver of Light Kaze no fukiya (Dart of Wind) Memory Seal 
Witch of the Liberal Field Orange iPod tan Red iPod tan Pink iPod tan 
Tổng số huy hiệu: 11
Tham gia ngày: 18-11-2007
Bài gửi: 1,710
Cấp Độ: 9
Rep: 252
DMN là một tấm gương sáng để noi theo

Arc System Works
Phát triển



JP Arc System Works
NA Aksys Games
EU ASW UK
Phát hành




Toshimichi Mori
Yūki Katō
Thiết kế



Daisuke Ishiwatari
Soạn nhạc


Arcade (Taito Type X²)
PlayStation 3
Xbox 360
Hệ máy




Fighting Game
Thể loại


CERO: C
ESRB: T
PEGI: 12
Ratings







GAME TRAILER



Blazblue: Continuum Shift là phần tiếp theo chính thức của Blazblue: Calamity Trigger được phát triển bởi Arc System Works. Giống như người tiền nhiệm, Blazblue: Continuum Shift ra đời đầu tiên ở hệ máy arcade trước khi bản Xbox 360 và Playstation 3 được công bố, hiện nhà sản xuất đang phát triển cho hệ Taito Type X2 arcade system board với độ phân giải 768p tỉ lệ 16:9. Trò chơi được phát hành ở Nhật vào ngày 20 tháng 11 năm 2009, bản console ra đời vào ngày 1 tháng 7 năm 2010 ở Nhật và 27 tháng bảy ở Bắc Mỹ. Tại Châu Âu, trò chơi được phát hành vào ngày 3 tháng 12 nam 2010 cùng với bản Limited Edition độc quyền khu vực. Hiện chưa có thông tin dự kiến phát hành trò chơi trên PC nhưng ngày phát hành bản PlayStation Portable và Nintendo 3DS đã được công bố.

Thay đổi so với Calamity Trigger

 
Cơ chế gameplay của trò chơi đã được tân trang cùng với sự bổ sung với tổng số 7 nhân vật mới bao gồm: Tsubaki Yayoi và Hazama từ bản Arcade, Mu-12 (độc quyền consonle) , Makoto Nanaya, Valkenhayn R. Hellsing, và Platinum the Trinity (DLC), Lambda-11 thay thế Nu-13. Hệ thống nhân vật cũng được cấu trúc lại cân bằng hơn Trò chơi cũng mang đến hình minh họa các nhân vật(character select art) hoàn toàn mới và tiếp tục câu truyện còn dang dở trong Calamity Trigger

Gameplay

 
  • Barrier Burst được đổi tên thành Break Burst. Mỗi người chơi bắt đầu với một Break Burst và nhận thêm một Break Burst sau khi thua 1 hiệp. Những Burst không được sử dụng có thể để dành cho hiệp đấu tiếp theo với con số tối đa là 2 Burst. Burst được nhận đầu hiệp có thể được bảo quản xuyên suốt trận thay vì đơn giản là guardpoint, cũng như sẽ không đòi hỏi Barrier gauge và không đặt người chơi vào trạng thái nguy hiểm. Ở chiều ngược lại, Burst loại bỏ một nửa số guard primer của người chơi (giải thích ở dưới). Ngoài ra, “Gold Burst”, Burst sử dụng khi người chơi không bị tấn công, giờ đây đẩy đối phương lên không trung , cho phép combo tiếp tục.


  • Hệ thống Guard Libra ở Calamity Trigger được thay thế bằng hệ thống Guard Primer. Giờ đây người chơi có một số Guard Primer nhất định (từ 4 đến 10, phụ thuộc vào nhân vật sử dụng), sẽ bị mất nếu một số lượng nhất định các đòn đánh của nhân vật bị block , Mất hết Guard Primer sẽ dẫn đến Guard break. Primer sẽ hồi phục theo thời gian và người chơi có thể ngăn chặn việc mất Guard Primier cuối cùng bằng cách Barrierblock đòn Guard-Crush, cái giá phải trả là mất phân nửa barrier gauge. Burst cũng sẽ làm mất phân nửa lượng primer ngay lập tức.


  • Continuum Shift giới thiệu đặc tính Fatal Counter khi bị nhận một counterhit. Không giống counterhit thông thường , hitstun cho những combo của Fatal Counter được tăng lên 2 frame cho mỗi đòn đánh trên toàn bộ combo, cho phép người chơi thiếp lập những pha combo gây damage rất lớn.


  • Hệ thống combo ở Continuum Shift được nâng cấp đáng kể nếu bạn tinh tế nhận ra. Thời gian combo không còn là yếu tố quyết định trong việc timing và thực hiện push-backs. Để bù đắp, hệ thống “Repeat Proration” được giới thiệu, cho phép tăng số damage khi một đòn nhất định được thực hiện nhiều lần trong cùng một combo.


  • Điều kiện thi triển một Astral Heat cũng đã được thay đổi. Astral giờ có thể được sử dụng trong bất kì thời điểm nào phù hợp ( không nhất thiết phải là hiệp cuối cùng của trận đánh ), yêu cầu 100% Heat, 1 Break Burst và đối thủ có 35% hoặc ít hơn lượng Health gauge. Khi những điều kiện này được đáp ứng, ảnh nhân vật sẽ phát sang, ám chỉ có thể sử dụng Astral.


  • Một chế độ điều khiển mới được xây dựng cho người mới chơi ở Beginner Mode. Các phím A,B,C,D được thay bằng đòn yếu, đòn mạnh, đòn đặc biệt và đòn nắm (Weak Attack, Strong Attack, Special Attack, Throw). Beginner Mode tự động xâu chuỗi các combo cơ bản lại cho người mới.


  • Nếu người chơi bị giữ trong trạng thái blockstun gần như liên tục nhiều hơn 5 giây, họ sẽ nhận được một “guard bonus” tự động block tất cả những đòn đánh tiếp theo cho đến khi người chơi thoát ra khỏi chuỗi stun.


  • Cuối cùng, HUD của game cũng được thiết kế lại để tận dụng lợi thế của các tính năng mới

Nhân vật

 
Trò chơi giới thiệu 7 nhân vật mới , 4 trong bản gốc console, 4 là DLC . Các nhân vật trong Calamity Trigger đều trở lại ngoại trừ Nu-13, người được thay bằng Lambda-11 như bản palette swap của cô. Tuy nhiên người chơi vẫn có thể chọn Nu trong Unlimited form của Lambda hoặc mua qua DLC
  • Ragna the Bloodedge
  • Jin Kisaragi
  • Noel Vermillion
  • Rachel Alucard
  • Taokaka
  • Carl Clover
  • Litchi Faye-Ling
  • Arakune
  • Iron Tager
  • Bang Shishigami
  • Lambda-11
  • Hakumen
  • Tsubaki Yayoi
  • Makoto Nanaya
  • Platinum the Trinity
  • Valkenhayn R.Hellsing
  • Relius Clover
  • Hazama
  • Mu-12
Gallery

 



thay đổi nội dung bởi: DMN, 10-10-2011 lúc 21:00
  #4  
Old 27-09-2011, 11:19
DMN's Avatar
DMN DMN is offline
 
Lover
Dynamite Natalia
Idol Kaito
Kaito đã trở thành một chàng điển trai luôn ca hát để truyền sự ấm áp của mình cho mọi người xung quanh
SP: 171
Phòng trưng bày huy hiệu
Angel of Charm Silver of Light Kaze no fukiya (Dart of Wind) Memory Seal 
Witch of the Liberal Field Orange iPod tan Red iPod tan Pink iPod tan 
Tổng số huy hiệu: 11
Tham gia ngày: 18-11-2007
Bài gửi: 1,710
Cấp Độ: 9
Rep: 252
DMN là một tấm gương sáng để noi theo

Arc System Works
Phát triển



JP Arc System Works
NA Aksys Games
EU ASW UK
Phát hành




Toshimichi Mori
Yūki Katō
Thiết kế



Daisuke Ishiwatari
Soạn nhạc


Arcade (Taito Type X²)
PlayStation 3
Xbox 360
PlayStation Portable
Nintendo 3DS
Hệ máy






Fighting Game
Thể loại


CERO: C
ESRB: T
Ratings






GAME TRAILER



BlazBlue: Continuum Shift II là bản làm lại đầu tiên cho hệ arcade của Blazblue: Continuum Shift, được phát hành vào ngày 9 tháng 12 năm 2010

Thay đổi so với Continuum Shift

 
Phiên bản có sự bổ sung những nhân vật độc-quyền console trước đây đi kèm với thay đổi lớn trong cân bằng chung của các nhân vật. Một số thay đổi về mặt cái nhìn như diễn viên lồng tiếng mới( đặc biệt ở bản tiếng Anh). Nhạc nền của trò chơi là Shinso do Asami Imai thể hiện , đây là nữ ca sĩ phụ trách lồng tiếng cho nhân vật Tsubaki Yayoi.

Cotinuum Shift II đã được phát hành như một bản Update có thể download cho cả hai hệ máy PlayStation 3 và Xbox 360 cho Blazblue: Continuum Shift lần lượt vào hai ngày 10 tháng 5 năm 2011 cho Xbox 360 và 12 tháng 5 năm 2011 cho PlayStation 3.

Bản port cho hệ Portable và Nintendo 3DS của trò chơi được phát hành ở Nhật vào ngày 31 tháng 3 năm 2011 và tại Bắc Mỹ ngày 31 tháng 5 năm 2011. Cùng với những tính năng trên console, những nội dung mới cũng được thêm vào cho các hệ portable bao gồm chế độ ‘Abyss’ và hai thành phần bổ sung cho Story mode. Khác với các bản console, những màu sắc mới cho nhân vật hay các phiên bản Unlimited của họ được unlock thông qua Gallery mode bằng cách đạt được điểm kinh nghiệm để tiến tới những cấp độ cụ thể và mua chúng bằng Platinum Dollars lấy được ở các chế độ chơi khác nhau.


Gameplay

 
  • Gold Break Burst: thời gian thực hiện giảm, dễ nhận thấy hơn và phù hợp triển khai chiến thuật “nhử mồi”


  • Green Break burst: Tấn công đối thủ bằng burst này hoặc block được burst này của đối phương sẽ làm tăng 25% heat gauge


  • Knockback: Thủ trên không với một đòn tấn công dưới mặt đất giờ có thể phản đòn(knockback) rõ ràng hơn giúp dễ đạt được khoảng cách an toàn.


  • Barrier Guard: Dùng barrier guard với đòn đánh có cấp độ càng lớn càng phản đòn nhiều và mạnh hơn.


  • Instant Barrier Guard: Tương tự barrier guard nhưng tần số knockback thậm chí còn cao hơn, dễ dàng thoát vùng nguy hiểm


Nhân vật

 
Tất cả những nhân vật trước đây phải unlock hay là DLC ở bản console Continuum Shift đều có mặt:
  • Ragna the Bloodedge
  • Jin Kisaragi
  • Noel Vermillion
  • Rachel Alucard
  • Taokaka
  • Carl Clover
  • Litchi Faye-Ling
  • Arakune
  • Iron Tager
  • Bang Shishigami
  • Lambda-11
  • Hakumen
  • Tsubaki Yayoi
  • Makoto Nanaya
  • Platinum the Trinity
  • Valkenhayn R.Hellsing
  • Relius Clover
  • Hazama
  • Mu-12
Gallery

 



thay đổi nội dung bởi: DMN, 10-10-2011 lúc 21:00
  #5  
Old 27-09-2011, 11:20
DMN's Avatar
DMN DMN is offline
 
Lover
Dynamite Natalia
Idol Kaito
Kaito đã trở thành một chàng điển trai luôn ca hát để truyền sự ấm áp của mình cho mọi người xung quanh
SP: 171
Phòng trưng bày huy hiệu
Angel of Charm Silver of Light Kaze no fukiya (Dart of Wind) Memory Seal 
Witch of the Liberal Field Orange iPod tan Red iPod tan Pink iPod tan 
Tổng số huy hiệu: 11
Tham gia ngày: 18-11-2007
Bài gửi: 1,710
Cấp Độ: 9
Rep: 252
DMN là một tấm gương sáng để noi theo



LỜI NÓI ĐẦU
S
eries Blazblue khá đặc biệt so với nhiều Fighting game khác. Trong khi Tekken, Street Fighter hay Mortal Kombat luôn được xây dựng dựa trên nền những giải đấu lớn nhó với mục đích dễ dàng quy tụ hầu hết anh tài trong thiên hạ lại với nhau, Nội dung Blazblue lại đi theo một hướng khác, mới lạ và phức tạp hơn: câu chuyện tràn ngập số lượng lớn những tình tiết rối rắm lớn nhỏ bên cạnh một mạng lưới nhân vật có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo cảm giác choáng ngợp với người mới chơi , dìm họ trong sự cuốn hút đầy mê hoặc với thế giới điên rồ trò chơi tạo dựng . Ở khía cạnh gameplay, Blazblue đáp ứng đầy đủ nhu cầu của những hardcore fighter với một hệ thống chiến đầu tỉ mỉ và chế độ chơi trực tuyến ổn định. Có thể trò chơi không có nhiều nhân vật như Super Street Fighter IV nhưng hầu như không tồn tại khái niệm 'clone', mỗi char được thiết kế độc đáo và sáng tạo trong cả ngoại hình lẫn phong cách đánh . Người đam mê fighting có thể bỏ ra hàng giờ để master từng nhân vật, nhưng chính cốt truyện đã đem đến hương vị độc nhất vô nhị cho Blazblue đối với nhiều người. Những đoạn đối thoại giữa các char trong trận đấu thậm chí còn thể hiện đậm nét các mối quan hệ, tiểu sử , thông tin hay những sự kiện trong quá khứ. Bản thân câu chuyện của trò chơi không khó để làm quen nhưng sự phức tạp mang tính cốt lõi của nó gây trở ngại không nhỏ cho nhiều người để hoàn toàn nắm bắt.
TRƯỚC CALAMITY TRIGGER

100 năm trước, một con quái vật khủng khiếp bước ra từ bóng tối với sức mạnh vô hạn tên gọi Black Beast xuất hiện, tàn phá thế giới, đẩy nhân loại đến bên bờ vực tuyệt chủng. Trong giờ phút tối tăm nhất, sáu vị anh hùng(The Six Heroes) không rõ danh tính bất ngờ xuất hiện, cho loài người biết về sự tồn tại của phép thuật . Những nhà khoa học đương thời nhanh chóng tiếp cận sức mạnh này rồi nhận ra, phép thuật và công nghệ có thể được hợp nhất để tạo ra những vật thể siêu phàm có sức mạnh ghê gớm. Những vật này được biết đến như các Ars Magus(viết tắt là Armagus) , được phát triển và sử dụng như vũ khí tối thượng quyết định sự tồn tại của loài người. Sát cánh với The Six Heroes , những người sử dụng được Ars Magus tham gia một trận chiến long trời lở đất với Black Beast để tiêu diệt nó. Nhân loại cuối cùng giành thắng lợi trong trận chiến mà sử sách ghi lại như "Chiến tranh Ars Magus lần thứ nhất", 6 vị anh hùng được tôn sùng như những đấng cứu thế bất tử cho tới khi Hakumen-thủ lĩnh của họ đổ lỗi cho loài người vì sự xuất hiện của Black Beast, dẫn đến hệ quả là con người giận dữ giam ông lại trong suốt 90 năm trong một phần của Boundary gọi là The Edge.


Tuy nhiên, Black Beast có một lời nguyền cuối cùng cho nhân loại. Từ xác chết của nó, một màn sương mù tối đen từ từ nhấn chìm cả hành tinh. Màn sương đó được gọi là seithr , gây tổn thương ghê gớm với những người không may tiếp xúc lâu dài với nó. Seithr chậm rãi gặm nhấm cơ thể đồng thời đem đến vô vàn tác động có hại khác cho nạn nhân. Bất lực trong việc vô hiệu hóa seithr, loài người buộc phải hạn chế tiếp xúc với nó bằng cách xây dựng các thành phố lớn trên đỉnh những ngọn núi cao nhất thế giới. Những thành phố Hierarchical này là nơi ẩn náu an toàn cuối cùng của nhân loại. Trờ trêu thay, seithr có hại với cơ thể con người chừng nào, nó lại cần thiết để cung cấp nhiên liệu cho Ars Magus chừng đấy.

Chính trong cuộc khủng hoảng seithr , một tổ chức mang tên Novus Orbis Librarium (NOL) được thành lập để quản lí Grimoires, những văn bản hướng dẫn và cho phép con người sử dụng Ars Magus.Library, như cách gọi thông thường của người dân, tiếp tục nghiên cứu Grimoires và đạt được nhiều thành tựu lớn trong mọi khía cạnh của công nghệ. Sống trong những thành phố Hierarchical mới, loài người sau nhiều nỗ lực đáng ghi nhận cuối cùng có thể bước vào thời kì tái thiết. Thời gian trôi qua, Library , trên danh nghĩa tổ chức sở hữu Grimoires, thiết lập một chế độ độc tài tối cao nhất của thế giới. Quyền lực này không bị đe dọa trong hàng thập kỉ trong khi Ars Magus dần dần trở thành yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong mọi việc trọng đại của nhân loại. Dù thế, Ars Magus không hoàn hảo. Nó gây một lượng lớn tác dụng phụ đơn thuần dựa vào chủ sở hữu nó. Đặc biệt là Nyctores Nox, mười Ars Magus được xem là mạnh nhất trong lịch sử phát triển công nghệ, đều gây ra những tác động nghiêm trọng đến người sử dụng. Library theo dõi chặt chẽ những cá nhân có tiềm năng sử dụng chúng, tập hợp và trao loại vũ khí nguy hiểm đó cho từng người. Chính điều này đã dấy lên một làn sóng phản đối dữ dội giữa dân chúng khi số đông không sử dụng được Nox Nyctores cáo buộc chế độ độc tài đã cổ xúy cho sự phân biệt đối xử và bất bình đẳng trong xã hội.

Sức ép dư luận ngày một tăng cao mà đỉnh điểm là sự xuất hiện của Liên bang Ikaruga. Phe nổi dậy này tuyên bố độc lập tách khỏi sự kiểm soát của Library, nhưng Library không đứng nhìn quyền lực của mình bị đe dọa. Chiến tranh Ars Magus lần thứ hai nổ ra và lần đầu tiên trong lịch sử, loài người dùng Ars Magus tiêu diệt lẫn nhau như một cách tàn bạo để phô bày quyền lực. Liên bang Ikaruga không chống chọi được tài nguyên dồi dào Library sở hữu, nhanh chóng bị tiêu diệt. Lo sợ việc tương tự xảy ra trong tương lai, Library ban hành bộ luật mới khắc nghiệt và nghiêm khắc hơn với điển hình là án tử lập tức cho bất cứ ai có mầm mống phá hoại. Tuy vậy, Liên bang Ikaruga không phải tổ chức duy nhất chống đối Library. Một nhóm các nhà khoa học cùng chí hướng không chấp nhận cách Library dùng Ars Magus cho mục đích thuần túy của khoa học công nghệ nhìn trước hồi kết của NOL vì sử dụng quá mức loại vũ khí này. Họ không tham gia chiến đấu trực tiếp do sự chênh lệch rõ ràng về lực lượng, thay vào đó tổ chức được gọi là Sector Seven này tìm cách làm suy thoái Library từ bên trong.



Phần lớn công chúng không biết được sự thật về việc mỗi thành trì Library rải rác trên thế giới đều nắm giữ một vật thể kì lạ mang tên Cauldron. Rất ít thông tin về chúng được rò rỉ từ chính quyền, người ta tin rằng đó là những cánh cổng dẫn đến một thế giới khác tên gọi Boundary, nơi mà thời gian và không gian bị bóp méo với quyền năng vô hạn chờ đợi. Dù thế , vài năm sau khi Chiến tranh Ars Magus lần thứ hai kết thúc, một người đàn ông bắt đầu tấn công các thành phố lớn với mục tiêu là tiêu diệt các Cauldron. Người này ngang nhiên thách thức một nhánh quân đội NOL( được cho có lực lượng tương đương của một tiểu quốc) và giành thắng lợi tuyệt đối. Số ít sống sót sau các cuộc tàn sát này nói về một "Grim Reaper" trở nên nổi tiếng với cái tên Ragna the Bloodedge. Ragna nhanh chóng được liệt vào hàng tội phạm cấp SS với cái đầu được treo giải thướng lớn nhất trong lịch sử truy nã tội phạm của hành tinh.

Tháng 12 năm 2199, Ragna theo lời đồn tiến tới mục tiêu tiếp theo - Thành phố Hierarchical thứ 13 Kagutsuchi. Lệnh truy nã ngày một gay gắt với các tấm áp phích rải rác khắp nơi. Một trong những tác động điển hình chúng mang lại là sự xuất hiện của vô số các cá nhân cũng như tổ chức lớn nhỏ tại đây nhằm săn tìm Ragna the Bloodedge, vì tiền thưởng hay vì sức mạnh điên cuồng người đàn ông này sở hữu. Đây là điểm khởi đầu cho các sự kiện trong Blazblue: Calamity Trigger.


Trước trận chiến Ikaruga(Chiến tranh Ars Magus lần thứ hai), 3 anh em Ragna, Jin và Saya sống trong một nhà thờ nhỏ ở nông thôn dưới sự chăm sóc của Caelica A. Mercury, chị Nine, người cũng có nhiệm vụ canh giữ xác chết Black Beast được chôn sâu ngay dưới nhà thờ. Saya là một cô bé ốm yếu bệnh tật từ nhỏ nên nhận được nhiều sự quan tâm của Ragna, làm Jin cảm thấy ganh tị. Một ngày nọ, Terumi tạo ảnh hưởng tâm lí lên Jin khiến cậu tự tay đốt rụi nhà thờ , tạo điều kiện cho gã chặt đứt cánh tay Ragna, giết chết Caelica và bắt cóc Saya.

Sau đó Jin được gia đình Kisaragi nhận nuôi còn Ragna bị Rachel biến thành half-vampire đồng thời nhận được Azure Grimoire aka Blazblue, thay thế cho cánh tay phải đã mất. Ở chiều ngược lại, Jin nhập học tại học viện NOL, nơi anh là bạn cùng lớp với Noel Vermillion, Tsubaki Yayoi, Makoto Nanaya và Carl Clover. Carl sau đó đột ngột biến mất trong khi những người còn lại tốt nghiệp và tham gia quân đội NOL, nơi Jin nhận được Nox Nyctores Yukianesa- thứ vũ khí cho phép anh kiểm soát băng đá nhưng cũng đưa anh đến bờ vực điên loạn- cùng quân hàm thiếu tá quân đoàn 4 nhờ những chiến công lẫy lừng ở cuộc chiến Ikaruga. Noel được phong hàm trung úy và nắm giữ Nox Nyctores Arcus Diabolus Bolverk . Tsubaki gia nhập quân đoàn 0 với tư cách trung úy hạng nhất. Cùng lúc, Ragna được huấn luyện bởi Jubei của The Six Heroes, kế thừa chiếc áo khoát đỏ, thanh Blood Scythe và danh hiệu “ the Bloodedge” từ một chiến hữu cũ của sư phụ mình.
CALAMITY TRIGGER
Trong 724 vòng lặp thời gian trước, những sự kiện dưới đây luôn luôn diễn ra :

+ Ragna tiến đến Kagutsuchi nhằm mục tiêu Cauldron.

+ Jin nghe về lệnh truy nã dẫn đến hồi phục một phần kí ức ,cùng với ảnh hưởng của Yukianesa, chống lệnh cấp trên để tìm giết anh trai mình.

+ Ragna gặp và đánh bại + đả thương trầm trọng Jin

+ Ragna gặp Hakumen ,dù lúc này mới hồi phục 20% sức mạnh(do vừa được Kokonoe cứu ra khỏi Boundary sau 90 năm) cũng đủ đánh tơi tả Ragna, anh thoát chết sau khi Kokonoe tìm được cách teleport Hakumen đi nơi khác.

+ Ragna chạm trán Nu-13 , không thể chiến thắng cô dẫn đến bị hợp thể và rớt vào Cauldron, bị đưa về 100 năm trước , Jin đuổi theo và cũng ngã vào Cauldron => Ragna và Nu trở thành Black Beast, Rachel biến Jin thành Hakumen để đánh bại họ.

+ Takamagahara sử dụng Nox Myctores Take-Mikazuchi hủy diệt toàn bộ thế giới



Một cách kì lạ, câu chuyện trong Blazblue được lặp lại nhiều lần trong một vòng tuần hoàn thời gian bắt đầu từ sự xuất hiện của Black Beast và kết thúc bằng việc Ragna, Jin , Nu rơi vào Cauldron. Nguyên nhân chính cho việc này là do Cauldron đưa Ragna và Nu (thực chất là Black Beast sau khi hợp thể ) về 100 năm trước trong khi Jin( cũng được đưa về quá khứ) ở trạng thái chấn thương trầm trọng sau trận đánh với Ragna gặp Rachel Alucard , nhận lời cô trở thành "Anh hùng thực sự" được trao bộ giáp Susanoo Sankishin Unit và thanh Nox Nyctores Ookami, trở thành thủ lĩnh của the Six Heroes Hakume sau đó đánh bại Black Beast. Ở hiện tại, sau khi 3 nhân vật trên biến mất, Takamagahara- một tổ chức god-like bí mật kích hoạt Nox Nyctores Take-Mikazuchi phá hủy hoàn toàn thế giới. Những sự kiện này đã lặp lại ít nhất 724 lần trước khi vòng lặp thứ 725 do một số lí do nhất định, diễn ra khác biệt, biến nó thành vòng lặp cuối cùng cũng là True Ending của Calamity Trigger .

Diễn biến TRUE ENDING:

Trước khi Ragna thâm nhập Kagutsuchi, anh gặp Jubei - người cho cảnh báo về một đối thủ cực kì nguy hiểm chờ đơi. Trên đường đi , linh tính Ragna luôn mách bảo về một chuyện chẳng lành, anh nhanh chóng nhận ra đây sẽ là thành phố rất khác biệt so với tất cả những nơi anh từng phá hủy trước đây. Cùng lúc, Noel và Hazama đặt nghi vấn về những hành vi kì quái gần đây của Jin như những tràng cười quái gở hay những tiếng "Ragna, Ragna" vô thức . Ragna vào đêm đó tìm được đường đến trụ sở NOL bỏ trống và đụng độ Jin . Sau khi giành thắng lợi, Ragna để người em trai bị thương nặng ở lại và tiến thẳng đến Cauldron. Không lâu sau, Noel và Hazama tìm ra Jin , Noel sợ hãi trước tình trạng nguy kịch của cấp trên nhưng vẫn đuổi theo Ragna vì đây là nhiệm vụ thừ hai cô được giao, để Hazama lại với Jin. Trong khi đó, Ragna bị Hakumen chặn đứng ở cổng Cauldron. Nhận ra đối phương là người Jubei nhắc đến, anh bất thần bị bao phủ bởi một nỗi sợ vô hình khi Hakumen tuyên bố sự tồn tại của Ragna là cội nguồn quỷ dữ, cần bị thanh trừ khỏi thế giới, dù vậy Ragna quyết định chiến đấu.

Lúc trận chiến đang diễn ra , Kokonoe xen vào tìm cách teleport Hakumen ra khỏi cổng Cauldron. Tuy nhiên không giống những vòng lặp trước, Hakumen bất ngờ thành công trong việc phá vỡ lưới phép thuật Kokonoe.Kokonoe hoảng hốt khuyên Ragna nên chạy trốn nhưng anh từ chối và kích hoạt Blazblue.

Noel sau đó tới cổng Cauldron nhưng không tìm thấy dấu vết nào của Hakumen hay Ragna. Thay vào đó cô gặp Nu-13 và bỗng nhiên mất kiểm soát cơ thể . Khi Nu yêu cầu cô công khai danh tính, Noel trả lời cô là Anti-Sankishin Core Unit thứ 12. Nu không chấp nhận sự thật là một Murakumo Unit đời cũ hơn tồn tại, tấn công Noel. Noel đáp trả liên tục và không ngừng nghỉ, nhưng Nu hết lần này hết lần khác đứng dậy không hề hấn, lúc Nu chuẩn bị ra đòn quyết định, Ragna(đang bị thương) can thiệp và tham gia trận đánh trong lúc nước mắt Noel liên tục trào ra như thể cô biết anh. Trận chiến kết thúc với kết quả tương tự: Ragna bị Murakumo Unit đẩy vào Cauldron. Tuy nhiên lần này Noel đuổi theo kéo được Ragna ra , để Nu rơi vào Cauldron một mình. Trong lúc Nu bị Cauldron hủy diệt, Noel trách mắng Ragna vì tính bất cẩn của mình và thiếp đi vì kiệt sức. Từ trong bóng tối , Rachel đột ngột xuất hiện.


Rachel giải thích cho Ragna về "The new Eye", người thừa kế thực sự sức mạnh Azure. Thực tế, Blazblue mà Ragna hay Nu sở hữu đều là bản sao của nguyên gốc thuộc về Noel. Lúc Ragna chất vấn Rachel về vấn đề này, cô lờ anh đi vì nhận ra điều gì đang tới và teleport lên trên Kagutsuchi với Nox Nyctores Take-Mikazuchi đang chuẩn bị được bắn. Sau đó cô dùng Sankishin unit Tsukuyomi dựng một lá chắn không thể xuyên thủng bao bọc thành phố khỏi vụ nổ khổng lồ. Cuối cùng, lịch sử sẽ không còn được lặp lại. Rachel trở về Cauldron nơi Noel tỉnh dậy và không nhớ chuyện gì đã xảy ra, Cô chuẩn bị bắt giữ Ragna thì Hazama can thiệp. Lúc Rachel bắt đầu hoảng sợ ra lệnh Ragna và Noel tránh xa anh ta cũng là lúc Hazama tiết lộ sự thật về việc mình chính là Terumi, người tẩy não Jin, cắt một tay Ragna và giết Saya ( Ở bản Continuum shift chúng ta biết được anh không giết mà chỉ bắt cóc Saya) . Hazama chế nhạo Ragna và những người còn lại, rời đi thực hiện tước tiếp theo của kế hoạch. Sau đó Rachel cho biết Kokonoe đã nghe tất cả và Terumi vốn là mục tiêu của cô từ trước đến nay. Calamity Trigger kết thúc bằng việc Hazama triệu tập Tsubaki Yayoi-bạn học cũ của Noel và Jin tại học viện quân sự-đến phòng làm việc ở trụ sở NOL. Anh cho Tsubaki biết việc cô đã được lãnh đạo NOL (Imperator) giao một nhiệm vụ tối mật : Ám sát hai người bạn cũ.


CONTINUUM SHIFT

Ragna hiện đi tìm ngăn chặn kế hoạch của Terumi . Jin trốn thoát khỏi bệnh viện đang ở vì nhận ra giờ mình được xem là kẻ phản bội NOL và là mục tiêu của vụ ám sát. Ngoài ra, Noel đang sống với Ragna để đề phòng những vấn đề phát sinh liên quan tới việc cô là chủ sở hữu Azure Grimoire đồng thời ẩn nấp NOL. Rachel trong công cuộc tìm kiếm Terumi đã giải thoát cho Hakumen-người bị Kokonoe giam giữ sau kết thúc Calamity Trigger. Linh hồn của Nu được cứu từ Boundary nhờ Sector Seven và cấy vào người tiền nhiệm Lambda 11, trí nhớ của cô hoàn toàn bị Kokonoe xóa sạch.

Tsubaki theo lệnh , đi tìm ám sát Jin và Noel với vũ khí vừa nhận được là the Sealed Armagus Izayoi. Hazama mặt khác lại săn tìm Noel để kích hoạt cô như một Murakuno Unit với Azure Grimoire , với mục tiêu dùng thanh gươm Kusanagi phá hủy Amaterasu Unit (công trình nằm trong Boundary chỉ có thể được tìm thấy bởi người kế thừa đích thực Azure, nguyên nhân cho những vòng lặp thời gian xuất hiện trong thiên hà Blazblue)

Theo True Ending, Hazama thành công trong việc tạo ra Kusanagi, biến Noel thành một công cụ hủy diệt chết người bị tẩy não, Mu 12. Hakumen sau đó chạm trán Mu 12 nhưng không thể đánh bại cô, Jin tham gia cuộc chiến sau khi thắng Tsubaki và thế trận bắt đầu xoay chiều nhưng vẫn không thể giải quyết dứt điểm Nu 12 cho đến khi Ragna can thiệp, dùng linh hồn Nu giam giữ trong Lambda ( về cơ bản là kết hợp hoàn chỉnh bản copy Azure Grimoire của anh) biến Mu trở về thành Noel, để làm việc này Ragna đã hy sinh cánh tay trái.
Cuối cùng, chủ mưu thực sự đằng sau tất cả những gì xảy ra được tiết lộ chính là Saya, em gái Ragna và Jin, bằng xương bằng thịt, trong lúc Ragna biến Noel về trạng thái bình thường, Saya đã phá hủy Amaterasu Unit . Hazama và Relius Clover từ trước đến nay chỉ đơn thuần làm theo mệnh lệnh của cô.
Kết thúc CS, dàn nhân vật được chia làm hai phe: một bên là Ragna, Jin, Noel , Taokaka, Hakumen, Rachel và Valkenhayn và Jubei . Ở phe còn lại ta có Saya, Terumi, Relius Clovver, Litchi (người buộc làm việc với họ vì Relius đang giam giữ Arakune) và Tsubaki-vì mối hận với Noel khi trong một vòng lặp cô và Jin yêu nhau, khi đó Noel chết, Tsubaki sau đó cũng chết nhưng cho Jin sức mạnh để tiếp tục mà kết quả là Jin, với tư cách Hakumen đã đặt tên một đòn special theo tên cô. Hazama điều khiển Tsubaki bằng cách nói với cô rằng Noel tồn tại đã lấy đi tất cả.

TRUE ENDINGS - STORY MODE


CALAMITY TRIGGER

PART1
PART2
PART3
PART4
PART5
PART6


CONTINUUM SHIFT

PART1
PART2
PART3
PART4
PART5

@Derrick Bitner và Malzias - DMN Rioliogi.Z' phỏng dịch


thay đổi nội dung bởi: DMN, 16-11-2011 lúc 10:45
  #6  
Old 27-09-2011, 11:22
DMN's Avatar
DMN DMN is offline
 
Lover
Dynamite Natalia
Idol Kaito
Kaito đã trở thành một chàng điển trai luôn ca hát để truyền sự ấm áp của mình cho mọi người xung quanh
SP: 171
Phòng trưng bày huy hiệu
Angel of Charm Silver of Light Kaze no fukiya (Dart of Wind) Memory Seal 
Witch of the Liberal Field Orange iPod tan Red iPod tan Pink iPod tan 
Tổng số huy hiệu: 11
Tham gia ngày: 18-11-2007
Bài gửi: 1,710
Cấp Độ: 9
Rep: 252
DMN là một tấm gương sáng để noi theo

Trích:


TIỂU SỬ/CỐT TRUYỆN

Thưở nhỏ, Ragna sống trong một nhà thờ với hai em Jin và Saya dưới sự chăm lo của Caelica A.Mercury- chị của Nine, một trong 6 người hùng(The Six Heroes). Vào một ngày, Saya đột ngột đổ bệnh nặng và Ragna quyết định dành thời gian chăm sóc cho cô thay vì chơi đùa với Jin. Điều này làm sự đố kị trong Jin đối với Saya ngày một lớn hơn , Jin bắt đầu căm ghét cô.


POSTER TRUY NÃ RAGNA
Không lâu sau đó, nhà thờ bị đốt cháy bởi Jin và Terumi- người cũng đã chặt mất cánh tay phải của Ragna và bắt cóc Saya. Một ngày nọ Ragna bị một vampire-Rachel cắn, chuyển mắt phải của anh sang màu đỏ và mái tóc sang màu bạc, ngay sau đó Jubei nhận Ragna làm học trò để dạy cách sử dụng Azure Grimoire- năng lực mới của Ragna(thay thế cánh tay phải của anh). Jubei liên tục nhắc nhở Ragna rằng dù hiện Azure là một phần trong cơ thể nhưng năng lực của nó vẫn chưa phải hoàn toàn thuộc sở hữu của anh. Jubei huấn luyện Ragna suốt vài năm để anh hoàn toàn nắm bắt và điều khiển được Azure dưới sự quan sát của Rachel, chính là người nhờ Jubei giúp đỡ Ragna. Sau khi khóa học kết thúc, Ragna quyết định ra đi thực hiện kế hoạch của mình. Trước khi ba người chia tay, Jubei đưa Ragna đến nhà thờ nơi anh lớn lên, tặng anh hai vật phẩm từng là vật bất li thân của một dũng sĩ tên gọi “Bloodedge”: Chiếc áo khoác đỏ và thanh Blood-Scythe. Mang trong mình niềm kiêu hãnh của con người mang đến hi vọng cho thế giới cùng the SIxx Heroes, Ragna bắt đầu chuyến hành trình tiêu diệt NOL.
Ragna đi hết thành phố này đến thành phố khác tìm phá hủy trụ sở của NOL. Kết quả là anh trờ thành một tội phạm lừng danh với mức thưởng truy nã lên nhiều đến mức có thể mua một tiểu quốc, như Jin từng nói. Dù vậy có vẻ như điều đó không ảnh hưởng lắm đến quyết tâm và hành động của Ragna, anh hiên ngang ngao du khắp nơi không mảy may e sợ việc bị tấn công bởi quân đội NOL hay các vigilante.

Theo True Ending: Vào ngày 31 tháng 12 năm 2199 sau công nguyên , vào đêm giao thừa, Ragna đến Kagutsuchi để phá hủy cơ sở NOL ở đây.Trên đường đi, anh gặp và đánh bại em trai Jin Kisaragi bên trong trự sở . Sau trận đấu anh đi thẳng xuống một trục thang máy dẫn thẳng đến tầng hầm trụ sở, nơi Ragna gặp Hakumen của the Six Heroes và phải cần tới việc kích hoạt Azure sau một trận chiến quyết liệt kéo dài mới giúp anh vượt qua đối thủ. Ragna sau đó can thiệp cứu Noel khỏi Nu trong tình trạng nguy cấp, nhưng chính anh cũng không thể đánh bại Nu và bị kéo và Cauldron. Noel can thiệp và cứu được Ragna khỏi cỗ máy, giúp anh thoát khỏi việc bị hợp thể với Nu và bị kéo về quá khứ.

NU-13 VÀ RAGNA
Ngay sau đó, Rachel xuất hiện và tiết lộ cho Ragna biết Noel chính là "The Eye", người chính thức kế thừa sức mạnh thật sự của Azure và cô rời khỏi, kích hoạt Tsukuyomi Unit bảo vệ Kagutsuchi khỏi việc bị phá hủy hoàn toàn bởi Nox Nyctores Gigant: Take-Mikazuchi, xong việc Rachel trở lại tầng hầm trụ sở NOL, nơi Hazama đột ngột xuất hiện , cho biết mình chính là Yuki Terumi, người đã lấy đi tay phải Ragna cùng Saya. Ragna và Rachel tấn công Terumi, nhưng Terumi chỉ đẩy nhẹ họ ra xa và rời khỏi, sau khi nói rằng Ragna may mắn có Rachel bên cạnh nên hắn sẽ không giết anh lần này.

Sau sự cố tại cổng Sheol ( cổng Cauldron dưới tầng hầm trụ sở NOL ), Ragna để Noel đi theo một thời gian ngắn để bảo vệ cô khỏi những ánh mắt dòm ngó sức mạnh Azure. Dù vậy, cuối cùng anh cũng rời khỏi Noel , Noel khẳng định với Ragna rằng lần sau gặp nhau, họ sẽ là kẻ thù. Sau đó Ragna bị tấn công bởi Carl Clover và dù đánh bại được cậu, anh bị trọng thương từ một đòn cực mạnh từ Nirvana và bất tỉnh. Khi tỉnh dậy, Ragna thấy mình đang ở ngôi làng của gia tộc Kaka , nhận ra mình đã bị rơi vào đây sau trận chiến, anh ở lại ngôi làng một vài ngày dưỡng thương và trở nên thân thiện với tộc Kaka.

Bình phục xong, Ragna rời khỏi ngôi làng và gặp Platinum trước khi chạm tráng Lambda-11 do Kokonoe gặp vấn đề với quá trình teleport. Sau khi chống đỡ Lambda, Ragna được Kokonoe cảnh báo về việc tránh mặt Hazama vì Ragna không thể đánh bại hắn. Nghe tên Noel từ Kokonoe nhắc Ragna đi tìm Rachel, Rachel cho Ragna biết nơi anh cần đến nhưng vẫn nhắc anh việc tránh mặt Hazama mọi cách có thể. Ragna gặp Jin trên đường đi tại trụ sở NOL, sau khi đánh bại em trai mình lần nữa, anh cũng lại nghe Jin khuyên không đấu với Terumi, khẳng định Ragna không thể nào chiến thắng hắn.

CHẠM TRÁN MU-12

Tuy nhiên, Ragna quyết định không quan tâm đến ý kiến bọn họ tìm gặp Hazama. Không ngoài dự đoán, Terumi- người tạo ra Blazblue dễ dàng khóa chặt Grimoire của Ragna và buộc anh bất lực ngồi nhìn Noel bị Cauldron biến thành Mu-12. Lúc anh chuẩn bị bị giết, Nu can thiệp và đưa cho Ragna Idea Engine, cho phép anh truy cập vào True Azure đánh bại Hazama. Tiếp theo Ragna tìm Rachel giải thoát cô khỏi biding spell và cuối cùng tham gia trận đánh với Mu-12 với Hakumen và Jin đã lần lượt xuất hiện từ trước nhưng không thể đánh bại cô. Ragna sau đó bằng cách dùng linh hồn Nu bị khóa trong Lambda ( cơ bản hoàn thành hai bản sao của Azure Grimoire), thành công trong việc biến Mu trở lại thành Noel nhưng hi sinh cánh tay trái trong quá trình đó. Sau trận chiến, Saya bất ngờ có mặt và Hazama tiết lộ sự thật về việc gã và Relius Clover đều làm việc dưới trướng cô, làm cả Jin và Ragna bị sốc. Sau khi nhóm Saya rời khỏi Kagutsuchi, Ragna , Jin và Noel cũng quyết định rời đi huấn luyện với mục đích trở nên mạnh hơn. Kokonoe dùng cơ thể Lambda làm một cánh tay trái nhân tạo thay thế cho Ragna, xuyên suốt thời gian này anh cũng trở thành thành viên của Sector Seven. Ragna sau đấy đến Ikaruga với Taokaka- người được Jubei nhờ đi chung , bất kể sự khó chịu của anh.


NGOẠI HÌNH

Ragna được phát triển từ hình tượng anh hùng truyền thống trong manga và anime. Một chàng trai trẻ với mái tóc bạc nhiều đỉnh nhọn và heterochromia: mắt trái xanh lá - mắt phải màu đỏ, một tác dụng phụ từ vết cắn của Rachel. Trang phục của anh có sự kết hợp giữa các yếu tố hiện đại và cổ xưa: bên ngoài là chiếc áo khoác đỏ tươi với hai dây áo từ phía sau, bên dưới là áo đen và ba khóa đỏ, Ragna đeo đôi găng tay sẫm màu với một lớp vỏ đỏ ở mu bàn tay (mở ra khi kích hoạt Azure) ,mặc quần hakama đen cùng đôi giày đỏ có họa tiết bằng sắt thép




SỨC MẠNH
Ragna là một trong những cá thể hùng mạnh nhất trong thiên hà Blazblue. Được huấn luyện bởi Jubei,sinh vật mạnh nhất còn sống, Ragna cho thấy sức mạnh siêu phàm đủ để đánh bại một quân đoàn NOL. Anh cũng sở hữu năng lực seithr đáng sợ trong lốt người[human form] của Black Beast cùng thuộc tính chính là bóng tối. Trên chiến trường Ragna thường summon nhiều phần trên cơ thể Black Beast để tấn công như hàm hay đuôi trong Carnage Scissors. Vuốt (Back Spin Kicik. Devoured By Darkness và 6D) , hơi thở(Ax Kick), một mảng seithr(5D và 2D) hay thậm chí một trong nhiều đầu của nó trong Dead Spike và Hell's Fang Additional Blow và một chiếc cánh thiên thần (Black Onslaught). Tất cả đòn đánh nêu trên đều bao gồm phương thức sử dụng drive và sức mạnh cưỡng đoạt linh hồn của Ragna. Anh đồng thời có khả năng biến đổi cả cơ thể thành tạo vật bóng tối thuần khiết ngấu nghiến kẻ thù.

Ragna sở hữu thanh Blood Scythe,vũ khí tăng cường đáng kể khả năng cướp đoạt năng lượng sống với từng đòn đánh. Blood Scythe có tạo hình một thanh gươm to lớn cùng phiến kim loại tạo thành lưỡi kiếm. Nó có thể thay đổi hình dạng thành một lưỡi hái khổng lồ để tăng khả năng cướp linh hồn hiệu quả và cơ động hơn thông qua Drive, Soul Eater ( bao gồm việc summon nhiều phần cơ thể Black Beast) Một trong những lý do Ragna bị truy đuổi gắt gao là do anh nắm giữ Azure Grimoire (hay còn gọi là BlazBlue) trên cánh tay phải, một hình thể cực mạnh của Armagus được nhiều kẻ thèm khát, thứ hút trực tiếp sức mạnh từ Boundary đưa vào cơ thể người sử dụng và gia tăng khả năng ma thuật của họ lên một tầm cao mới. Trong trường hợp Ragna, anh bước vào trạng thái siêu phàm tên gọi Blood Kain, được bao quanh bởi một vầng hào quang bóng tối tăng gấp đôi damage cho mỗi đòn tấn công nhưng cũng lấy một phần năng lượng sống của anh. Cuối Continuum Shift, sau khi Azure Grimoire của Ragna tải thành công Idea Engine từ Lambda và xóa bỏ quyền kiển soát của Hazama, anh đã truy cập được vào True Azure.


MOVELIST

COMBO VIDEO

Ragna the Bloodedge là một char đơn giản, dễ làm quen với những đòn cơ bản rất hiệu quả.Thuần túy như một char rush-down cực kì linh hoạt, Ragna có điểm yếu dễ nhận ra khi đề cập đến vấn đề tầm xa hay zoning, bạn thường phải áp sát để gây damage thật sự. Vì điều này, bạn sẽ gặp nhiều khó khăn khi gặp phải các char nổi trội ở zoning như Nu-13 hay Jin Kisaragi. Tuy nhiên nói thế không có nghĩa là Ragna hoàn toàn không có range, sử dụng 5B và 5C , bạn có tất cả những gì mình cần để nắm lấy đối thủ và thu hẹp khoản cách với Hell’s Fang. Một khi Ragna đạt được cự ly cần thiết, khả năng gây damage của bạn được tăng cường đáng kể và sẽ là địa ngục cho đối thủ nếu Blood Kain được kích hoạt. Dù vậy bạn sẽ phải chú ý đến rủi ro nó đem lại, Ragna có lượng health vào hang thấp nhất của dàn char với chỉ 10000, nhưng điều này được bù lại với Drive độc nhất vô nhị của anh: Soul Eaterm cưỡng đoạt health của đối thủ trong từng đòn đánh nhất định. Như vậy, một Ragna kiên trì sẽ được tưởng thưởng bằng sức sống lớn mạnh trong khi một Ragna không cơ động sẽ dễ dàng rơi vào cạm bẫy của đối phương. Ragna cũng mixup khá hiệu quả khi nắm trong tay nhiều đòn crossup và overhead mạnh để hỗ trợ cho những đòn tầm thấp , đồng thời có Rapid Cancel option vào loại tốt.

Ragna sẽ gặp trở ngại để phục hồi health số lượng lớn nếu bạn mở rộng combo quá nhiều do damage scaling, những đòn dứt điểm trên không của Ragna khá mạo hiểm, ví dụ nếu bạn dùng Gauntlet Hades hoặc Inferno Divider(bao gồm cả follow-ups) quá cao trên không đối phương sẽ có thể phục hồi rất nhanh và chộp cơ hội để counter. Cùng với việc sở hữu 2C không an toàn, Ragna có khá nhiều điểm yếu để khai thác.

Tuy vậy ở Continuum Shift Ragna cũng nhận được khá nhiều buff cốt yếu để trở thành top-tier. Quan trọng nhất, việc bổ sung Belial Edge(j214C) cho phép bạn thể hiện nhiều combo dễ nhưng gây damage khá cao và thường kết thúc bằng special Not Over Yet (22C). Ngoài ra, 2C của Ragna giờ đã hoàn toàn an toàn với fatal counter , làm nền cho bạn sử dụng nhiều combo với damage cực cao ( trên 8000 ). Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, drive Soul Eater giờ đã có thể regain một lượng health lớn hơn đồng thời cho phép bạn cướp health nhiều và đáng kể hơn mà không bị ảnh hưởng bởi sự phân chia tỉ lệ. Tuy nhiên combo sẽ vẫn là rủi ro cao nếu bị drag ra quá nhiều vì damage scaling, . Cũng cần nói thêm, Ragna khi ở trong góc sẽ phát huy được khả năng khi các Belial Edge tuy có tác dụng kém hơn nhiều nhưng nó sẽ không để bạn trong trạng thái mở tạo điều kiện cho đối phương tấn công. Nếu chúng được đưa lên quá cao trong một air combo, Inferno Divider là một lựa chọn đáng cân nhắc.


Normal Attacks


Input
Mô tả
Ghi chú
Damage
5A
Đâm đối thủ khi đang đứng
Thuận lợi để tiếp tục poke, có thể cancel thành chính nó và Có thể cancel Jump
165
5B
Đá xoáy xuống
Tốc độ khá và range tốt, thường được dùng để triển khai combo
640
5C
Vụt Blood Scythe nghiêng về phía trước
Range tốt, Có thể cancel Jump, phát triển combo lên Hell’s Fang
710
2A
Đâm khi đang cúi người
Dễ crouching poke, cancel thành chính nó
150
2B
Đá khi đang cúi người
Thuận lợi lặp lại 3C
480
2C
Vụt Blood Scythe nghiêng về phía sau
Lảo đảo khi gặp Counter Hit, thêm frame với block và fatal counter
780
6A
Uppercut
Phần trên cơ thể được bảo vệ, Có thể cancel Jump , thường là đòn mở đầu cho air combo
620
6B
Ragna vung chân lên rồi vụt gót chân xuống
Là overhead khi đang đứng, Combo thành 5C
720
6C
Ragna đâm Blood Scythe tầm thấp và chém lên
Có thể cancel Jump và dash đồng thời dẫn đến những combo rất mạnh , để combo thật sự thành công đối thủ phải đang cúi
640+760
3C
Quét Blood Scythe tầm thấp
Knock down đối phương, có thể cancel jump và combo thành “Not Over Yet” ở range gần hoặc relaunch với 2B hay 5C
720
j.A
Nhảy lên đấm
Dễ dàng poke khi jump, cancel thành chính nó
180
j.B
Nhảy lên đá thẳng
Thuận lợi điều chỉnh độ cao nếu đối phương ở quá thấp trên không trung, có priority rất tốt và crossup hitbox vào loại khá
560
j.C
Nhảy + quét Blood Scythe
Hitbox tấn công tốt từ không trung đến mặt đất nhung sẽ thất bại khi gặp 6A anti-airs tốt hơn
680
5B+C
Ragna cầm đối thủ lên cao rồi dùng Blood Scythe đâm họ
Có thể cancel đòn special sau khi đâm, cũng thường được dùng triển khai combo
0+1200
4B+C
Ragna ném đối phương xuống đất rồi uppercut họ lên không trung
Có thể cancel đòn special sau uppercut, thường dùng triển khai combo
0+1100
j.B+C
Ragna cầm tay đối phương dùng đầu gối húc họ ra
Có thể cancel đòn Special sau khi húc, Dội tường
0+1100

Drive


Input
Mô tả
Ghi chú
Damage
Bất kì hướng nào + D
Soul Eater
Ragna dùng đòn đánh hút health đối phương qua hit hay block. Những đòn Soul Eater đều drain 30% damage và 80% damage trong Blood Kain. Bình thường drain 15% với block khi special và 20% với block khi Distortion Drives. Không thắng được Barrier Guard. Hiện bạn chỉ thực sự đoạt được health nếu các hạt lifesteal đến được cơ thể Ragna
/
5D
Ragna đưa Blood Scythe lên cao hơn đầu và chặt thẳng xuống
Có thể cancel dash, launch hit đầu tiên và dội đất hit thứ hai. Triển khai nhanh hơn và hitbox lớn hơn ở Blood Kain. Ở BBCS2, đối thủ chỉ có thể bị launch và đập đất nếu hit ở midair dù Ragna vẫn có thể cancel nó thành những đòn đánh khác
680+950 (760+1250)
2D
Ragna nghiêng người và đâm Blood Scythe xuống mặt đất
Knock down đối phương, hit thấp. Có thể relaunch từ 5C. Dội đất với Counter Hit hoặc trong Blood Kain
750(1250)
6D
Ragna nhảy lên không trung và strike với Blood Scythe cao hơn vai
Thường được sử dụng sau Hell’s Fang và combo thành j.D. Triển khai nhanh hơn trong Blood Kain
750(1250)
j.D
Ragna đẩy lưỡi kiếm Blood Scythe về phía trước
Phù hợp để nối tiếp 6D, air combo bao gồm j.C và điều chỉnh độ cao cho một Inferno Divider D. Hitbox lớn hơn trong Blood Kain (nhỏ hơn trong CT nhưng vẫn lớn hơn bình thường)
720(1400)


Special Attacks


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
Damage
214A
Hell’s Fang
Ragna dash đối phương với một nấm đấm bóng tối
Có hit stun rất lớn với Counter Hit, cho phép bạn combo. Tốt để tạo áp lực reset. Được thực hiện ở khoảng cách rất gần , đòn đánh trông như một closeline và cực kì nguy hiểm nếu bị instant block
730
214D(Trong quá trình Hell’s Fang)
Additional Blow
Ragna mở rộng cánh tay còn lại tấn công đối thủ với năng lượng bóng đêm trong hình dạng một trong nhiều đầu của Black Beast
Thường dùng để kết thúc combo,drain , dội tường trong trạng thái Blood Kain
950(1150)
623C/D
Inferno Divider
Ragna nhảy trở lên trong một chuyển động xoắn ốc trong khi uppercut
Đòn anti-air cơ bản, an toàn khi khởi động, phù hợp để chuyển từ thủ sang công. Nếu dung D Ragna đánh lên cao hơn. Có thể đánh hai lần.Dùng D có thể drain với hit hay block
420+460[C], 440+440 (720+440)[D]
236C(trong quá trình Inferno Divider)
Uppercut
Ragna chuyển động nhanh trên không nối tiếp bằng một uppercut
Chỉ có thể được sử dụng nếu Inferno Divider đánh trúng, đôi khi không phụ thuộc vào khoảng cách của Ragna
310
236C(Trong quá trình Uppercut
Straight Punch
Nối tiếp bằng một cú đánh nhanh
Dội tường.Chỉ có thể thực hiện nếu Uppercut đánh trúng, có thể đánh hụt trong số ít trường hợp, nếu bạn cobo từ mặt đất với Inferno Divider C, có thể relaunch từ ngoài góc đó
400
214D(Trong quá trình Uppercut)
Ax Kick
Ragna tiếp tục bằng một cú húc nhanh bằng đầu gối
Knock down đối phương, chỉ sử dụng được khi Uppercut đánh trúng, thường là đòn kết thúc một air combo, sẽ khó đánh hụt vì đòn này bao trùm lên một khoảng không lớn xung quanh Ragna, Input thay đổi so với CT(214C) giờ đã có thể cướp health. Ở BBCS2 sau ax kick có thể sử dụng những đòn không chiến bình thường
480
214B
Gauntlet Hades
Ragna nhảy lên không thực hiện một cú quạt bóng tối dữ dội độ xoáy lớn thẳng đến đối thủ
Đánh overhead đồng thời đưa Ragna bay lên.
950,750 trên không
214D(trong quá trình Gauntlet Hades)
Back Spin Kick
Ragna nối tiếp bằng một cú đá xoay hướng đến phía trước trong lúc đá bằng chân của Black Beast
Có thể combo đến 5B hay 5C nếu hơi delay.Thuận lợi combo trong góc và thiết lập,drain với hit hay block. Ít gây damage và cướp health hơn so với CT
/
214D
Dead Spike
Ragna giải phóng năng lượng bóng đêm từ thanh Blood Scythe trong hình dạng một đầu của Black Beast
Drain với hit hay block. Có lợi thế frame với block(trong trạng thái bình thường) khi đánh trúng 3 lần trong Blood Kain, hitbox gia tăng đáng kể. Kích hoạt nhanh hơn so với CT, thích hợp reset combo.
700(400*3)
j.214C
Belial Edge
Ragna vung Blood Scythe của mình, đâm sâu xuống
Là Multi-hitting dive attack. Nếu đánh trúng ở hit cuối, đối thủ sẽ bị dội lên từ mặt đất sẵn sang cho combo nối tiếp. Cực kì hiệu quả trong corner carries nhưng đối phương có thể rớt xuyên qua đòn đánh hoặc bị nâng lên quá cao bởi các hit bang đầu dẫn đến bị kéo xuống với Ragna. Tương đối an toàn với Block. Ở CS2, Ragna lùi lại một ít trong lúc vung Blood Scythe dễ dẫn đến đánh hụt hit đàu tiên nhưng hiệu quả đòn đánh vẫn bảo toàn.
/
22C với đối thủ đang nằm dưới mặt đất
Not Over Yet
Ragna đưa đối thủ lên khỏi mặt đất và đánh mạnh vào bụng
Sử dụng hiệu quả để kéo dài combo trên mặt đất và khôi phục áp lực. Dù đôi khi đối phương có thể block hoặc counter hit với lợi thế frame
0+800

Distortion Drives


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
Damage
632146D(giữ để delay)
Carnage Scissors
Ragna thực hiện một cú chém cực nhanh rồi giải phóng một lượng năng lượng bóng tối cực lớn bằng cách slash mặt đất , đánh bật đối phương ra xa
Bao phủ phần lớn diện tích mặt đất rất nhanh nhưng invincibility rất ngắn, có thể delay attack, hitbox lớn, dội đất sau hit đầu tiên , life drain và dội tường ở hit tiếp theo
1000+2100 (1000+3800)
214214D
Blood Kain
Ragna kích hoạt Azure, bao phủ cơ thể bằng một vầng hào quang bóng tối
Tăng cường tất cả những đòn liên quan đến Soul Eater, tăng hitbox,drain cũng như damage cực lớn. Ragna liên tục mất health trong mode này.Có thể kéo dài đến 10 giây. Ragna unmargined có Blood Kain được kích hoạt từ đầu trận và duy trì đến hết trận đấu.Trong thể trạng này, sức mạnh và drain của Ragna được củng cố còn nhiều hơn với Blood Kain thông thường cũng như không bị mất health. Heat Gauge cũng liên tục tăng như thể đang trong tình trạng sắp bị KO, dù là lúc health đang ở mức bình thường
/
214214D(trong mode Blood Kain)
Devoured by Darkness
Tay Ragna biến thành vuốt Black Beast giật đối thủ đưa lên cao và hút health đối thủ với tổng cộng 70 hit.
Thời gian khởi động đòn đánh khá lâu và dễ bị counter-poke nhưng Ragna regain một lượng cực lớn health nếu đánh trúng, biến nó thành đòn đánh mạo hiểm nhưng được tưởng thưởng xứng đáng. Lượng health đạt được đã bị giảm so với CT. Đây là đòn rất khó để dùng trong combo, dễ hụt với đối thủ đang cúi người
/


Astral Finish


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
Damage
2131236C
Black Onslaught
Sử dụng sức mạnh Azure Grimoire, Ragna chém đối phương trước khi biến thanh Blood Scythe thành lưỡi hái khổng lồ liên tục slash đối thủ, hút gần như toàn bộ linh hồn họ trước khi kết thúc bằng một cú đâm dứt điểm
Hoàn toàn an toàn lúc khởi động nhưng rất chậm với hit đầu tiên, strike đầu là overhead.Recovery khá nhanh và rất khó cho các char tầm gần để punish với block hay whiff. Drain một lượng cực lớn health
15*1000+1

Combos




GALLERY


SÀN ĐẤU/NHẠC NỀN

Sàn đấu

  • Kagutsuchi Port PM 9:00 - He that hurts another hurts himself
  • Requiem - The death and the life are equivalent.
  • Monorail - The road to hell is paved with good intentions
Nhạc nền

  • Rebelliion – Ragna's theme
  • Under Heaven Destruction – Ragna the Bloodedge VS Jin Kisaragi
  • White Requiem – Ragna the Bloodedge VS Rachel Alucard
  • Black Onslaught – Unlimited Ragna's theme, with vocals
  • Nightmare Fiction – Ragna the Bloodedge VS Hazama



dominhnhat@chelseafc.com.vn

thay đổi nội dung bởi: DMN, 02-12-2011 lúc 07:34
  #7  
Old 10-10-2011, 01:11
DMN's Avatar
DMN DMN is offline
 
Lover
Dynamite Natalia
Idol Kaito
Kaito đã trở thành một chàng điển trai luôn ca hát để truyền sự ấm áp của mình cho mọi người xung quanh
SP: 171
Phòng trưng bày huy hiệu
Angel of Charm Silver of Light Kaze no fukiya (Dart of Wind) Memory Seal 
Witch of the Liberal Field Orange iPod tan Red iPod tan Pink iPod tan 
Tổng số huy hiệu: 11
Tham gia ngày: 18-11-2007
Bài gửi: 1,710
Cấp Độ: 9
Rep: 252
DMN là một tấm gương sáng để noi theo

Trích:


TIỂU SỬ/CỐT TRUYỆN


JIN KISARAGI - NGUYÊN HỘI TRƯỞNG HỘI HỌC SINH HỌC VIỆN NOL
Khi Jin còn là một cậu bé, anh chịu ảnh hưởng rất lớn từ người anh trai Ragna và thường xuyên cảm thấy thiếu thốn về mặt tình cảm, dẫn đến thói quen làm phiền Ragna để được chơi với anh. Jin có vẻ ngày một bị ám ảnh bởi vấn đề này, đến nỗi xem Saya-em gái út trong gia đình- là vật cản trong việc thu hút sự chú ý của Ragna và liên tục bắt nạt cô để trả đũa. Cuối cùng, Ragna quyết định giữ khoảng cách với Jin để trông nom Saya ốm yếu, thổi bùng ngọn lửa ganh tị vốn được nhen nhóm rất lâu trong cậu em trai.

Yuki Terumi không lâu sau đó, gặp và cho Jin biết về The Black Beast và việc nó sẽ được sinh ra từ Ragna cũng như định mệnh trở thành người hùng của anh.Tự nhủ rằng anh trai mình phải trả giá cho sự thiếu hiểu biết đồng thời loại bỏ Saya, Jin quết định để Yuki Terumi làm mọi việc mình muốn, bao gồm đốt cháy nhà thờ, giết Caelica-người chăm sóc ba anh em , chặt đứt một tay Ragna và bắt cóc Saya. Sau đó Jin đã biến mất khỏi cuộc sống Ragna, phần kí ức của anh về sự việc kinh hoàng năm xưa cũng bị phong ấn.

Jin được gia đình Kisaragi cao quý nhận nuôi. Với tài năng sẵn có, anh không khó khăn thăng tiến cực nhanh trong hàng ngũ NOL, nhận lấy Nox Nyctores, Yukianesa (dù vậy trong true ending của CS, Jin nói với Ragna rằng Saya mới thực sự là người trao cho anh thanh kiếm).Trớ trêu thay, giải thưởng và chức vụ được trao( đóng góp không nhỏ từ ảnh hưởng của anh lên cuộc chiến Ikaruga ) không khiến Jin cảm thấy vui hơn mà ngược lại, trong tâm hồn anh hoàn toàn trống rỗng và vô vị, anh nhốt mình trong vỏ bọc lạnh lùng vô cảm, thờ ơ với mọi người xung quanh.


HUYỀN THOẠI HAKUMEN RA ĐỜI
Khi những tin đồn về "Grim Reaper" nổ ra, Jin đột ngột cảm thấy bị hối thúc đến gặp hắn ta, dẫn đến việc Jin từ bỏ nhiệm vụ được giao và tiến đến Kagutsuchi để tìm hiểu về The Reaper. Khi danh tính hắn được tiết lộ là Ragna, Jin trở nên điên cuồng truy đuổi người anh trai, sự rối loạn tâm lý gieo vào đầu Jin ham muốn tìm kiếm để giết chết Ragna và hoàn thành sứ mệnh của người anh hùng.

Trong một vòng lặp thời gian, sau khi Ragna bị Nu kéo vào Cauldron, Jin đuổi theo và bị đưa về ngày 31/12/2099 sau công nguyên, nơi anh gặp Rachel Alucard và được trao cơ hội trở thành anh hùng thực sự. Từ thời điểm này, Jin trở thành thủ lĩnh của The Six Heroes, Hakumen.

Ở True Ending của Continuum Shift, Jin bị đánh trọng thương bởi Ragna và được đưa đến bệnh viện. Khi tỉnh dậy, anh nhận ra mình đang là mục tiêu của một vụ ám sát do NOL đầu sỏ, anh nhanh chóng trốn khỏi bệnh viện và ẩn nấp vào bóng tối đồng thời cắt đứt mọi quan hệ với gia tộc Kisaragi. Tuy nhiên, Jin cũng nghe về Ragna và Noel, cấp dưới của mình, đang sống chung và vì Noel luôn gợi cho anh sự liên tưởng về người em gái Saya, Jin quyết định tìm giết họ vì lòng ganh tị. Theo thời gian, Sức mạnh ý chí của Jin trở nên đủ mạnh để chống lại ảnh hưởng từ Yukianesa , một phần nhờ sự giúp đỡ của Jubei. Anh phối hợp với Hakumen và Ragna để đánh bại Mu.

JUBEI VÀ JIN
Sau trận chiến, Jin , Ragna và Noel biết được sự thật về việc Hazama làm việc cho em gái Saya dẫn đến bị chấn động tâm lý lớn . Sau khi nhóm người của Saya rời khỏi, Jin, Ragna và Noel quyết định tu luyện để trở nên mạnh mẽ hơn và cùng lúc tìm hiểu mục tiêu thật sự của tổ chức do Saya cầm đầu. Jin hiện đang được huấn luyện bởi Jubei.

Trong CD The Wheel of Fortune Drama, ở một vòng lặp nơi Noel không hiện hữu, Jin và Saya rất thương yêu nhau. Họ chơi đùa vui vẻ , Saya tặng Jin một vương miệng bằng hoa do cô làm và nói rằng cô yêu Jin thật nhiều trong khi thái độ và tình cảm của Jin với Saya thì hoàn toàn đối lặp với vòng thời gian hiện tại. Điều này được thấy thông qua giấc mộng của Tsubaki, lúc này cô cực kì ghen tị với Saya , cô la hét yêu cầu cô em gái nhỏ tránh xa khỏi Jin. Lý do cho lòng căm hận của Jin với Saya cùng với nguyên nhân cô trở nên ốm yếu và bệnh tật trong các vòng lặp thời gian hiện tại hiện vẫn trong vòng bí mật.


NGOẠI HÌNH

Là thành viên NOL, Jin mặc đồng phục của tổ chức được trang hoàng bằng áo khoác màu xanh tượng trưng cho chức vụ thiếu tá. Chiếc áo cũng có hai cánh dài xuống gối. Anh đeo hai găng tay trắng biểu tượng cho tầng lớp quý tộc và mặc áo bó màu đen, bao phủ bằng lớp áo rộng màu trắng điểm xuyến bằng các vệt đen tạo nên những nét truyền thống trên bộ trang phục. Jin mặc quần tây chật màu đen và mang đôi giày màu xanh có các mảng vải trang trí bên cạnh một số chi tiết kim loại. Anh sở hữu mái tóc vàng bao phủ hai má , đôi mắt xanh lá và làn da trắng, cầm thanh Yukianesa vỏ bọc xanh dương và cán xanh lá cây đậm.


SỨC MẠNH
Jin chứng minh danh hiệu cao quý của mình bằng kỹ năng đáng kinh ngạc trên chiến trận. Sở hữu Nox Nyctores, Yukianesa, Jin kiểm soát nguyên tố băng đá, anh sử dụng nó hiệu quả đến mức có thể tạo những hình thể đa dạng xác định cho băng như một series các lưỡi kiếm và sử dụng như một phương tiện di chuyển ( được fan đặt tên Ice Car theo cảm tính). Kiếm pháp và sức mạnh của Jin hoàn toàn đối lập với người anh trai Ragna. Trong khi Ragna chiến đấu điên cuồng và man rợ thì Jin thể hiện cách đánh rất tao nhã và thanh lịch ( dù vậy cần lưu ý là damage output trong các đòn đánh của Jin ngang hàng với Ragna theo một mức độ nào đó). Vì Jin và Hakumen là một, trong Continuum Shift vào một thời đểm, Jin theo bản năng cũng học được Kokuujin : Yukikaze.

Theo Jubei trong Continuum Shift, sức mạnh thực sự của Jin hiện đang bị đàn áp bởi ảnh hưởng của Yukianesa. Xuyên suốt trò chơi có rất nhiều gợi ý về sức mạnh này dù không phải ở tiềm năng cao nhất. Tuy nhiên, theo Ragna, nếu một ngày khả năng của Jin vượt qua được rào cản Yukianesa, Jin sẽ trở thành đối thủ đáng sợ nhất của anh. Jubei cũng xác nhận điều này.

Drive của Jin là Reito(Frost Bite). Bằng cách khai thác sức mạnh Yukianesa, Jin có thể đóng băng đối thủ tạm thời và chặn đứng mọi cử động của họ. Không như những char khác của Series, Heat Gauge của Jin được chia thành bốn bar nhỏ thay vì hai như tất cả những char khác(không kể Hakumen). Drive Attack của Jin sử dụng từng bar một nhưng vẫn rất mạnh khi chúng liên tục tung ra số lượng lớn hits trong một strike.


MOVELIST

COMBO VIDEO

Jin có lượng recovery vào loại khá nên người chơi sẽ cần phải để tâm vào số lượng đòn đánh , bạn cần luôn biết cách kết thúc một chuỗi block bằng một đòn jump cancelable để mở đường thoát khỏi việc bị punish từ đối thủ liên tục instant Block. Damage của Jin vào tầm trung bình khá, nhưng điều gây khó khăn nhất là các đòn đánh này khá dễ bị block dẫn đến nhiều thiệt hại đáng bận tâm. Tuy nhiên may mắn là hệ thống Guard Libra bảo đảm cho bạn không bị block mãi nên nếu giữ áp lực, liên tục poke đối phương, bạn sẽ có điều mình cần. Một ưu điểm khác với Jin là để làm chủ cuộc chơi, bạn không cần tiếp cận đối thủ mọi lúc mọi nơi mà chỉ giữ cự li khoảng 5D và gia tăng sức ép.

Về mặt phòng thủ, đôi khi bạn có thể IB và sử dụng Blizzard để vượt qua chuỗi block của đối phương, cần đặc biệt chú ý khi dùng hishouken trên không vì chúng có recovery rất lâu. Bạn đồng thời có thể tận dụng musou senshouzan(214A,B hoặc C) để rút khỏi vùng nguy hiểm. 5D max range có khả năng poke, nếu đối thủ đến từ không trung, bạn nên sử dụng dragon punch hoặc nhảy lên dùng j.A hay j.B để hạ gục trên không. Nếu họ đến quá gần 5D các phương án khả thi sẽ là mạo hiểm với Blizzard, 2A hoặc sẵn sàng để block.

Tóm gọn lại, Jin là một char đặc biệt nguy hiểm ở zoning nhờ projectiles cũng như tính đa dạng trong việc thiết lập pressure của anh. Dù không hoàn toàn được xem là char rushdown như Ragna, Jin sở hữu các combo có sức công phá rất lớn mà đa số dựa vào đặc tính freeze cực kì khó chịu. Cần nói thêm là poke của Jin vào loại tốt-đến-xuất sắc, và là char duy nhất có hệ thống EX special moves, dẫn đến cơ động trong việc bảo toàn heat nhờ các thuộc tính bổ sung từ chúng ( extra damage, extra invinciblity..)

So với ở Calamity Trigger, Jin vẫn giữ được lối đánh tấn công khá ổn định với hệ thống pokes và mixups đa dạng và priority cao. Tuy nhiên damage output của anh đã được giảm đáng kể, dẫn đến giản tiềm năng tung ra các poke bất ngờ và damage lớn. Ngoài ra, cơ chế đóng băng không còn yêu cầu đối thủ wiggle để thoát khỏi làm cho các invalid freeze combos trở nên mạo hiểm hơn bao giờ hết . Ở mặt tích cực hơn, khả năng zoning của Jin được cải thiện không ít và anh vẫn sở hữu phần lớn các đòn có priority và invulnerability tuyệt vời.


Normal Attacks


Input
Mô tả
Ghi chú
B+C
Nắm lấy đối phương
Có thể cancel sau khi freeze đối với specials
5A
Trái tay
Jump cancelable
5B
Đá 2 hit
Startup cực nhanh, hit thứ nhì có thể tạo hiệu ứng vacuum nhưng cả hai đều jump cancelable
5C
Chém nhanh theo chiều ngang
Jump cancelable
2A
Khi đang ngồi dùng bao kiếm đánh đối phương
Poke với priority cao
2B
Dùng cùi chỏ đánh khi đang ngồi
Dịch chuyển vị trí lên phía trước không đáng kể, tầm thấp
2C
Chém dọc
Jump cancelable và Fatal counter
j.A
Nhảy đấm
Jump cancelable
j.B
Nhảy xoay tròn, tấn công bằng cánh áo
Hitbox rất lớn, Startup chậm hơn so với CT, Jump cancelable
j.C
Chém ngang với range rất lớn
Là poke air-to-air rất tốt, Jump cancelable
6A
Đánh cao hơn đầu bằng cán kiếm
Là đòn overhead, có thể cancel special lẫn super
6B
Nhảy lên đá cao hơn đầu
Lợi thế khi gặp block. Không hẳn là overhead.Khi Jin đang ở trên không, có thể bị Special Cancel
6C
Chém mạnh lên
Có range khá lớn và dash cancelable nhưng đòi hỏi startup khá lâu
3C
Dùng hai chân quét sát mặt đất
Là đòn knock down. Recovery nhanh hơn so ới CT + có thể dẫn tới 2B. Có thể bị special/super cancel


Drive


Input
Mô tả
Ghi chú
5D
Jin tung ra một đầu sói bằng băng cực lớn
Dash cancelable, Freeze khi hit và không thể refreeze. Hiện chỉ có thể cancel đến các D specials
6D
Một cột băng cao phía trước Jin
Nhanh hơn một chút so với CT. Freeze khi hit. hitstun rất tốt thậm chí khi không freeze. Có lợi thế với block. Không thể refreeze
2D
Bia mộ băng vụt lên từ mặt đất hướng về Jin và có khoảng cách nhất định với anh
Nhanh hơn nhiều so với CT, Có hit gây hiệu ứng vacuum, Recover đủ nhanh để tiếp tục combo nếu freeze, không thể refreeze
j.D
Tỏa ra một hào quang hình dạng bông tuyết
Special cancelable. Không hẳn là overhead. Có hitbox crossup rất tốt. Không thể refreeze


Special Attacks


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
236A/B/C
Ice Blade
Jin bắn một thanh kiếm băng đến phía trước
Dùng A bắn chậm, trên không có góc bắn xuống sắc nhất.Dùng B bắn nhanh, trên không bắn xuống theo góc 45 độ. Dùng C giữ nguyên vị trí ban đầu khoảng 1 giây rồi đột ngột bắn đi rất nhanh, trên không bắn thẳng xuống. Một khi projectile bắt đầu dịch chuyển, không biến mất dù Jin bị dính đòn, phiên bản midair recover nhanh hơn so với CT
236D
Flying Ice Strike
Jin bắn một thanh kiếm rất lớn đến phía trước hoặc 3 Ice Blade trên không trung
Là EX move, dùng 25% heat, freeze nếu hit. Có thể dùng để tiếp tục gây sức ép và refreeze nhiều lần.
623A/B
Blizzard
Jin vung nhanh kiếm theo góc 45 độ đến phía trước
Dùng A nhanh hơn còn dùng B thì có vài frame invicible. Cả hai phiên bản đều là air-unblockable và có thể combo sau một counter hit. Dùng A , recover chậm hơn. Hiện cả hai phiên bản đều whiff với đối phương đang ngồi/cúi người.
623C
Violent Ice
Jin chém dọc kiếm tới trước
Có lượng lớn invulnerability nhưng startup khá chậm. Đòn đánh có range dọc rất tốt. Jin có thể bị tấn công nếu delay đòn đánh. Có thể combo sau một counter hit.
214A/B/C
Crystal Strike(Ice Car)
Jin nhảy lên cưỡi một mảng băng rồi nhảy xuống chém đối phương(đối với B và C)
Range tùy thuộc vào nút nhấn: A ngắn nhất, B không còn knock down nếu hit, break một guard primer, C sẽ bay cao hơn so với các nút khác. Những đòn trên không sẽ được duy trì khoảng cách như dưới mặt đất
214D
Freezing Crystal Strike (Ultimate Ice car)
Giống với phiên bản B và C , khác ở chỗ Jin kết thúc bằng cách chém đối phương ra xa.
Hit đầu freeze nhưng hit thứ 2 sẽ phá băng. Gây ra goundslide. Knockdown trên không trung. Exmove: Dùng 25% heat
623D(giữ để delay)
Dual Ice Strike
Jin dùng kiếm vẽ đường tròn làm freeze đối phương lên không, sau đó chém vỡ khối băng đồng thời chém bay họ đi sang góc đối diện
Hit đầu tiên sẽ là một flash tròn bao quanh Jin và đóng băng, Hit thứ hai unblockable. Có startup invulnerable, Hit thứ nhì gây ra groundslide và delay nhằm mục đích gây damage lớn hơn, hiện freeze lâu hơn so với CT. Exmove: dùng 25% heat
C(bấm liên tục)
Snow Flower Storm
Jin điên cuồng chém tới tấp bằng cả vỏ kiếm và lưỡi kiếm theo nhiều hướng khác nhau, launch ở hit thứ 8
Là công cụ tối quan trọng trong combo

Distortion Drives


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
632146C
Ice Fang
Jin chém ra một ngọn sóng băng khổng lồ ở tốc độ cao.
Cực kì nhanh, Projectile toàn màn hình, thời gian khởi động lâu hơn so với CT
632146D
Moon song
Jin tạo hình một mũi tên băng và bắn về phía trước theo hướng 35 độ, chốt đối thủ trong chuỗi hitstun ở midair.
Được tính là freeze và có invulnerable startup. Dùng như một projectile nếu không hit ngay lập tức.
236236D
Judgment: Snowstorm
Jin block đòn tấn công của đối phương, trong chớp mắt tung ra nhát chém cực nhanh freeze họ và làm tan băng bằng cách cho kiếm lại vào vỏ.
Tạo một shield trước mặt. Dùng như một counter và fatal counter. Chặn bất kì đòn nào tiếp xúc với shield và counter rất mạnh. Cơ chế đòn đánh hoàn toàn giống với Hakumen's Snowstorm vì cơ bản Jin và Hakumen là một và hai đòn này tất yếu cũng là một, tương tự với Astrals của họ. Ở Unlimited form, đòn đánh không yêu cầu một counter-hit của đối phương để hoạt động


Astral Finish


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
CT:720*D. CS: (Giữ) 2 rồi 8D
Arctic Dugeon
Sử dụng sức mạnh tuyệt đối từ Yukianesa, Jin tập trung tất cả năng lượng vào lưỡi kiếm và cắm thẳng xuống đất, tạo ra một lồng băng cực lớn bao bọc đối phương
Sau 5 giây freeze đối thủ, Jin cho lại kiếm vào vỏ để phá băng đồng thời dứt điểm đối phương. Chỉ hit khi đối thủ đứng dưới mặt đất, có thể phá tất cả các loại block. Có thể combo bằng cách input lệnh sau khi grab.

Combos




GALLERY


SÀN ĐẤU/NHẠC NỀN

Sàn đấu

  • Cathedral Kagutsuchi - The New World Void Space Cue Administration Bureau.
  • Symbolic Domination -Cathedral- - Hypocrisy is a homage that vice pays to virtue.
Nhạc nền

  • Lust SIN - Jin's Theme
  • Under Heaven Destruction - Jin Kisaragi VS Ragna the Bloodedge
  • Imperial Code - Jin Kisaragi VS Noel Vermillion



dominhnhat@chelseafc.com.vn

thay đổi nội dung bởi: DMN, 02-12-2011 lúc 07:37
  #8  
Old 21-10-2011, 18:30
DMN's Avatar
DMN DMN is offline
 
Lover
Dynamite Natalia
Idol Kaito
Kaito đã trở thành một chàng điển trai luôn ca hát để truyền sự ấm áp của mình cho mọi người xung quanh
SP: 171
Phòng trưng bày huy hiệu
Angel of Charm Silver of Light Kaze no fukiya (Dart of Wind) Memory Seal 
Witch of the Liberal Field Orange iPod tan Red iPod tan Pink iPod tan 
Tổng số huy hiệu: 11
Tham gia ngày: 18-11-2007
Bài gửi: 1,710
Cấp Độ: 9
Rep: 252
DMN là một tấm gương sáng để noi theo

Trích:


TIỂU SỬ/CỐT TRUYỆN


NOEL Ở HỌC VIỆN NOL
Noel sinh ngày 25 tháng 12 năm 2195, là phương tiện liên lạc chiều boundary No.12 của Sector Seven. Cô được cứu trên chiến trường Ikaruga và không lâu sau được gia đình Vermillion nhận nuôi với bố mẹ trên danh nghĩa à Edgar và Claire Vermillion (theo Blazblue Material Collection). Nhà Vermillion từng được xem là quý tộc, nhưng người đứng đầu gia đình, Edgar Vermillion không thực chất là một người thừa kế và sau khi chỉ trích nặng nề NOL, gia đình Vermillion bị mất mọi quyền hạn của một quý tộc và bị NOL loại bỏ.Trong quá trình sống ở nhà Vermillion, Noel thu được Nox Nyctores Bolverk sau khi bị một con quái vật tấn công trong rừng. Nhận nuôi được vài năm , cô biết được sự thật về việc nhà Vermillion bị NOL loại bỏ và xua đuổi. Sợ hãi cho tương lai gia đình mình, Noel tham dự kì thi đầu vào của học viện quân sự NOL tại Torifune. Và dù điểm thể chất và trí tuệ cô đạt được không cao, điểm tỷ lệ đồng bộ hóa với armagus của Noel đạt mức kỉ lục trong lịch sử học viện, cho phép cô vượt qua kì thi và nhập học vào năm 2196 sau công nguyên.

Trong học viện, Noel kết bạn với Tsubaki Yayoi, Makoto Nanaya và Carl Clover. Tuy vậy Jin Kisaragi đối xử với cô rất tồi tệ mà nguyên nhân là vì gương mặt Noel rất giống với Saya, em gái của anh.6 tháng trước khi tốt nghiệp và gần như ngay sau khi Jin được bổ nhiệm thiếu tá quân đoàn 4, Noel được đưa ra đề nghị xem xét gia nhập quân đội như một trung úy quân đoàn 4: trên giấy tờ, Noel được xem là thư kí của Jin nhưng thực tế, cô là một đặc vụ bí mật gắn với quá trình tình báo và ám sát của NOL. Đổi lại, danh tiếng và quyền lợi của gia tộc Vermillion sẽ được phục hồi. Noel không ngần ngại chấp nhận lời đề nghị vì lợi ích gia đình mình.Không lâu sau, Noel được bổ nhiệm thành cấp dưới trực tiếp của Jin vào năm 2198 sau công nguyên. Jin vẫn đối xử tồi tệ với cô như cũ, nếu không muốn nói là tệ hơn. Khi Jin khoái thác công việc đuổi theo Ragna the Bloodedge, Noel nhận nhiệm vụ hộ tống Jin trở về đồng thời tránh giao chiến với Ragna bằng mọi giá, nếu cô chạm trán hắn.

Noel không nhớ quá khứ của cô. Thực chất cô chính là Mu_12, bản sao trước Nu_13, cả hai đều có cùng gương mặt, giọng nói và kí ức của Saya. Vì Noel là người sống sót duy nhất trong cuộc chiến Ikaruga, cô được xác nhận là "The Eye", người thừa kế thực sự của Azure.

NẠN NHÂN CỦA LITCHI

Điểm yếu của Noel là gia đình và mọi vật dễ thương,đặc biệt là thú nhồi bông . Trong một trong các Alternate Ending của cô ở Calamity Trigger, Noel đồng ý mặc mọi trang phục Litchi Faye-Ling yêu cầu chỉ để nựng chú gấu trúc của cô. Cũng trong Ending đó, Bang Shishigami nhận lầm Noel là đàn ông vì sự thiếu hụt vòng một [=]]]. Cô rất lúng túng về vấn đề này và thường xuyên tỏ thái độ ganh tị với quả F-Cup của Litchi mọi khi gặp mặt.

Ở True Ending CT, Noel tìm thấy Jin đang bất tỉnh sau trận chiến với Ragna và quyết định đuổi theo The Bloodedge mặc kệ cảnh báo của Hazama. Khi đến Sheol Gates, Noel thấy kí ức của mình ùa về cùng với quá khứ một người lạ mặt, trong lúc cô đang bối rối thì Nu_13 xuất hiện, vì một số nguyên nhân Noel mất kiểm soát cơ thể và chiến đấu như một cái máy (tương tự Nu). Tuy thế cô cũng không thể đánh bại được Nu, lúc Nu chuẩn bị ra đòn dứt điểm, Ragna can thiệp và cứu thoát Noel nhưng cũng không thể giải quyết đối phương. Lúc Ragna bị Nu kéo vào Cauldron để hợp thể, Noel đã đuổi theo và cứu sống anh. Sau sự kiện ở cổng Sheol, cả Noel lẫn Jin đều bị xác lập là mục tiêu ám sát của NOL.

Một thời gian ngắn ngay sau đó, Noel đi với Ragna để đề phòng hậu họa liên quan đến Azure dù cho cuối cùng cô cũng thất vọng vì bị anh đuổi đi. Sau đó Noel gặp Makoto và kể cô biết về mọi chuyện đã xảy ra, Makoto cũng bày tỏ sự nghi ngờ về Hazama,nói rằng cô không hiểu hắn ta đang mưu tính chuyện gì. Chào tạm biệt Makoto xong, Noel tiếp tục cuộc hành trình và bắt gặp Carl đang trọng thương và khi cô cố gắng giúp đỡ cậu thì Bang xuất hiện, một lần nữa hiểu lầm trầm trọng. Sau khi giải thích tất cả với Bang, Noel nhờ anh chăm sóc Carl vì cô hiện có nhiều việc quan trọng hơn cần hoàn thành.Tiếp theo Noel gặp Relius Clover đang đuổi theo hòng bắt sống cô phục vụ cho thí nghiệm, may mắn là Rachel xuất hiện kịp thời trước khi Ignis tấn công để bảo vệ cô, ngay sau đó Noel đượcJubei chăm sóc- người đồng thời kiểm soát được tâm trạng điên cuồng cô gặp phải.

NGƯỜI KẾ THỪA AZURE ĐÍCH THỰC
Sau khi hồi phục, Noel gặp Tsubaki trên đường trở về trụ sở NOL và nhận ra người bạn cũ giờ đã được giao nhiệm vụ sát hại mình, cả hai giao chiến không lâu thì buộc phải dừng lại và rời đi vì không thể đan tâm làm hại người bạn thân thiết nhất của họ.Cuối cùng Noel gặp Hazama và biết được sự thật về nguồn gốc bản thân là người thừa kế chính thức của Azure. Gã gọi cô là con rối vô nhân đạo mà gã đã lợi dụng cho âm mưu xấu xa của mình, làm cho cảm xúc Noel bị đẩy lên mức điên loạn, Bolverk haywire tạo điều kiện cho Hazama kích hoạt Cauldron biến cô trở về là Mu-12 với đầy đủ lòng hận thù với thế giới, nhận lệnh phá hủy Master Unit Amaterasu từ Hazama. Cô cầm cự được Jin và Hazama trước khi Ragna can thiệp và phá vỡ suy nghĩ hiện tại của Mu bằng cách khơi dậy tâm trí Noel được bọc trong linh hồn Nu trên thể xác Lambda, anh đã hi sinh cánh tay trái trong quá trình này.Sau đó Noel tỉnh dậy, nhận ra Jin và Ragna là hai anh em và em gái họ là người điều hành NOL, là cấp trên của Hazama và Relius Clover, cũng như Tsubaki đang bị tẩy não. Noel rời khỏi Kagutsuchi với Tager và Makoto (đã đào ngũ khỏi quân đội NOL), Trước khi lên đường, Jubei chào tạm biệt cô và nói rằng ông đã giấu bố mẹ cô ở nơi an toàn, và rằng họ cũng sẽ luôn ủng hộ cô trong cuộc chiến chống lại NOL.



NGOẠI HÌNH

Dù hiện đã đào ngũ , Noel vẫn mặc đồng phục trung úy quân đội NOL với chiếc mũ nồi tóm gọn mái tóc dài, áo váy khá ngắn và hở lưng . Cô mang đôi vớ dài đến đùi màu đen , vai áo hở và có hai dây màu đỏ được đính dài đến gối , có hai tay áo dài kết hợp với đôi găng màu xám, phần cổ áo màu trắng ở dưới chiếc cà vạt đỏ. Về mặt hình thể,Noel là một cô gái xinh đẹp tóc vàng mắt xanh lá, sở hữu làn da trắng và gương mặt thiên thần, khuyết điểm duy nhất có lẽ là vòng một của cô khá khiêm tốn - vào loại nhỏ nhất trong dàn nhân vật nữ của Blazblue.




SỨC MẠNH


Noel được miêu tả như một tay súng cừ khôi, sử dụng Nox Nyctores Bolverk( một cặp súng ngắn với nòng lớn, có thể chuyển sang nhiều hình dạng khác) cực kì hiệu quả. Phong cách tấn công của Noel được thiết kế hoàn toàn dựa trên trường phái chiến đấu hư cấu "gunkata": những đòn đánh cách điệu trên nền tảng đa dạng hóa cự li tiếp cận và thường kết thúc bằng cách gặp hai súng đơn lại với nhau .

Trên thực tế, Bolverk là phương tiện tấn công duy nhất của Noel và trở nên hoàn toàn vô dụng khi cô bị tước đoạt nó. Với chân tướng là người kế thừa thực sự của Azure và Murakumo Unit hoàn hảo, Noel có thể giả định một hình thức mạnh hơn với bản thể tên gọi Mu-12. Khi được đánh thức như "The Eye of the Azure" trong Continuum Shift, Noel cũng có khả năng nâng cao tầm nhìn và thu thập thông tin kí ức của những người cô chạm đến.

BB CS đồng thời đã bổ sung cho Noel một số đòn đánh mới và vần hào quang xung quanh cô giờ đã có màu tương tự như Bloodkain của Ragna (ban đầu màu xanh lá).






MOVELIST

COMBO VIDEO

Dù Drive của Noel, Chain Revolver được xếp vào hàng cực kì dễ spam và bị xem là cheap trong tay người chơi đẳng cấp thấp, thực tế nó khá mạo hiểm và yêu cầu bất kì Noel player nào phải nắm rất rõ bản chất lối chơi của cô. Dù Noel khá nhanh và có range tốt, cô hầu như không có khả năng combo từ poke trước đối thủ đang đứng. Bên cạnh đó việc đa số đòn đánh dẫn đến combo đều hoặc đòi hỏi điều kiện khắc khe hoặc có startup chậm gây khó khăn không nhó khi người chơi muốn tạo áp lực lên đối phương. Dù vậy nếu tung ra một hit đầu hoàn hảo, Noel có thể tận dụng để triển khai thành những combo có damage cực lớn. Ở Continuum Shift, damage output của Noel được cải thiện đán kể, đổi lại quá trình khởi động combo của cô trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.




Normal Attacks


Input
Mô tả
Ghi chú
5A
Đâm súng nhanh
Range ngắn nhưng startup nhanh và có priority vào loại khá. Thuận lợi để hitconfirm thành 6A
5B
Bắn trái tay
Là poke khá nhanh với range khá và priority khá tốt
5C
Bắn thẳng về phía trước
Có thay đổi so với CT, tương đối nhanh với priority tốt hơn. Bảo đảm projectile
2A
Đâm súng khi đang ngồi
Poke khá tốt nhưng không có khả năng combo khi gặp đối thủ đang đứng
2B
Quét chân dọc theo nền đất
Hit thấp , có thể nối tiếp bằng 5B
2C
Noel quay nhanh trên mặt đất và bắn cả 2 súng
2 hit, bảo đảm projectile
6A
Cú đá anti-air hướng về trước
Phần thân trên không bị tấn công, hiện chỉ có tác dụng với đối thủ đang đứng, kết hợp với 5A hình thành combo. Là thiết lập cơ bản cho những combo mở rộng.
3C
Bắn quét sát dọc theo mặt đất
Hit thấp, phá một guard primer, đảm bảo projectile. Combo với 5C và 2C trước đối thủ đang ngồi, là thiết lập cơ bản cho combo liên quan đến 22B/C.
j.A
Đâm súng trên không
Cancel thành chính nó
j.B
Quay súng theo đường chéo trong một vòng cung
Hitbox dọc bị thu hẹp so với CT, nay đã gặp vấn đề tấn công đối thủ bên dưới Noel
j.C
Bắn xoay cả hai súng
Đảm bảo projectile
6B
Vụt mạnh khẩu súng qua đầu
Hit overhead. Có startup chậm và dấu hiệu khá rõ ràng.
6C
Noel xoay súng và bắn mạnh lên không trung
Có startup chậm hơn so với CT, có thể được cancel với throw hoặc các đòn Special. Hit thứ hai bảo đảm projectile và phá một primer


Drive


Input
Mô tả
Ghi chú
5D
Noel trượt tới trước và bắn trực tiếp thẳng trước mặt cô
Có startup nhanh hơn CT, nay đã có đảm bảo cả cơ thể không bị tấn công trong phần sau của đòn đánh, bảo đảm projectile.
2D
Lật người trên không trong lúc đang bắn
Tương tự Greed Sever của Ky, hiện đã không còn hit overhead. Nếu ở trên không, phần dưới cơ thể không bị dính đòn. Bảo đảm projectile.
4D
Xoay ngược người lại và bắn xuống đất
Startup nhanh hơn CT, hiện phần trên cơ thể không bị tấn công từ frame 1. Lảo đảo với coungerhit. Là Fatal Counter. Bảo đảm projectile.
6D
Trượt tới trước và đá thấp
Startup nhanh hơn CT, hiện phần trên cơ thể không bị tấn công từ frame 1.Lảo đảo với coungerhit. Là Fatal Counter. Bảo đảm projectile.
5A (Trong khi 5D)
Bắn đến trước
Là combo filler. Bảo đảm projectile.
6A (Trong khi 5D)
Bắn về cả hai hướng
Tương tự 5C ở CT. Là combo filler cơ bản. Bảo đảm projectile.
5B (Trong khi 5D)
Bắn đến trước khi đang giữ súng trên chân
Block đối thủ trở lại khi hit. Bảo đảm projectile
6B (Trong khi 5D)
Đá qua đầu
Hit overhead. Có hitbox ngang khá tốt để juggle.
5C (Trong khi 5D)
Advance khi đang bắn
Tương tự drive 6A ở CT, có thể cancel jump nếu hit. Bảo đảm projectile
6C (Trong khi 5D
Ném súng đến trước tương tự như một boomerang
Hit nhiều lần, hit đầu tiên phá một guard primer.
j.D
Ngã đổ xuống đất khi đang bắn cả hai súng xuống dưới
Bao gồm momentum, dội đất với đối thủ trên không. Khi sử dụng lúc ở sát đất, có thể đồng thời kích hoạt trạng thái chain revolver mà không cần một D opener.


Special Attacks


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
236A/B/C
Type XI: Optic Barrel
Dùng súng xác định một điểm rồi gây nổ
Tùy mỗi điểm trên cơ thể mức độ damage khác nhau. Hiện có startup nhanh hơn nhưng ít blockstun và thời gian untech bị giảm,
236C(Chỉ với midair)
Type XIII: Revolver Blast
Bắn 4 phát khi đang xoay người trên không
Là đòn kết thúc combo
214A
Type IX: Muzzle Filter
Nhảy lật đến trước dùng chân nắm lấy đối phương
Chỉ trúng đối phương đang đứng, unblockable. Tương tự một đòn throw nhưng không thể bị tech kể cả khi dùng trong combo
236D (Khi Chain Revolver được kích hoạt)
Type II: Bloom Trigger
Bắn ra một luồn năng lượng lớn
Recover nhanh hơn so với CT. Dội tường khi hit
28D (Khi Chain Revolver được kích hoạt)
Type III: Spring Raid
Cú đá ngược lên trên
Thân thể không còn được hoàn toàn bảo vệ như ở CT. Phá một guard primer
214D (Khi Chain Revolver được kích hoạt)
Type V: Assault Through
Di chuyến cực nhanh đến trước rồi dùng vai đẩy đối thủ
Xuyên qua người đối phương và phá một guard primer.
22B/C (Với đối thủ đang nằm)
Silencer
Noel bắn súng xuống đất nơi đối phương vừa bị knock down
Phiên bản B có thể được mass để tạo thêm các hit phụ, Đòn B có thể combo thành đòn C. Hitbox nhìn chung đã được nâng cấp so với CT.

Distortion Drives


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
632146D
Zero-Gun: Fenrir
Đâm đối thủ bằng nòng súng máy lớn được kết hợp từ cặp Bolverk, bắn liên tục kéo người đối phương lên không và bắn bay họ đi bằng cú kết thúc như bắn một hỏa tiễn
Startup có guardpoint với block, không thể bị throw, cú bắn dứt điểm chỉ xuất hiện nếu ban đầu nòng súng đâm trúng, khi hit đẩy đổi thú về sau.
j.236236D (Chỉ với midair)
Bullet Storm => Zero-Gun: Thor
Noel nhảy lên dùng hai súng bắn liên tục về đối thủ dưới mặt đất và kết thúc bằng một quả hỏa tiễn
Startup cực nhanh. Bullet stun rất dài với đối thủ ở midair nếu hit. Hỏa tiễn phá hai primer. Hiện sẽ dễ bị tấn công hơn nếu whiff hay block.


Astral Finish


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
214214C
Valkyrie Veil
Noel bắn một phát về phía trước. Nếu hit, Noel nhảy vòng xung quanh bắn liên tục vào đối phương mắc kẹt trong hàng loạt phát bắn và gặp hai súng lại để kết thúc
Không bị trúng đòn khi startup .

Combos




GALLERY


SÀN ĐẤU/NHẠC NỀN

Sàn đấu

  • Kagutsuchi Port AM10:30 - With what measures ye mete, it shall be measured to you again.
  • Symbolic Domination -Cathedral- - Hypocrisy is a homage that vice pays to virtue.
Nhạc nền

  • Bullet Dance – Noel's Theme
  • Imperial Code – Noel Vermillion VS Jin Kisaragi
  • Memory of Tears – Noel Vermillion VS Tsubaki Yayoi
  • Memory of Tears ~Don't Look Back~ – Noel VS Tsubaki's theme with vocals (Kanako Kondō & Asami Imai)



dominhnhat@chelseafc.com.vn

thay đổi nội dung bởi: DMN, 02-12-2011 lúc 08:05
  #9  
Old 01-11-2011, 21:43
DMN's Avatar
DMN DMN is offline
 
Lover
Dynamite Natalia
Idol Kaito
Kaito đã trở thành một chàng điển trai luôn ca hát để truyền sự ấm áp của mình cho mọi người xung quanh
SP: 171
Phòng trưng bày huy hiệu
Angel of Charm Silver of Light Kaze no fukiya (Dart of Wind) Memory Seal 
Witch of the Liberal Field Orange iPod tan Red iPod tan Pink iPod tan 
Tổng số huy hiệu: 11
Tham gia ngày: 18-11-2007
Bài gửi: 1,710
Cấp Độ: 9
Rep: 252
DMN là một tấm gương sáng để noi theo

Trích:


TIỂU SỬ/CỐT TRUYỆN

Là cư dân của ngôi làng Kaka và thành viên bộ tộc Kaka, Taokaka là một catgirt, mặc chiếc áo khoác lớn che khuất mặt, chỉ để lộ đôi mắt và hàm răng sắc nhọn. Cô được trưởng làng giao nhiệm vụ săn tìm Ragna để lấy tiền thưởng và trở thành một vigilante trong quá trình thực hiện. Dù thế, Taokaka luôn là người ham ăn ham ngủ , mê chơi, hậu đậu và hay quên, thường ngủ gật và mau đói dẫn đến dễ dàng quên mọi thứ ngay sau khi tiếp nhận thông tin. Tao là bạn tốt với Litchi và thường thân mật gọi cô là "Boobie Lady". Cô hay chơi đùa với mèo con trong làng và có sự quan tâm đặc biệt đến ngực phụ nữ


GIẤC NGỦ HÀNG NGÀY CỦA TAO
Tao không gọi ai bằng tên thật ngoài chính cô và tạo biệt danh cho mọi người từng gặp. Cô không thể nhận ra Ragna the "good guy" và tội phạm "Rawgna/Ragnya" thực chất là một, thật ra đôi khi cô cũng đặt vài nghi vấn nhưng cuối cùng cũng không quan tâm. Một điểm thú vị là tộc Kaka của Tao thực chất được kế thừa biến đổi gen từ bản gốc của Grimalkin, Jubei, một trong The Six Heroes. Là một gia tộc cơ bản, họ là bản sao của nhau và dân số không thể vượt qua ngưỡng 100.


Ở Blazblue: Continuum Shift, khi cô đang ngủ bất ngờ Ragna ngã xuống làng Kaka(sau khi bị Nirvana làm trọng thương). Tao bảo vệ Ragna khỏi đòn tấn công từ Arakune và đi tìm Litchi để băng bó cho anh. Ragna rời đi ngay khi hồi phục và Tao bám theo nhưng cuối cùng cô lại chạm trán Noel bị tẩy não và Hazama, cô hoàn toàn bị Hazama hạ gục trước khi Jubei can thiệp ứng cứu và đưa Tao trở về làng. Nhận ra sức mạnh của mình cần được luyện tập và củng cố, sau đó cô quyết định rời làng để trở nên mạnh hơn và giao lại nhiệm vụ bảo vệ dân làng cho chị gái Torakaka. Tao nhanh chóng tìm gặp Ragna đang trên đường rời khỏi Kagutsuchi đến Ikaruga sau khi được Jubei dặn dò rằng phải theo sát anh.



Danh sách biệt danh Taokaka dùng để gọi các nhân vật khác


TAOKAKA
NHÂN VẬT
TÊN GỐC TIẾNG ANH
TẠM DỊCH
RAGNA THE BLOODEDGE
GOOD GUY / WHITE GUY
ANH TRẮNG /ANH TỐT BỤNG
JIN KISARAGI
CREEPY GUY / ICE MAN
ANH ĐÁNG SỢ / NGƯỜI BĂNG
NOEL VERMILLION
LACKING LADY / HATPERSON
CÔ THIẾU HỤT / CÔ ĐỘI NÓN
RACHEL ALUCARD
BUNNY LADY / RABBIT PERSON
NÀNG THỎ / NGƯỜI THỎ
CARL CLOVER
LITTLE GUY / SHORTY
CẬU LÙN / CHÀNG LÙN
NIRVANA
HARD PERSON / NOT SO SOFT PERSON
CÔ CỨNG / NGƯỜI KHÔNG MỀM LẮM
LITCHI FAYELING
BOOBIE LADY
NÀNG NGỰC TO
ARAKUNE
BLACK SQUIGGLY
BẦY NHẦY ĐEN
TAGER
BIG GUY
ÔNG BỰ
BANG SHISHIGAMI
SCRUFFY OLD MAN
ÔNG GIÀ Ở BẨN
NU VÀ LAMBDA
FLAPPY/FLAP
PHẦN PHẬT
HAKUMEN
MASK PERSON / COCKY PERSON
NGƯỜI MẶT NẠ / ÔNG KIÊU CĂNG
HAZAMA
GREEN GUY / SCARY PERSON
ANH XANH / ANH ĐÁNG SỢ
TSUBAKI YAYOI
EYE WOMEN/AVERAGE LADY
CÔ MẮT/CÔ TRUNG BÌNH
MAKOTO
FURRY GIRL
CÔ LÔNG XỐP
VALKENHAYN
BUTTER MAN
NGƯỜI BƠ
JUBEI
CAT PERSON
NGƯỜI MÈO
KOKONOE
BIG SISTER / TAIL LADY
CHỊ CẢ / CÔ ĐUÔI


NGOẠI HÌNH

Taokaka là một thiết kế khá độc đáo trên sườn nguyên mẫu catgirl với làn da nâu sáng và mái tóc dài màu vàng được đính thành hai bím. Mọi lúc mọi nơi, cô luôn mặc chiếc áo khoác lớn che khuất mặt màu beige cùng tay áo dài có các họa tiết đặc trưng của loài mèo bao phủ luôn lòng bàn tay, đi kèm đôi giày lạ mặt có gót và thân cao. Bên dưới áo khoác cô chỉ mặc quần lót có dây đai màu đỏ như được thấy trong concept art. Gương mặt thực sự của Taokaka đã luôn là đề tài thú vị thu hút sự quan tâm đặc biệt của cả người chơi lẫn nhân vật trong game vì cô không bao giờ cởi chiếc áo che phủ toàn bộ các chi tiết trên mặt, chúng ta chỉ thấy được hai mắt tròn đỏ và miệng được sử dụng diễn tả độc đáo sự truyền đạt cảm xúc của cô. Khi đồng sáng lập Daisuke Ishiwari được hỏi về dung nhan thực sự của Tao, ông trả lời rằng nó phụ thuộc vào trí tưởng tượng của người chơi, tuy nhiên, ông cũng đã xác nhận rằng chúng ta vẫn chưa chiêm ngưỡng được gương mặt thực sự của nhân vật. Ngoài ra khi bị điện giật , ta nhận ra Tao có xương cá trong cánh tay và gương mặt con người với đôi tai mèo.

SỨC MẠNH


Khác với hầu hết những nhân vật còn lại, Taokaka không có khả năng chiến đấu được đào tạo bài bản và hợp lí mà chủ yếu dựa vào bản năng bẩm sinh của mình, cô thường xuyên sử dụng seithr dù thậm chí còn không được trang bị những chiến thức căn bản.

Bàn tay cũng như bàn chân của Tao có những móng vuốt sắc nhọn có thể linh hoạt rút ra thu vào và còn có thể thay đổi hình dáng tùy vào đòn tấn công cô muốn thực hiện như răng cưa, mặt phẳng hay bằng kích thước một con dao. móc hay những lưỡi cưa riêng biệt và thậm chí cả những lưỡi dao cầu kì trang trí như các đầu mũi tên.Sự thiếu hụt về sức mạnh của Tao được bù đắp bằng tốc độ và bản năng nhanh nhẹn cùng sự linh động cực cao được cụ thể bằng những kỹ thuật không thể đoán trước.

Tao ngoài ra có thể ném các loại văn phòng phẩm đa dạng từ táo , xương cá đến gối, quả bóng chày hay thậm chí là bóng bowling và bom để tấn công đối thủ ở 214A/B/C







MOVELIST

COMBO VIDEO

Khả năng nhảy ba bậc của Taokaka cho phép cô nhập lệnh cancel hai lần liên tiếp trên không trung. Điều này mở ra hướng đi mới cho số lượng lớn cross-ups, mix-ups và các đòn bẫy đa dạng. Cô sở hữu các đòn mixups có áp lược cao mà đơn cử là 2a -> 5b -> 2a -> 2a -> 5b+c. Giống như Bang, cô có thể air dash hai lần trên không. Damage output của Tao gần nhưng ngang ngửa Ragna lẫn Nu với trung bình khoảng 3000 đến 4500.

Tao có rate guard libra thấp nhất trong trò chơi, 80%. có nghĩa sẽ rất dễ để guard crush cô. Ví dụ, hai chuỗi tấn công áp lực lớn từ Ragna sẽ phá guard của Tao hoàn toàn. Tao cũng không sở hữu bất kì lựa chọn aniti-air hay reversal tốt nào. Một ngoại lệ là Hexa Edge nhưng yêu cầu 50% meter. Tao thiếu những dụng cụ cần thiết để zoning tốt, những char có kĩ năng kiểm soát mid-range và long-range tốt sẽ không khó để đàn áp cô.

Drive của Tao là Dancing Edge, nghĩa là dùng phím drive và hướng để khởi động chế độ chạy của Taokaka thẳng hướng đối thủ.




Normal Attacks


Input
Mô tả
Ghi chú
5A
Đá khi đang đứng
Không hẳn là đòn normal-đang đứng tốt nhất của Tao, nhưng là đòn có lượng frame recovery và active ít nhất. Bạn có thể special cancel, jump cancel, hoặc tiếp tục với bất kì đòn khi đứng hay cúi người nào. 5A sẽ không hit low với các đối thủ đang cúi người.Damage: 165
2A
Đá chân thấp
Đòn rất hiệu quả trong việc buộc đối thủ phải block thấp. Tần số tấn công khá cao (có nghĩa bạn sẽ gây ít damage hơn) , nhưng bạn có thể tận dụng để nối lên với các đòn normal, special hay super khác. Đây cũng là đòn tốt để dụ đối thủ (như 2a => grab(b+c) hoặc đơn giản là cố gây damage lên đối thủ. Damage: 165
6A
Hit 2 lần khi đang đứng
Có thể cancel thành special khác hoặc jump cancel sau hit đầu tiên hoặc thứ hai. Rất hiệu quả để nhử mồi burst hoặc đơn giản là bắt đầu một combo. Hit đầu cũng tạo 1 chút hiệu ứng vacuum lôi đối thủ vào vòng xoáy. Đồng thời đây cũng là đòn anti-air của Tao nhưng không thể so sánh với 6a của Ragna hay Litchi. Hoàn toàn không hit đối phương cúi người thấp hoặc các char đẩy bạn ra xa với khả năng guard hoàn hảo. Nếu miss, đối thủ sẽ có đầy đủ thời gian để punish. 320 damage sau hai hit
j.A
Tấn công bằng chân khi nhảy
Như phần lớn các command 'A' của Tao, có khả năng follow với các đòn jump normal, Cat Spirit Two! hoặc các đòn Drive. Một đòn đáng tin cậy dùng để follow up một combo an toàn. 165 damage
5B
Tấn công bằng đầu gối khi đứng
Một trong những đòn đang đứng tốt nhất của Tao. 5b có startup giống với 2a, trừ việc tần số của đòn gối là 90%.Điều này ám chỉ bất cứ khi nào dùng 5b, bạn sẽ gây một combo có damage thậm chí còn lớn hơn. Và vì có lợi thế với 6 frame thực hiện, đa phần mọi đòn normal của đối thủ sẽ bị counter hoặc tệ nhất là hit cả hai. 340 damage.
2B
Trượt thấp
Một đòn normal nhanh và chỉ có thể block thấp. Nó không có damage cao nhất cũng như tần số ấn tượng, nhưng bạn có thể nối lên những đòn normal mạnh hơn, một công cụ hữu hiệu để dùng throw gimmicks (2b=>b+c), mixups hay nối dài chuỗi combo. 440 damage
j.B
Đá nhảy hai chân
Có rất nhiều frame thực hiện và hồi phục (15~19). Nó cũng có 3 frame active window để hit đối thủ, nhưng đặc điểm tối ưu nhất là hitbox cực lớn. Không phải là dụng cụ zoning hiệu quả nhất, nhưng bạn có thể dùng nó để hit confirm tới các chuỗi tấn công áp lực hoặc tạo một số crossup khá kín.385 Damage.
5C
Tấn công bằng vuốt khi đang đứng
Có thể charge. 5c là đòn normal khá tốt dùng để chuyển lên 2c, 3c,6c và jump cancel, special hay các đòn drive. Nó không có frame thực hiện nhanh (10frame) và có frame phục hồi khá nhiều (31 frame), nhưng nếu bạn counter hit được thì tiếp theo hoàn toàn có thể punish mạnh đối phương. Một 5c được charge hoàn toàn sẽ tạo một guard crush 2400 với đối phương. Charge 5c sẽ không gia tăng damage hay tần số biến đổi. 550 damage.
2C
Quét vuốt
Có thể charge. Như phần lớn đòn C khác, 2c có damage cao nhưng thực hiện (15 frame) và phục hồi (27 frame) chậm, có thể chuyển sang 3c,5c,special hay thậm chí các Distortion Drive. Bạn có thể charge đoàn đánh bằng cách giữ núp, startup có 11 frame sau khi thả nút, giá trị guard crush vào khoảng 1600 khi giữ 22~31 (startup 33~42), giá trị guard crush vào khoảng 2800 khi bạng giữ nó 32~35(startup 43~46). Charge 2c không gia tăng tần số tấn công hay damage. 575 damage.
6C
Hadouken Palm Strike
Có thể charge. Là đòn normal gây damage lớn nhất. Như mọi đòn C khá của Tao, 5c có rất nhiều frame thực hiện (23-64 frame) và phục hồi (18 frame), nhưng gây ra lượng cực lớn damage. Khác với các đòn normal khác, bạn chỉ có thể dẫn tới drive, special hay super. Mọi combo bắt đầu bằng 6c sẽ tạo ra một combo 4000 damage, nhưng rất dễ bị punish. Charge 6c không gia tăng damage nhưng tăng tần số scale. 700 damagew.
3C
Tấn công bằng chân hai lần và quét chân
Có thể dẫn đến drive, special hoặc super với mọi strike. 3c cũng là dụng cụ để bắt đầu loop drive, một trong các bnb combo chính của Tao đồng thời có tiềm năng anti-air tốt. Dù nó không thể so sánh với 6a của Ragna hay DP của Jin, với việc Tao không có những lựa chọn tốt nào cho anti-air trừ berserker barrage và 6a, 3c là lựa chọn tốt thứ nhì. 390 damage với 2 hit, 440 damage với 3 hit.
j.C
Tấn công bằng vuốt khi đang nhảy
Có thể charge, Là đòn normal zoning tốt nhất của Tao. Thực hiện trong khoảng 9 frame, rất nhanh với một heave attack. Vì cô không thể nối với bất kì đòn normal nào khác ngoài j.b và j.d, lợi thế khi hit hoặc CH sẽ đáng để thử bất kể sự mạo hiểm nó mang lại. 480 damage.



Drive


Input
Mô tả
Ghi chú
5D
Dancing Edge: Cho phép Tao bay song song với mặt đất khi bay tới trước
Dùng nhiều nhất khi được dẫn từ 3c. 560 damage
2D
Bay chéo về phía trước
Chỉ hoạt động khi hai chân chạm đất. 650 damage
4D
Nhảy lùi về rồi bất ngờ tấn công
Có lượng frame thực hiện startup cao nhất với 35 frame nhưng nếu canh thời gian chính xác, bạn có thể nhảy ngược về để nhử mồi burst. 720 damage.
j.D
Nhảy tấn công về trước
Giống 5d, bạn tấn công tới trước song song với mặt đất, đa số drive loop yêu cầu sử dụng j.d, nên cần chú ý đến nó khi combo, 570 damage
j.2D
Nhảy chéo xuống
Khi ở trên không, bạn có thể nhảy chéo xuống thẳng hướng đối thủ. Nếu muốn dùng taunt combo, tốt nhất nên làm quen với đòn này. 600 damage
j.4D
Nhảy mạnh về rồi tấn công đến trước
Khi ở trên không, bạn lùi về hướng mặt đất và tấn công thẳng tới. Nu không thể hit Tao với drive đang đứng của cô nếu bạn dùng j.4d, Tao sẽ bay qua nó. 680 damage


Special Attacks


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
236A (Có thể lặp lại)
Cat Spirit One!
Slash nhanh, có thể cancel đòn đánh khi liên tục bấm nút A.
Nó không thật sự gây damage hay có tần số áp lực cao nhất, nhưng là đòn dễ nhất để thực hiện. 370,330 damage.
236B (Chỉ midair, có thể lặp lại)
Cat Spirit Two!
Slash nhanh, tương tự Cat Spirit One, cancel đòn đánh bằng cách liên tục nhấn B.
236B trên không cho bạn đủ thời gian sau đó để link tới một hit khác (236B lặp lại, hoặc A/B/C) nếu bạn đạt độ cao cần thiết. Tuy nhiên, nó cũng không dễ để rejump combo sau 236B không có RC. 380 damage.
236C (Có thể delay, có thể lặp lại)
Cat Spirit Three!
Một slash mạnh, có thể charge.
Một trong những đòn chậm nhất khi đòi hỏi đến 30-64 frame thực hiện và 17 frame hồi phục. Một trong những đòn gây damage cao nhất và có tần số áp lực lớn. Chỉ block cao. 560,580 damage
213A/B/C (Có thể charge với C)
Kitty Litter Special!
Đòn projectile ném các đồ vật khác nhau tấn công đối thủ tùy thuộc vào input.
214a=Projectile chéo (31 frame thực hiện)Táo, Gối(2hits), quả bom (2hits). 214b\ Projectile thẳng tới trước(39 frame thực hiện)Rối, Xương cá, quả bóng chày(có thể bay xuyên suốt stage nếu không hit). 214c= Tao ném quả bóng bowling đi dọc nền đất với 49 frame thực hiện. 216 damage, 288 damage cho bóng bowling.
214D
Cat Jump!
Tao nhảy đến tấn công đối phương
Cho phép bạn thực hiện vài mixup, nhưng cẩn thận rất dễ bị Counter Hit khi đang nhảy tới.
214D (midair, ở cuối màn hình có thể delay)
Sticky Kitty
Ở cuối màn hình, Tao bám dính lên tường và sẽ không ngã nếu bạn giữ nút D.
Nếu bạn nhấn 6, cô sẽ nhảy xuống biểu diễn vài chiêu của người nhện (!)
giữ 2, sau đó 8C (nhấn 4 và 2 để tiếp tục)
Trick Edge!
Cho phép Tao lướt về phía sau phóng lên theo đường chéo và nhảy thẳng đến trước
nhấn 2 và 4 để di chuyển thêm
22C (có thể delay)
Slashy-Slashy!
Tao nhảy xuống và bắn ra móng chân tạo nhiều hit liên tục
Mỗi hit 80 damage.

Distortion Drives


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
236236D
Cat Person's Secret Art: Hexa-Edge
Tao liên tục cào đối phương
Có thể nối với các đòn normal khi đang đứng, chỉ bị phản đòn với các Distortion Drive.
214214C
I'mma Beat the Crap Outta You!
Tao nhảy đến vồ đối thủ xuống và liên tục cào họ trước khi đánh bay lên cao
Không thể block vì là một đòn grab. Có thể đè đối thủ trên không xuống đất và nối combo vào, sẽ không vồ được đối thủ đang cúi người
236236B
Almost Becoming Two!
Tao tạo ra một doppelganger và liên tục tấn công đối thủ
Damage bị giảm một nửa khi đòn super này được kích hoạt và có tần số áp lực tấn công khoảng 90%. doppelganger có 17 frame chậm hơn Tao.


Astral Finish


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
Giữ 4,128D
Attack Meow Pow
Tao nhảy về trước rồi lướt tới đối thủ và bao vây họ bằng rất nhiều đòn đánh và kết thúc bằng việc đánh họ lên cao.
Trong chuỗi hit liên tục trước khi đánh đối phương lên cao ,Jubei tung đòn cuối cùng.

Combos




GALLERY


SÀN ĐẤU/NHẠC NỀN

Sàn đấu

  • Lost Town - Hope often deludes the foolish man
  • Postprandial Happy -Lost Town- - Laughter is the best medicine
Nhạc nền

  • Catus Carnival - Taokaka's Theme



dominhnhat@chelseafc.com.vn

thay đổi nội dung bởi: DMN, 02-12-2011 lúc 08:06
  #10  
Old 10-11-2011, 23:50
DMN's Avatar
DMN DMN is offline
 
Lover
Dynamite Natalia
Idol Kaito
Kaito đã trở thành một chàng điển trai luôn ca hát để truyền sự ấm áp của mình cho mọi người xung quanh
SP: 171
Phòng trưng bày huy hiệu
Angel of Charm Silver of Light Kaze no fukiya (Dart of Wind) Memory Seal 
Witch of the Liberal Field Orange iPod tan Red iPod tan Pink iPod tan 
Tổng số huy hiệu: 11
Tham gia ngày: 18-11-2007
Bài gửi: 1,710
Cấp Độ: 9
Rep: 252
DMN là một tấm gương sáng để noi theo

Trích:


TIỂU SỬ/CỐT TRUYỆN


ARAKUNE
Một sinh vật quái dị, nhớp nháp với chiếc mặt nạ trắng và từng làm việc cùng với Kokonoe, Tager và Litchi tại Sector Seven. Hắn từng là một con người có tên "Lotte Carmine". Sau một nỗ lực nghiên cứu Boundary, vì mặc cảm tự ti với tài năng thiên bẩm của Kokonoe, hắn trở thành như hiện tại : một tạo vật không xác định, là nơi ẩn nấu cho hàng ngàn các loài côn trùng khác nhau và khát khao kiến thức. Trong tình trạng tồi tệ như vậy, hắn tất yếu trở nên mất trí và điên loạn,cũng như không có bất kì kí ức nào đáng tin cậy, cùng với đó là giọng nói bị bóp méo và rời rạc, đa số các câu thoại của hắn đều sai ngữ pháp và bị chen lẫn với những tiếng cười điên khùng hoặc những tiếng thét tra tấn (Có vẻ như chỉ Litchi là hiểu được). Những cuộc trò chuyện với nhân vật khác và arcade ending gợi mở nguyên nhân làm Arakune thành ra hiện tại là do sức mạnh của kiến thức thu được từ Boundary quá khủng khiếp so với sức chịu đựng của cơ thể hắn, thậm chí hắn không ý thức được rằng mình đã bị biến đổi, đến nỗi hắn không hiểu tại sao người khác không hiểu lời nói của mình, vì thế hắn đeo chiếc mặt nạ vì nghĩ rằng như vậy sẽ cho phép người khác lắng nghe và hiểu rõ hắn.

Xuyên suốt Calamity Trigger, Arakune sống trong cống rãnh thành phố Kagutsuchi vì đó là nơi có mức tập trung seithr cao nhất, hắn sẽ tấn công bất kì ai bước vào đó. Arakune cũng được biết là sẽ tấn công và nuốt chửng các sinh vật khác để duy trì sự sống mà đơn cử nhất là gia tộc Kaka, những con mồi ngon ở gần nhất. Hắn khao khát sức mạnh và kiến thức hơn bất kì thứ gì và xem Azure Grimoire là đỉnh cao của những khía cạnh ấy. Mọi lúc gặp Ragna, Arakune thường xuyên bày tỏ sự thèm khát tột độ cho Azure , luôn miệng lẩm bẩm " Azure ... Azure ... Azure".

NƠI LÀM VIỆC CỦA LOTTE CARMINE TRƯỚC KHI TRỞ THÀNH ARAKUNE


Ở Continuum Shift, Arakune tiếp tục công cuộc tìm kiếm Azure Grimoire. Hắn cho thấy mình cũng có thể nói ngôn ngữ người bình thường nhưng chỉ trong thời gian ngắn nhất định trước khi bị sự điên loạn lấn áp. Trong khoảnh khắc làm chủ được mình, Arakune bảo Litchi thay vì cố gắng chữa trị cho mình bằng sức mạnh đã gây ra sự điên loạn đó, hãy mau chóng đến chỗ Kokonoe chạy chữa. rằng hãy biết giới hạn của cô hoặc kết cục cô sẽ trở thành như hắn. Cuộc chạm trán sau đó với Terumi hé lộ sự thật về việc Arakune đã bị sử dụng như một thành phần thử nghiệm tạo ra Black Beast, nhưng thất bại vì cuối cùng hắn chỉ có thể tiêu thụ sinh vật khác.

Dường như hắn có mối hận sâu sắc với Relius Clover. Không may, trong một trong những trận chiến với Relius, hắn bị bắt và trở thành nhân tố quyết định Terumi sử dụng để ép Litchi gia nhập NOL


NGOẠI HÌNH

Arakune xuất hiện trong lốt một tổng thể nhớt nhát màu đen với chút gam đỏ ở phần dưới. Trong đám hỗn loạn đó nổi bật lên chiếc mặt nạ trắng với khuôn mặt trơ cứng được hắn khắc với hi vọng sẽ tạo điều kiện để giao tiếp. Dù thế, hắn không bao giờ rời khỏi chiếc mặt nạ.Bên cạnh số lượng lớn các loài côn trùng cư trú trong cơ thể, Arakune cũng bao gồm một bộ sưu tập xương xẩu có thể rắp khuôn thành chân hay cánh tay để thuận lợi hơn khi di chuyển.


SỨC MẠNH


Việc bước vào Boundary đã chuyển đổi Arakune thành một sinh vật màu đen, vô định hình. Cộng với tính khí điên rồ thất thường làm cho hắn ta trở thành một đối thủ khó khăn để vượt qua, hắn có thể đi sâu vào mặt đất như một vũng nước và chìm xuống đất để tránh các đòn tấn công và làm cho mình vô hình để phát hiện kẻ thù cho đến khi phản đòn. Cơ thể dính dớp của hắn bao gồm vô số côn trùng độc dùng đểbao xung quanh và triệt hạ đối thủ, nó cũng chứa một bó xương mà hắn có thể dung thiết lập cho một loạt các đòn cận chiến hoặc hình thành một khẩu pháo có thể bắn nhiều chùm tập trung của năng lượng bóng tối


Drive của Arakune là Crimson, cho phép hắn đặt một lời nguyền lên đối phương bằng cách tấn công họ với hơi thở hắn tỏa ra. Ở Calamity Trigger, hắn chỉ cần strike một lần là đủ để thiết lập, nhưng ở Continuum Shift, Arakune buộc phải làm đầy gauge. Một khi hoàn toàn đặt được lời nguyền này, Arakune có thể gọi một quân đoàn bao gồm vô số các loài sâu bọ, kí sinh để tấn công nạn nhân từ mọi hướng, làm hắn hầu như không thể bị tấn công trong tay một người chơi điêu luyện.





MOVELIST

COMBO VIDEO

Giống như trong CT, Arakune có lối chơi phòng thủ với trọng tâm là gây sức ép lên đối thủ một cách thụ động bằng việc gọi đến rất nhiều côn trùng tấn công họ và lợi dụng tối đa những sai lầm của đối phương. Tuy nhiên, Arakune CS không dễ để đưa kẻ thù vào trạng thái "bị nguyền(curse)" nhờ vào các poke ngẫu nhiên, vì thế cách tấn công không phụ thuộc vào drive của hắn trở nên khác biệt.

Những đòn đánh cũng kém an toàn hơn rất nhiều, có nghĩa bạn phải cẩn thận hơn rất nhiều trong quá trình đặt curse lên đối thủ, là nhân tố chính yếu cho việc gây damage của Arakune. Khác với ở CT, ở nơi vừa đặt curse, ngay lập tức bạn sẽ phải lấp đầy một thanh giá trị curse nếu muốn vào Fever Mode. Bù lại, bạn sẽ không bao giờ bị đánh ra khỏi Fever Mode và vẫn giữ được lượng damage cao(lên đến 12000) ở mode này.


Normal Attacks


Input
Mô tả
Ghi chú
5A
Quét vuốt ngang
Có thể nối tiếp bằng 6B cho một combo special chỉ định
2A
Quét nhanh vuốt tầm thấp
Range và Recovery tốt
6A
Vuốt quét qua đầu
/
j.A
Quét vuốt trên khôn
Hit dưới và trước mặt Arakune
5B
Liên tục quay và tấn công
Hit mid-range, một số char sẽ bị hit khi đang cúi người
2B
Arakune nhảy xổm xuống
Hitbox AA bị thu hẹp
6B
Tấn công thấp
Đòn tấn công thấp như gây hiện tượng tách rời
j.B
Tấn công liên tục với damage tăng đột biến
Bất ngờ có priority rất cao. Một đòn qua đầu chớp nhoáng tốt khi j.4B được sử dụng kết hợp với airdash.
5C
Tấn công bằng một chiếc lưỡi lớn
Phần trên cơ thể không thể bị tấn công
2C
Arakune nhảy tới và xuống thấp mặt đất.
Hitbox là ở trước và trên đỉnh đầu Arakune. Rất không an toàn nếu bị block. Phá một guard primer. Fatal counter khi hit.
6C
Đòn spike qua đầu
Bắt đầu over-head rekka: 6C > 5C> 2C . Hit thứ hai launch, nhưng không jcable, hit thứ ba knock down đối phương.
3C
Arakune bất ngờ biến mất và xuất hiện cách đó khoảng nửa màn hình và tấn công một đòn hit thấp
Đòn này không thật sự an toàn, có thể dùng để tránh xa đối phương.
j.C
Đòn spike đánh đối thủ xuống đất
Nếu hit thì dội Arakune ngược lại.
j.2A
Bổ nhào về phía trước
Không thể cancel thành teleport với block như ở CT.
j.2B
Bổ nhào thắng xuống
Không thể cancel thành teleport với block như ở CT.
j.2C
Bổ nhào về sau một chút
Không thể cancel thành teleport với block như ở CT.
j.6A/B/C
Lao tới đối phương
Độ mạnh của button thay đổi cự li.


Drive


Input
Mô tả
Ghi chú
Bất kì hướng nào/input + D [Crimson]
Đòn drive đặt curse lên đối thủ, nhận biết bằng hai vòng nhẫn xoay quanh cơ thể họ. Khi curse, Arakune có thể gọi rất nhiều sâu bọ bay từ ngoài màn hình tấn công đối thủ
Bọ có thể được gọi khi phím A,B,C hay D được thả ra. Chỉ một con mỗi loại có thể ở trên màn hình cùng một lúc, và bọ không thể được gọi nếu Arakune đang bị tấn công (hit hoặc block). Các đòn drive lấp đầy thanh fever khi hit và người chơi chỉ vào curse mode khi nó đầy, khi đó thanh fever sẽ giảm dần với tốc độ ổn định (chậm hơn nếu đang bị tấn công). Drive bị block có tốc độ lấp thanh bằng phân nửa so với thông thường.
5D
Arakune tỏa ra một đám may mù
Có thể cancel jump khi block
6D
Gọi một con bọ hình chuông từ từ xà xuống mặt đất
NHit qua đầu. Bắt đầu từ trên cao từ từ rơi xuống, thích hợp trong việc chiếm lĩnh và kiểm soát không gian.
2D
Arakune nhổ ra một con bọ
Hit đầu tiên hit thấp.


Special Attacks


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
214 A/B/C
If P then Q
Arakune teleport
Tất cả các đòn 214 để đánh lạc hướng và teleport về chỗ đứng trước, j.214 đưa người chơi xuống đất khi đang ở trên không. Có thể bị hit chặn teleport. 214A: Nhảy tới trước. 214B: Nhảy trực tiếp lên. 214C: Teleport đến phía sau đối phương.
236B
Equal 0
Trở nên hoàn toàn vô hình
Sẽ trở lại trạng thái cũ nếu hit hoặc bị hit. Hữu dựu để cancel recovery trong một sỗ đòn nhất định.
j.236C
y.two-dash
Đòn special với các xúc tu xoay vòng
/
j.236D (chỉ với midair)
Zero Vector
Giải phóng các đám mây nguyền(curse clouds)
Có ba loại mây đa dạng xuất hiện: 1: Hình cầu và bám theo đối thủ tới khi họ chạm đất trong khi vẫn giữ vị trí trước mặt họ. 2: Đám mây hình dạng thông thường và bám theo đối phương nhưng vẫn giữ vị trí cao hơn đầu họ. 3: Có hình một chiếc nhẫn xuất hiện quanh Arakune và bám theo hắn. Những Curse Could này không còn có hitbox(sẽ lấp đầy thanh nếu chạm đến đối thủ nhưng không gây stun hay damage).
44 hay 66 (chỉ với midair)
44/66
Tương tự Act Parser của Nu. Khi bạn ở góc , Arakune sẽ biến mất và xuất hiện lại ở bên kia màn hình
Đòn này rất tốt để tránh tấn công, chạy trốn và hỗ trợ các chiến thuật với zero vector. Khuyết điểm của đòn đánh là mọi đòn tấn công lên Arakune trong thời gian thực hiện sẽ là counter-hit.

Distortion Drives


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
236236C
f-inverse
Bắn một tia laser lớn lên trên Arakune.
Phần chân là phần của hitbox và có thể combo từ một grab. Arakune có thể di chuyển sang trái hoặc phải trong lúc thực hiện. Nếu trong quá trình khởi động hit được đối phương, hitbox của cơ thể Arakune sẽ được kích hoạt nên nếu đối thủ đến đủ gần đòn đánh, sẽ bị launch lên tia laser. Nếu đòn đánh bị block, body hitbox bị vô hiệu hóa và chỉ tia laser là có tác dụng.
j.214214D (chỉ với midair)
f of g
Đòn pit super không thể bị block.
Chỉ hit đối thủ dưới mặt đất, khi hit sẽ lập tức lấp đầy curse bar.


Astral Finish


Input
Tên
Mô tả
Ghi chú
34123646D
n to infinity
Arakune biến đổi thành một dạng hình cầu và lao vào đối thủ
Nếu đối phương barrier block, barrier block sẽ bị phá. Nếu họ normal block, guard sẽ break. Instant kill nếu hit.

Combos




GALLERY


SÀN ĐẤU/NHẠC NỀN

Sàn đấu

  • AREA -28- - Where ignorance is bliss, tis folly to be wise
  • Cocoon -Area 28- - Things past cannot be recalled but may be repented
Nhạc nền

  • Thin RED Line - Arakune's Theme
  • Weak Executioner - Arakune VS Litchi Faye-Ling



dominhnhat@chelseafc.com.vn

thay đổi nội dung bởi: DMN, 02-12-2011 lúc 08:08
Ðề tài đã khoá

Bookmarks & Social Networks

Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 15:56.

Bản quyền oOo VnSharing Group oOo © 2007 - 2012
Vui lòng ghi nguồn VnSharing.net khi bạn dùng các bài viết của site. LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: 0945255655. Mail: hyutars@gmail.com
Powered by: vBulletin Copyright © by 2000-2013, Jelsoft Enterprises Ltd.