Bạn chưa đăng kí (hoặc chưa đăng nhập) nên quyền lợi của bạn sẽ bị hạn chế. Việc đăng kí làm thành viên hoàn toàn miễn phí, sau khi đăng kí bạn có thể post bài, tham gia thảo luận, liên lạc với các thành viên khác qua hệ thống tin nhắn riêng, yêu cầu manga/anime... và rất nhiều quyền lợi khác. Thủ tục đăng kí rất nhanh chóng và đơn giản, hãy Đăng Kí Làm Thành Viên!
Lời tác giả: Một loại kẹo cổ điển của Nhật Bản: Caramel khoai lang. Tôi đã từng có một thời gian rất mê bontan ame và đã viết về nó hai lần trên KyotoFoodie. Công ty đã làm ra loại kẹo này cũng đã sáng tạo thêm một thứ kẹo mềm độc đáo nữa với việc sử dụng nguyên liệu rất Kyoto: khoai lang. Tôi đã biết về caramel khoai lang nhưng chưa bao giờ tìm được nó cả. Cuối cùng, bây giờ tôi cũng đã tìm thấy rồi!
♥♥♥xxxxxxxxxxxxxkẹo truyền thống Caramel khoai lang
Thiết kế bao bì theo phong cách hoài cổ
Caramel khoai lang được làm ra bởi cùng một công ty ở Kyushu đã sản xuất bontan ame, một sản phẩm meibutsu (đặc sản) khác. Tuy có hương vị rất đặc biệt của caramel, nhưng nó không dính và dẻo như loại caramel phương Tây. Nó vẫn còn lại một ít xơ khoai lang. Giống bontan ame, loại kẹo này đủ để thoả mãn sự hảo ngọt nhưng lại không ảnh hưởng tới vòng eo.
Kẹo caramel khoai lang với giấy gói oblaat
Thứ kẹo mềm này, như bontan ame, được gói bằng loại giấy bóng kính ăn được gọi là “oblaat” (một loại như giấy gạo) – du nhập vào Nhật Bản cùng với thuốc Tây từ đầu thời Meiji. “Oblaat” sẽ tan ra ngay khi chạm vào lưỡi.
Thành phần kẹo gồm có: mizuame (nghĩa là “kẹo nước”, một loại chất làm ngọt truyền thống), satsuma imo (khoai lang), bơ, đường và sữa đặc. Khoai lang chiếm khoảng 1/3 khối lượng mỗi viên kẹo mềm.
Satsuma Imo (khoai lang)
Caramel khoai lang cũng rất hấp dẫn với tôi như bontan ame, bởi dẫu nó được làm từ nguyên liệu Nhật Bản nên có hương vị Nhật, nhưng rõ ràng là vẫn bắt nguồn từ kẹo phương Tây. Vào thời Taisho (1912-1926), Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng lớn và được truyền cảm hứng từ văn hoá phương Tây nhưng vẫn giữ được những nét truyền thống. Hầu hết nghệ thuật, thiết kế, thời trang và sản phẩm của thời đại này đều rất cuốn hút đối với người phương Tây, bởi vì chúng hiện đại nhưng không bị ngoại lai. Có điều gì đó khá gần với ngày nay nhưng cũng có điều gì đó rất độc đáo mà chúng tôi không thể nắm bắt được. Tôi nghĩ rằng có lẽ thời đại này chính là “Kỉ nguyên Vàng” của Nhật Bản hiện đại.
♥♥♥xxxxxxxxxxxxxKhoai lang trong nền văn hoá ẩm thực Nhật Bản
Khoai lang phổ biến ở Nhật Bản nhiều hơn là bạn tưởng. Chúng được dùng trong tất cả các món ăn, đặc biệt là mứt. Khoai lang đã đến Nhật Bản từ Nam Mỹ thông qua Đông Nam Á, Trung Quốc và Vương quốc Ryukyu (Okinawa ngày nay) và đến Kyushu vào khoảng 300 năm trước.
Việc trồng khoai lang sớm phát triển mạnh trên mũi phía Nam Nhật Bản (sau này gọi là Satsuma) bởi vì có đất núi lửa và khí hậu nóng. Loại imo-jochu nổi tiếng của vùng Kyushu, là rượu shochu được chưng cất của vùng này, cũng được làm từ khoai lang. Xa hơn về phía Bắc Nhật Bản, lúa mì và gạo cũng được sử dụng.
Việc này bị giới hạn trong khu vực Satsuma cho đến khi một nạn đói khủng khiếp tràn qua Nhật Bản. Vào lúc đó, tình hình của những người dân ở Kagoshima và Nagasaki tốt hơn nhiều so với những vùng khác bởi vì họ đã có được một nguồn cung cấp khoai lang dồi dào. Sau nạn đói, việc sản xuất khoai lang được nhân rộng bởi Mạc phủ Tokugawa ở Tokyo và nhanh chóng lan rộng ra cả nước.
Nguồn: KyotoFoodie.com Trình bày: ♥PhongLinh♥
.
đợt này trông đơn giản quá
18 rep Point: 5
__________________
Em không phải người đầu tiên anh hẹn hò.Nhưng em là mối tình đầu của anh.
Nếu ai đã từng một lần chinh phục đỉnh Phú Sĩ (Fuji-san) – một biểu tượng tuyệt đẹp của đất nước Mặt trời mọc, thì chắc rằng sẽ không bao giờ quên được cái cảm giác vui sướng mà rùng rợn người đó. Núi Phú Sĩ cao 3.776m và được hình thành cách đây 100.000 năm.Núi Phú Sĩ nằm gần bờ Thái Bình Dương của đảo chính Honshu trên đường ranh giới giữa hai tỉnh Shizuoka và Yamanashi (phía Tây Tokyo), từ đỉnh núi Phú Sĩ có thể được nhìn rõ từ thủ đô Tokyo vào những hôm trời quang mây
Mỗi năm, nơi đây thu hút khoảng 200.000 người leo núi Phú Sĩ, trong đó có khoảng 30% là người nước ngoài. Tuy nhiên, khoảng thời gian đẹp nhất để leo lên tới đỉnh ngắm những cảnh vật tuyệt vời là từ 1/7 đến 27/8 trong năm.Nếu tính từ chân núi lên tới đỉnh Phú Sĩ thì được chia thành 10 trạm, nhưng đường lên tới trạm thứ 5, tức là đã cao tới 2.300m so với mặt biển. Tất cả đoạn đường đi đều được lát đá rất đẹp và dễ đi. Vì vậy, ô tô có thể lên đến trạm thứ 3. Và nếu leo một mạch lên đến tận đỉnh thì du đi phải mất khoảng 7 tiếng.
Theo truyền thống, người ta thường mặc đồ màu trắng khi leo lên ngọn Phú Sĩ, nhưng hiện nay rất hiếm người thực hiện. Thông thường, du khách sẽ leo một mạch từ chân núi vào buổi đêm để có thể lên tới đỉnh núi đúng lúc mặt trời mọc.
Từ lưng chừng núi nhìn ra xa, du khách sẽ được ngắm nhìn một cảnh tượng bao la, hùng vĩ và đẹp không có gì kể xiết; những cái hồ xanh ngắt lấp ló giữa cánh rừng bạt ngàn. Ở đây du khách sẽ được ngắm nhìn hồ Waldo Lake nổi tiếng rộng nhất và sâu nhất thuộc khu rừng quốc gia Willamette. Đặc biệt nước hồ này được xem là trong lành và tinh khiết nhất thế giới. Cách đây khoảng 100 năm con hồ này cũng đã từng phun trào những khối nham thạch khổng lồ.
Tại mỗi trạm dừng chân, du khách có thể thưởng thức những món ăn truyền thống của Nhật, như món súp miso nóng (canh đậu tương) để được tiếp thêm sức lực. Bởi càng leo lên cao, nhiệt độ càng thay đổi rất nhanh, từ nóng chuyển sang mát và cuối cùng là lạnh.
Vẻ huyền ảo của ngọn núi
[justify]Với độ cao 3776m, núi Phú Sĩ là ngọn núi cao nhất ở Nhật Bản và cũng là ngọn núi được nhiều người Nhật yêu thích nhất. Vẻ đẹp của nó làm xao động biết bao tâm hồn người ngắm.
Núi Phú Sĩ trải dài trên địa phận tỉnh Shizuoka và tỉnh Yamanashi, ở phía Tây Nam Tokyo. Núi nằm gần như trung tâm đảo Honshu.
Núi Phú Sĩ là một trong những biểu tượng nổi tiếng của nước Nhật
Đây là một núi lửa còn sống và là ngọn núi cao nhất của Nhật Bản với độ cao tuyệt đối: 3.776 mét. Đỉnh núi Phú Sĩ quanh năm tuyết phủ, tạo nên một vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ. Dưới chân núi có 5 hồ nước ngọt lớn, đó là: Kawaguchi, Yamanaka, Sai, Motosu và Shoji. Cùng với Hồ Ashi ở gần đó, chúng tạo nên một cảnh quan tuyệt đẹp cho ngọn núi.
Những chiếc hồ xung quanh...
...càng làm tôn thêm vẻ đẹp của ngọn núi hùng vĩ
Núi Phú Sĩ trong mùa đông giá lạnh bên mặt hồ đóng băng
Đoàn tàu cao tốc "mê mẩn" ngắm ngọn núi
Núi Phú Sĩ có hình chóp tuyệt đẹp, nổi tiếng trên toàn thế giới như là biểu tượng của Nhật Bản đồng thời tạo cảm hứng cho nhiều thế hệ các nghệ sĩ và thi sĩ của xứ Phù Tang. Tuy đã nằm im từ năm 1707, ngọn núi này vẫn được các nhà địa chất học xếp vào loại núi lửa đang hoạt động.
Núi Phú Sĩ là ngọn núi lửa vẫn đang hoạt động
Núi Phú Sĩ không những hùng vĩ tráng lệ mà còn muôn hình muôn vẻ: mùa xuân hoa lá xanh tươi, mùa hè nước chảy rì rào, mùa thu lá đỏ phủ khắp núi đồi, mùa đông băng tuyết trắng xóa. Có khi, trong cùng một ngày, trời nắng và trời râm đến sự thay đổi của của núi. Khi thì như có tấm màn the mỏng che phủ lên thân núi, đỉnh núi lúc mờ lúc hiện, như phiêu diêu lơ lửng. Khi thì thân núi hiện ra lồ lộ, đứng cao lừng lững, vời vợi.
"Sắc đẹp" của núi Phú sĩ là muôn màu muôn vẻ
Có lúc lãng mạn mộng mơ...
Khi lại bí ẩn và đẹp lạ lùng
Người Nhật Bản ai cũng muốn một lần được trèo lên đỉnh núi Phú Sĩ. Trong tháng 7 và tháng 8, băng tuyết tan dần. Đó là lúc núi Phú Sĩ chào đón du khách thập phương, mở màn cho mùa leo núi.
Những đám mây trắng chơi đùa bên ngọn núi hùng vĩ tuyệt đẹp
HTML Code:
HTML Code:
[margin=1000][BOX=PLUM|#552200|4|0|0]
[FONT="TIMES NEW ROMAN"][COLOR="darkred"][SIZE="5"][CENTER][B]NÚI PHÚ SĨ - BIỂU TƯỢNG CỦA MẶT TRỜI MỌ[/B]C[/CENTER][/SIZE][/COLOR]
[CENTER][IMG]http://img850.imageshack.us/img850/4365/phusiamitour.jpg[/IMG][/CENTER]
[MARGIN=700][SIZE="2"][I][B][justify]Nếu ai đã từng một lần chinh phục đỉnh Phú Sĩ (Fuji-san) – một biểu tượng tuyệt đẹp của đất nước Mặt trời mọc, thì chắc rằng sẽ không bao giờ quên được cái cảm giác vui sướng mà rùng rợn người đó. Núi Phú Sĩ cao 3.776m và được hình thành cách đây 100.000 năm.Núi Phú Sĩ nằm gần bờ Thái Bình Dương của đảo chính Honshu trên đường ranh giới giữa hai tỉnh Shizuoka và Yamanashi (phía Tây Tokyo), từ đỉnh núi Phú Sĩ có thể được nhìn rõ từ thủ đô Tokyo vào những hôm trời quang mây[/justify][/B][/I][/SIZE][/MARGIN]
[COLOR="Maroon"][indent][margin=870][bgimg=http://img94.imageshack.us/img94/1447/1282296713dulich5.jpg|no-repeat][/bgimg][/margin][/indent][margin=870][bgimg=http://img94.imageshack.us/img94/1447/1282296713dulich5.jpg|no-repeat][limitr=500]
Mỗi năm, nơi đây thu hút khoảng 200.000 người leo núi Phú Sĩ, trong đó có khoảng 30% là người nước ngoài. Tuy nhiên, khoảng thời gian đẹp nhất để leo lên tới đỉnh ngắm những cảnh vật tuyệt vời là từ 1/7 đến 27/8 trong năm.Nếu tính từ chân núi lên tới đỉnh Phú Sĩ thì được chia thành 10 trạm, nhưng đường lên tới trạm thứ 5, tức là đã cao tới 2.300m so với mặt biển. Tất cả đoạn đường đi đều được lát đá rất đẹp và dễ đi. Vì vậy, ô tô có thể lên đến trạm thứ 3. Và nếu leo một mạch lên đến tận đỉnh thì du đi phải mất khoảng 7 tiếng.
Theo truyền thống, người ta thường mặc đồ màu trắng khi leo lên ngọn Phú Sĩ, nhưng hiện nay rất hiếm người thực hiện. Thông thường, du khách sẽ leo một mạch từ chân núi vào buổi đêm để có thể lên tới đỉnh núi đúng lúc mặt trời mọc.[/limitr]
[/bgimg][/margin]
[margin=800][imgright]http://img535.imageshack.us/img535/7499/10609244.jpg [/imgright][/margin]
[indent][limit=500]Từ lưng chừng núi nhìn ra xa, du khách sẽ được ngắm nhìn một cảnh tượng bao la, hùng vĩ và đẹp không có gì kể xiết; những cái hồ xanh ngắt lấp ló giữa cánh rừng bạt ngàn. Ở đây du khách sẽ được ngắm nhìn hồ Waldo Lake nổi tiếng rộng nhất và sâu nhất thuộc khu rừng quốc gia Willamette. Đặc biệt nước hồ này được xem là trong lành và tinh khiết nhất thế giới. Cách đây khoảng 100 năm con hồ này cũng đã từng phun trào những khối nham thạch khổng lồ.
[/limit][/indent]
[clear]foo[/clear]
[margin=800]Tại mỗi trạm dừng chân, du khách có thể thưởng thức những món ăn truyền thống của Nhật, như món súp miso nóng (canh đậu tương) để được tiếp thêm sức lực. Bởi càng leo lên cao, nhiệt độ càng thay đổi rất nhanh, từ nóng chuyển sang mát và cuối cùng là lạnh.[/margin]
[CENTER][IMG]http://img593.imageshack.us/img593/8817/sup1t.jpg[/IMG][/CENTER]
[margin=900][box=#886633|#552200|2|0|0][height=50][SIZE="4"][indent][indent][indent][indent][indent][indent][indent][indent][B][COLOR="darkred"]Vẻ huyền ảo của ngọn núi[/COLOR][/B][/indent][/indent][/indent][/indent][/indent][/indent][/indent][/indent][/SIZE][/height][/box][/margin]
[margin=800][justify]Với độ cao 3776m, núi Phú Sĩ là ngọn núi cao nhất ở Nhật Bản và cũng là ngọn núi được nhiều người Nhật yêu thích nhất. Vẻ đẹp của nó làm xao động biết bao tâm hồn người ngắm.
Núi Phú Sĩ trải dài trên địa phận tỉnh Shizuoka và tỉnh Yamanashi, ở phía Tây Nam Tokyo. Núi nằm gần như trung tâm đảo Honshu.
[CENTER][img]http://img713.imageshack.us/img713/4041/1282296713dulich2.jpg[/img][/CENTER]
[SIZE="1"][CENTER][I][COLOR="DarkGreen"]Núi Phú Sĩ là một trong những biểu tượng nổi tiếng của nước Nhật[/COLOR][/I][/CENTER][/SIZE]
Đây là một núi lửa còn sống và là ngọn núi cao nhất của Nhật Bản với độ cao tuyệt đối: 3.776 mét. Đỉnh núi Phú Sĩ quanh năm tuyết phủ, tạo nên một vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ. Dưới chân núi có 5 hồ nước ngọt lớn, đó là: Kawaguchi, Yamanaka, Sai, Motosu và Shoji. Cùng với Hồ Ashi ở gần đó, chúng tạo nên một cảnh quan tuyệt đẹp cho ngọn núi.
[margin=700][imgright]http://img257.imageshack.us/img257/213/1282296797dulich9.jpg[/imgright] [/margin]
[COLOR="DarkGreen"][indent][indent][indent][margin=400][SIZE="2"][I]Những chiếc hồ xung quanh...[/I][/SIZE][/margin][/indent][/indent][/indent]
[clear]foo[/clear][margin=700][imgleft]http://img94.imageshack.us/img94/1447/1282296713dulich5.jpg[/imgleft][/margin]
[limitr=400][I][SIZE="2"]...càng làm tôn thêm vẻ đẹp của ngọn núi hùng vĩ
[/SIZE][/I][/limitr]
[clear]foo[/clear]
[CENTER][SIZE="2"][I]Núi Phú Sĩ trong mùa đông giá lạnh bên mặt hồ đóng băng[/I][/SIZE][/CENTER]
[margin=800][limit=400][szimg=400|300]http://img412.imageshack.us/img412/7499/1282296713dulich4.jpg[/szimg][/limit][limit=400][szIMG=400|300]http://img69.imageshack.us/img69/8805/1282296797dulich8.jpg[/szIMG][/limit][/margin]
[clear]foo[/clear]
[I][CENTER]Đoàn tàu cao tốc "mê mẩn" ngắm ngọn núi[/CENTER][/I][/COLOR][I][CENTER]
[/CENTER][/I]
[margin=800][limit=400][szimg=400|300]http://img812.imageshack.us/img812/4350/1282296713dulich1.jpg[/szimg][/limit][limit=400][szIMG=400|300]http://img26.imageshack.us/img26/5139/1282296713dulich3.jpg[/szIMG][/limit][/margin]
[clear]foo[/clear]
Núi Phú Sĩ có hình chóp tuyệt đẹp, nổi tiếng trên toàn thế giới như là biểu tượng của Nhật Bản đồng thời tạo cảm hứng cho nhiều thế hệ các nghệ sĩ và thi sĩ của xứ Phù Tang. Tuy đã nằm im từ năm 1707, ngọn núi này vẫn được các nhà địa chất học xếp vào loại núi lửa đang hoạt động.
[CENTER][img]http://img846.imageshack.us/img846/5020/1282296713dulich6.jpg[/img]
[I][SIZE="1"][COLOR="DarkGreen"]Núi Phú Sĩ là ngọn núi lửa vẫn đang hoạt động[/COLOR][/SIZE][/I][/CENTER]
[clear]foo[/clear]
Núi Phú Sĩ không những hùng vĩ tráng lệ mà còn muôn hình muôn vẻ: mùa xuân hoa lá xanh tươi, mùa hè nước chảy rì rào, mùa thu lá đỏ phủ khắp núi đồi, mùa đông băng tuyết trắng xóa. Có khi, trong cùng một ngày, trời nắng và trời râm đến sự thay đổi của của núi. Khi thì như có tấm màn the mỏng che phủ lên thân núi, đỉnh núi lúc mờ lúc hiện, như phiêu diêu lơ lửng. Khi thì thân núi hiện ra lồ lộ, đứng cao lừng lững, vời vợi.
[CENTER][IMG]http://img231.imageshack.us/img231/6772/1282296797dulich10.jpg[/IMG]
[COLOR="darkgreen"][I][SIZE="1"]"Sắc đẹp" của núi Phú sĩ là muôn màu muôn vẻ[/SIZE][/I]
[IMG]http://img32.imageshack.us/img32/9204/1282296797dulich11.jpg[/IMG]
[SIZE="1"][I]Có lúc lãng mạn mộng mơ...[/I][/SIZE]
[IMG]http://img683.imageshack.us/img683/7670/1282296713dulich7.jpg[/IMG]
[I][SIZE="1"]Khi lại bí ẩn và đẹp lạ lùng[/SIZE][/I][/COLOR]
[/CENTER][clear]foo[/clear]
Người Nhật Bản ai cũng muốn một lần được trèo lên đỉnh núi Phú Sĩ. Trong tháng 7 và tháng 8, băng tuyết tan dần. Đó là lúc núi Phú Sĩ chào đón du khách thập phương, mở màn cho mùa leo núi.
[CENTER][IMG]http://img14.imageshack.us/img14/1857/1282296797dulich12.jpg[/IMG]
[I][SIZE="1"][COLOR="DarkGreen"]Những đám mây trắng chơi đùa bên ngọn núi hùng vĩ tuyệt đẹp[/COLOR][/SIZE][/I][/CENTER]
[/margin][/COLOR][/font][COLOR="Maroon"][margin=800][/margin][/color][margin=800]
[/margin]
[/BOX][/margin]
Aomikan là một loại quýt xanh có tại Nhật Bản vào khoảng cuối tháng 8 tới tháng 12. Chúng thường được thu hoạch chỉ trong vài tuần. Những quả này có vị chua và rất thơm. Tôi rất thích lớp vỏ của chúng, bởi lớp vỏ xanh này khá giống vỏ cam. Aomikan là một trong hai loại quýt tôi thích ăn nhất và năm nay, tôi sẽ dùng chúng để làm mứt!
♣♣Mứt Aomikan (Quýt xanh) 青みかんマーマレーマ
Mùi vị của những quả quýt xanh
Những quả quýt này không đẹp sao?
Aomikan, hoặc có thể gọi là "quýt xanh" thường có vào đầu mùa thu. Chúng chua nhiều hơn là ngọt và trở thành những bữa ăn nhanh rất ngon và bổ vào buổi chiều hay buổi tối trong mùa này.
Những quả aomikan vào đầu thu rất mọng nước, chua - làm cho người ăn có cảm giác như lưỡi mình đang bị kiến bò lên vậy, cũng có thể nói nó giống như cảm giác khi thưởng thức một quả dâu tây tươi.
Mặc dù trong mùa này, mikan chưa chín hẳn nhưng chính điều đó làm chúng ngon hơn! Aomikan là một trong những loại quả mà Peko rất thích từ trước đến giờ. Thời gian mà Aomikan còn giữ được chữ "ao"(ao trong tiếng Nhật là chưa chín) rất ngắn, vì thế nên đây là thời gian để thưởng thức chúng.
Aomikan - Quýt xanh
Tôi rất thích quýt xanh! Năm ngoái tôi đã thử làm rượu aomikanshu (giống như umeshu, yushuzu, karinshu vậy) nhưng có lẽ tôi làm không được tốt lắm. Tôi nghĩ có lẽ mình đã không cho đủ lượng đường cần thiết và còn mua phải loại aomikan rẻ tiền - rất ít nước. Thế nên năm nay tôi đã làm mứt với loại quả này ( cũng giống như mứt yuzu). Và cuối cùng thì mùa aomikan đã tới, tôi đã có thể làm một ít mứt aomikan được rồi!
Cắt aomikan
Những lát aomikan
Aomikan và đường ở trong bình để chuẩn bị đun
Vậy tôi đã làm như thế nào?
Thực ra, tôi chỉ làm theo công thức rút gọn trên blog của một nhà ẩm thực Nhật Bản dùng với quýt mikan. Tôi cũng hơi thất vọng một chút trước những gì thu được. Mứt trông có vẻ rất mịn, nhưng vẫn còn lớp vỏ, tôi đoán vậy. Lớp vỏ này cần bỏ đi hoặc tối thiểu phải được đun qua 1 lần để loại đi vị đắng. Có lẽ không có công thức nào ngắn gọn và đơn giản mà lại làm được một món ăn ngon cả.
Tôi đã dùng 10 quả aomikan to, mọng nước.
Nguyên liệu:
5 quả quýt aomikan (thay thế cho quýt mikan)
100 g đường
500 ml nước
Chuẩn bị:
Rửa sạch quýt (nếu có thể thì nên rửa bằng bàn chải để làm sạch hoàn toàn lớp vỏ bên ngoài) và thía mỏng giống như những bức ảnh trên. Đun sôi nhưng lát quýt mỏng này trong nước khoảng 1 tiếng rồi ướp thêm đường và tiếp tục đun thêm 1 tiếng đồng hồ nữa.
Thế lần sau tôi nên làm thế nào để tốt hơn?...
Hãy bắt đầu với 20 quả aomikan hay quả quýt chín
Rửa sạch chỗ aomikan với bàn chải. Miwa có tìm thấy trên internet một vài cách để rửa sạch lớp vỏ này dễ dàng hơn: dùng khăn thấm ướt shochu (có thể thay bằng vodka hoặc cồn) để loại bỏ đi lớp sáp và thuốc trừ sâu còn sót trên vỏ.
Bỏ lớp vỏ ngoài và lớp vỏ mỏng của múi quýt bên trong bằng dao hoặc thìa.
Nghiền hoặc xay bằng máy xay sinh tố và lọc chỗ nước thu được bằng cách đổ qua một tấm vải lọc để tách riêng phần nước với phần vỏ, phần tép quýt.
Lấy 1 nửa chỗ vỏ aomikan và đem đun sôi khoảng tầm 5 phút rồi lại lọc lấy vỏ. Lặp lại khoảng từ 1 tới 3 lần (lớp vỏ quýt dày cần đun cẩn thận, tuy nhiên không có nghĩa là lớp vỏ mỏng và khá mềm của aomikan chỉ cần đun hời hợt. Tôi thấy cần phải đun kĩ để tách hết phần đắng trong vỏ, tránh làm hỏng món mứt) mỗi lần đun là mỗi lần bạn phải dùng nước mới, không được dùng nước của lần đun này cho lần đun khác. Bạn cũng có thể tẩm đường với chỗ vỏ còn lại để làm các món khác...
Trộn hỗn hợp nước quýt, đường và vỏ quýt với khoảng 500 ml đến 1 l nước rồi đun trong khoảng từ 1 tới 2 giờ.
Bình thường, tôi không dùng đường trắng, nhưng lần này tôi muốn thử để làm tăng độ chua và tươi của mứt aomikan, và cũng để tránh việc sử dụng các loại đường đen hay đường nâu, vốn rất phức tạp.
Mứt aomikan đã được dọn ra
Tôi đang thưởng thức loại mứt này cùng với bánh mì trong bữa sáng cùng với các loại mứt khác mà tôi đã làm trước đó để so sánh và nhận thấy loại mứt aomikan này ngon hơn. Không tồi nhỉ? Tuy nhiên, một lần nữa, cách làm đơn giản và rút ngọn không phải là cách làm tốt nhất. Dù gì đi nữa, không có từ "nhanh và dễ" trong từ điển nấu nướng ở Kyoto
♣♣Cửa hàng hoa quả ở khu chợ
Đây chính là nơi tôi đã mua aomikan. Những quả quýt ở phía ngoài rất rẻ, nhưng tôi đã vào sâu trong để tìm và chọn những quả to và ngon hơn. Chúng đắt hơn những quả ở ngoài tầm 100 yen. Ngoài lề một chút, ông chủ của cửa tiệm này đã rất già nên không thể đứng thẳng được, thế nhưng tôi dám đánh cược rằng ông ấy biết mọi thứ về hoa quả đấy!
Nguồn:kyotofoodie.com
. Trình bày: 25 rep
Point: 7
thay đổi nội dung bởi: Natamikul, 24-11-2011 lúc 16:30
Tháng 3 đến, tiết trời ấm dịu là thời điểm hoa anh đào bừng nở. Sắc hồng huyền diệu của hoa làm say đắm lòng người. Hoa anh đào nở rộ mọi nơi trên đất Nhật, từ công viên, trường học hay trên khắp các con phố lớn nhỏ. Ở bất cứ nơi đâu bạn cũng có thể ngắm nhìn.
Có rất nhiều loại hoa anh đào khác nhau với đủ mầu sắc: trắng, hồng nhạt, đỏ… Bạn có thể vừa cùng gia đình và bạn bè quây quần liên hoan ăn uống, vui chơi bên gốc hoa anh đào. Dưới đây là một chút tìm hiểu về xung quanh loài hoa kỳ diệu này.
♠ “Sakura” – 桜bắt nguồn từ đâu?
Có rất nhiều truyền thuyết liên quan đến cái tên của loài hoa kỳ diệu này. Một trong số đó cho rằng chữ “さくら” là được ghép bởi hai chữ cổ “さ” và “くら”. “さ”có nghĩa là thần linh của loài ngũ cốc, “くら” nghĩa là nơi mà thần linh trú ngụ. Cứ vào mùa hoa anh đào nở cũng là vào mùa vụ của nhà nông. Bởi thế người ta tin rằng những cây hoa anh đào chính là nơi trú ẩn của thần linh này.
Còn có truyền thuyết khác cho rằng Sakura là cách gọi lái từ Sakuya - là tên trích trong tên của Nữ thần Konohana-Sakuyahime - một vị thần trong cuốn lịch sử “Cổ sự ký” của Nhật. Theo truyền thuyết, Nữ thần này chính là người đầu tiên gieo hạt giống cây hoa anh đào trên núi Phú Sĩ nên được coi là Nữ thần Sakura. Nữ thần có sắc đẹp tuyệt vời và loài hoa sakura khi nở cũng mang vẻ đẹp tựa như sắc đẹp của bà. Có lẽ vì thế người ta cho rằng tên Sakura bắt nguồn từ đó.
♠Hoa anh đào nở khi nào?
Hoa anh đào nở rộ suốt từ cuối tháng 1 cho đến đầu tháng 5 trải dài theo đường kinh tuyến của Nhật Bản. Bắt đầu từ Okinawa vào cuối tháng 1 cho đến Hokkaido vào đầu tháng 5. Ngoài ra còn tùy theo từng loại hoa anh đào khác nhau mà thời gian mankai (nở rộ) cũng khác nhau. Sau thời gian mankai khoảng 1 tuần là hoa bắt đầu tàn dần.
♠Tuổi thọ của hoa anh đào
Tùy theo từng chủng loại hoa và điều kiện môi trường thời tiết mà tuổi thọ của hoa anh đào cũng khác nhau. Loài hoa Someiyoshino có tuổi thọ 7 ngày kể từ ngày mankai. Loài hoa Kanzakura thì được lâu hơn chừng 10~12 ngày kể từ ngày mankai.
♠Tại sao loài hoa Someiyoshino lại phổ biến nhất?
Trong số các loài hoa anh đào thì loại Someiyoshino được trồng nhiều nhất vì loại này hoa lại nở trước rồi mới mọc lá. Cánh hoa cũng to hơn so với các loại khác và nhìn có vẻ đẹp quý phái hơn. Hơn nữa loại hoa này sinh trưởng nhanh, chỉ khoảng 10 năm đã trở thành 1 cây lớn và cho hoa nở nhanh hơn loại khác. Từ thời Meiji loại này đã được trồng phổ biến trên khắp nước Nhật.
♠Hoa anh đào có bao nhiêu loại?
Hoa anh đào có rất nhiều loại, từ loại hoa mọc dại trên núi cho đến những loại được lai tạo kỳ công để phục vụ nhu cầu thưởng ngoạn của con người. Sau đây là một vài loại hoa tiêu biểu:
Yamazakura (山桜)
Thường mọc ở phía Nam của Honshyu. Nó còn có một tên gọi khác là Bạch Sơn Sakura (白山桜). Khi hoa nở thì thường có màu trắng hoặc màu hồng nhạt và mùi hương khá đậm. Đặc điểm của loại hoa này là khi hoa nở cũng là lúc lá đâm chồi nảy lộc.
Oyamazakura(大山桜)
Thường mọc ở phía Bắc của Honshyu và vùng núi Hokkaido, nó còn có tên gọi khác là Hồng Sơn Sakura (Beniyama Zakura). Loại hoa này có màu hồng đậm hơn, lá và hoa cũng to hơn so với Yamazakura.
Oshimazakura (大島桜)
Có nhiều ở bán đảo Izu. Khi lá đâm chồi nảy lộc cũng là lúc hoa bắt đầu nở và cho mùi hương quyến rũ là đặc trưng của loại hoa này. Khi hết mùa hoa anh đào, người ta thường ngắt lá của loài hoa này ướp một chút muối và dùng để làm vỏ cuốn bên ngoài cơm nắm onigiri hoặc cuốn ngoài một loại bánh Mochi truyền thống của Nhật. Vì thế mới có tên gọi Sakura mochi.
Edohigan (江戸彼岸)
Thường mọc ở vùng núi Honshyu, Shikoku và Kyushyu. Đặc trưng của loại hoa này là trước khi lá đâm chồi nảy lộc thì những cánh hoa đã vươn mình khoe sắc, chuyển dần từ gam màu trắng sang màu hồng nhạt. Thi thoảng chúng ta bắt gặp đâu đó bên những mặt hồ hay bờ sông có loài hoa rủ xuống yểu điệu, thì đó chính là một trong số những loài hoa này.
Kasumizakura (霞桜)
Mọc rải rác ở các vùng núi từ Hokkaido đến Kyushyu. Đặc trưng của loài này là có một lớp lông non bao phủ trên cánh hoa và lá, có lẽ vì thế mà nó có một cái tên khác là Mao Sơn (Keyamazakura). Loại hoa này khi nở cũng chuyển dần từ sắc trắng sang sắc hồng.
Someiyoshino (染井吉野)
Là loài hoa pha trộn đặc tính giữa hai loài Oshimazakura và Edohigan. Trên lá non và cánh hoa có lớp lông non bao phủ và khi hoa tàn thì mới là lúc lá đâm chồi nảy lộc. Hoa nở có màu hồng nhạt.
♠Thưởng thức hoa anh đào (Ohanami)
Với người Nhật, mùa hoa anh đào nở cũng chính là thời điểm một năm tài chính kết thúc, mở ra một năm mới với những niềm hy vọng mới. Chính vì thế đây là thời điểm thích hợp cho việc tụ họp bạn bè, gia đình, người thân, hay đồng nghiệp. Vào dịp này, ta thường thấy khi thì một cặp tình nhân tay trong tay tản bộ, khi thì từng nhóm từ nhỏ đến lớn quây quần bên gốc cây anh đào cùng đàn hát, uống rượu, hàn huyên trò chuyện. Người ta gọi kiểu sinh hoạt văn hóa mỗi mùa hoa anh đào nở này là Hanami - Phong tục ngắm hoa anh đào.
Có nhiều cách để thưởng thức hoa. Giống như “rượu ngon không có bạn hiền” nên đôi khi ngắm hoa phải có cả nhóm bạn cùng hội cùng thuyền, chén tạc chén thù bên gốc cây anh đào mới là vui, song đôi khi chỉ cần một mình rảo bước trên con đường mà hai bên là hai hàng cây anh đào rợp một màu hồng nhạt cũng khiến lòng người trở nên xao xuyến lạ thường.
Dưới đây xin giới thiệu với các bạn một vài cách ngắm hoa phổ biến của người Nhật.
Tổ chức tiệc dưới gốc cây anh đào (Enkai)
Đây là kiểu ngắm hoa phổ biến nhất của người Nhật, đến độ chỉ cần nói hanami thôi thì đã có thể hình dung ra việc người ta sẽ trải những tấm ni-lông dưới gốc cây anh đào và cùng nhau quây quần ăn uống, chuyện trò rôm rả. Thường kiểu hanami này được cho phép trong những công viên có diện tích lớn như Ueno, Inokashira, Koganei... Đồ ăn có thể là những món ăn kiểu Nhật được mua ngay tại yatai (quán nhỏ thường có trong các lễ hội của Nhật) trong công viên, cũng có thể là những hộp bento được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng từ đêm trước hôm đó. Thậm chí gần đây, có cả dịch vụ chuyển phát bánh pizza đến tận nơi rất tiện lợi.
Tuy nhiên, để có một chỗ ngồi lý tưởng trong công viên thì lại không phải là việc dễ dàng. Có khi bạn phải lên chuyến tàu sớm nhất trong ngày hôm đó, hoặc thậm chí phải đến từ đêm hôm trước, trải nylon lấy chỗ, chưa kể đến việc có thể sẽ phải mang chăn nệm ngủ qua đêm ở đó để giữ chỗ cho sáng ngày hôm sau.
Tản bộ.
Có rất nhiều phố hoa anh đào trải dọc bờ sông hoặc dọc những con đường nhỏ trong công viên. Tản bộ qua những con đường này là cách ngắm hoa phổ biến đối với những đôi bạn bè thân thiết hoặc những cặp tình nhân ưa lãng mạn. Một lời khuyên đối với cách ngắm hoa này là nên đi vào thời điểm hoa anh đào vừa qua độ mankai. Khi ấy bạn có thể ngắm được sakura fubuki, hay còn gọi là sakura rơi. Từng làn gió thổi sẽ cuốn theo những cánh hoa nhẹ nhàng, mỏng manh bay lất phất.
Bơi thuyền.
Có rất nhiều công viên của Nhật có dịch vụ bơi thuyền. Có thể là hai, ba, hoặc bốn người cùng trên một chiếc thuyền, vừa thư thả chuyện trò, vừa thả tầm mắt ngắm Sakura hai ven bờ sông. Đây cũng là một kiểu hanami được giới trẻ Nhật bản ưa chuộng.
Bên cạnh đó có một kiểu ngắm hoa cao cấp hơn, đó là từng nhóm người lên một con thuyền lớn là loại du thuyền chuyên dùng cho lễ hội hanami. Ở trên đó có thể vừa thưởng thức những món ăn ngon, vừa thong thả chuyện trò và ngắm hoa anh đào. Tuy nhiên, nếu đi theo kiểu này thì bạn cần phải đặt chỗ trước, nếu không thì khả năng hết chỗ là rất cao.
Lễ hội hoa anh đào đêm (Light-up).
Hoa anh đào không chỉ đẹp về ban ngày, mà còn trở nên lộng lẫy và kiêu sa hơn dưới ánh đèn lấp lánh vào ban đêm. Người ta gọi đây là lễ hội hoa anh đào đêm. Ánh đèn sẽ được chiếu sáng từ những tán hoa anh đào, khác với ban ngày, không gian trở nên huyền hoặc hơn, lãng mạn hơn.
Một vài địa điểm ngắm hoa anh đào nổi tiếng tại Tokyo năm nay:
1. Công viên Shinjuku Gyoen.
Trong khuôn viên rộng 5.830m2 có đầy đủ các loại hoa anh đào: kan-sakura, shidare-sakura, yama-sakura v.v... đua nhau nở rộ từ trung tuần tháng 3 đến trung tuần tháng 4.
Lễ hội hoa anh đào: 25/3~24/4
Thời gian: 9:00~16:30
Cách đi: Từ ga JR Shijuku đi bộ chừng 10 phút
Từ ga JR Sendagaya đi bộ chừng 5 phút
Http://www.shinjukugyoen.go.jp/
2. Công viên Ueno Onshi.
Từ xưa đây đã là một địa điểm ngắm hoa anh đào nổi tiếng. Tại đây có đến 1.200 gốc, chủ yếu là loại hoa anh đào someiyoshino. Hoa anh đào tại đây được trồng thành từng hàng thẳng tắp. Sẽ thật tuyệt vời nếu được đi dạo vào lúc sáng sớm tại nơi đây. Đặc biệt đến đây bạn còn được tham dự vào lễ hội hoa anh đào đêm lộng lẫy. Bạn sẽ có dịp chiêm ngưỡng một vẻ đẹp khác của hoa anh đào dưới ánh sáng của 1.300 chiếc đèn lồng.
Lễ hội: 20/3~8/4
Lễ hội đêm : 20/3~8/4 từ 17:30~20:00
Cách đi: Từ ga JR Ueno, Tokyo Metro Ueno đi bộ chừng 3 phút
3. Đền Asakusa Kannon.
Đây là ngôi đền từ thời Edo cổ kính. Đến đây bạn có thể lễ Phật và chiêm ngưỡng sắc đẹp của hoa anh đào. Ngôi đền chìm trong sắc hoa và nắng vàng tạo cảm giác thanh thản bình yên cho những du khách đến viếng Chùa lễ Phật.
Cách đi: Từ ga Asakusa đi bộ chừng 10 phút
4. Con phố Nakano.
Con phố dài chừng 2km, rợp bóng hoa. Một cách ngắm hoa rất khác nhưng cũng không kém phần thú vị.
Lễ hội Nakano : 6-7-8/4 từ 10:00~20:00
5. Công viên Inokashira Onshi.
Đến đây bạn có thể vừa bơi thuyền vừa ngắm hoa anh đào. Những cây hoa anh đào rủ xuống mặt nước tạo nên phong cảnh thật hữu tình. Bạn có thể thấy từng đôi tình nhân tay trong tay thư thả dạo giữa vườn hoa, những nhóm khách nhỏ gia đình, bạn bè đến quây quần ăn uống, vui đùa bên những gốc cây anh đào. Nơi đây là địa điểm lý tưởng để bạn tổ chức party ngoài trời.
Hoa anh đào, tiếng Nhật gọi là Sakura. Trong văn hóa phương Đông, vẻ đẹp của hoa thường được ví với mỹ nhân. Sakura trong tâm thức người Nhật, không hẳn là biểu tượng cho vẻ đẹp của phụ nữ, mà được gắn với hình ảnh những Samurai cao quý và oai dũng. Trên huy hiệu của nhiều Shogun (tướng quân) trong lịch sử các triều đại Nhật, cũng thấp thoáng bóng dáng hoa anh đào.
Sakura, nở rộ từ cuối tháng 1 cho đến đầu tháng 5, trải dài từ Okianawa cho đến Hokkaido. Những bông hoa đầu tiên khoe sắc từ dải đất tận cùng phía Nam ấm nắng rồi nở dần dọc theo đất nước Nhật Bản cho đến vùng phương Bắc xa xôi mới vừa ra khỏi cái lạnh lẽo của mùa đông.
Hoa anh đào có trên 400 chủng loại với nhiều màu sắc khác nhau, nhưng chủ yếu là màu trắng và phớt hồng. Trong số các loài Sakura ở Nhật Bản, Someiyoshino được trồng nhiều nhất, cánh hoa to nên rất đẹp, thời gian sinh trưởng nhanh, chỉ trong 10 năm đã trở thành một cây lớn, nhưng tuổi thọ của hoa chỉ khoảng 1 tuần sau khi mãn khai.
Bạn đã từng nghe một bài hát có câu "Mùa xuân sang có hoa anh đào" không?
Mình không nhớ tên bài hát đó nhưng biết câu hát đó, và tháng 3 - tháng của hoa anh đào nở và tháng của lễ hội Hanami.
Từ tháng 2 đến tháng 5, lẽ hội Hanami lại diễn ra trên khắp đất nước Nhật Bản, dân tình nô nức rủ nhau đi tham dự lễ hội Hanami này.
Một nhóm người gồm bạn bè, gia đình cùng nhau ra dưới gốc cây sakura trải chiếu, ngồi ngắm hoa, nói chuyện, bàn tán bình phẩm về hoa và uống rượu. Thật là những giây phút bình yên và hạnh phúc. Ở một đất nước công nghiệp, nhịp sống sôi động hối hả như ở Nhật Bản thì có những giây phút yên bình hiếm hoi cùng người thân, bạn bè thanh thản ngắm, ngóng chờ hoa nở rợp trời thì quả là hạnh phúc. Chẳng thế mà người ta đã tôn những ngày ngắm hoa này thành lễ hội ngắm hoa - Hanami. Điều tuyệt với là hoa anh đào (sakura) ở Nhật Bản không nở cùng một dịp trên khắp cả nước như hoa phượng ở Việt nam mà nó nở dần dần. Hoa bắt đầu nở ở Okinawa vào tháng 2 sau đó hoa tiến dần lên phía Bắc, đến tháng 3, hoa nở rợp trời đảo Kyushyu, đến tháng 4 hoa nở trên đảo Honshyu (trên đó có Tokyo, Kyoto, Osaka .....) và đến tháng 5 hoa kết thúc mùa nở tại đảo phía bắc Hokkaido. Như vậy nếu là một người quá say mê và ngưỡng mộ vẻ đẹp của hoa anh đào, người Nhật có thể "ròng rã" ngắm hoa trong suốt 3 tháng!!!
Tháng 3 mùa hoa anh đào ở phía Nam nước nhật, rồi dần lan lên miền Bắc. Đến tuần thứ nhì của tháng 5, hoa lại nở ở phía bắc đảo Hokkaido. Người nhật sẽ làm lễ, sẽ đón chào, nhảy múa, ca hát, ngâm thơ dưới những tán anh đào trong lễ hội. Những đôi tình nhân sánh bước bên nhau với khuôn mặt sáng ngời hạnh phúc. Loài hoa chỉ nở rộ, rực rỡ trong một hoặc hai tuần rồi tàn phai, rơi rụng. Có phải vì tính phù phiếm ấy mà người Nhật lại dành cho hoa anh đào một tình yêu sâu sắc. có thể còn vì hoa chứa chất một lịch sử và văn hoá gì đó nữa, nhưng có lẽ nét đẹp tan dần của hoa khiến con người ta có nhiều xúc cảm nhất. Những cánh hoa lấp lánh như bọt của rượu sâm panh, mong manh và phù du.. thật kỳ lạ là người ta so sánh hoa anh đào với người võ sĩ đạo. Bởi vì cuộc đời người võ sĩ đạo cũng chóng tàn, sẽ rơi rụng như hoa. Những cơn gió mạnh và những cánh hoa anh đào bay xoay trong gió chiều khiến cho mọi người im lặng....
Trình bày: 33 rep
10 pics = 4 rep Total: 37 rep
Point: 10
thay đổi nội dung bởi: Natamikul, 24-11-2011 lúc 17:59
Mặc dầu là nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới, nhưng những lễ hội hàng năm của Nhật Bản vẫn còn như nguyên vẹn. Mỗi mùa đều có những lễ hội khác nhau, mang đậm bản sắc văn hóa và tín ngưỡng của mỗi vùng. Tham gia vào những lễ hội này chúng ta sẽ có dịp hiểu thêm về lịch sử, văn hóa và con người tại đây, cũng như thêm yêu mến đất nước hoa anh đào.
Người Nhật đến chùa cầu nguyện
"Hatsumode" là dịp đầu tiên đến đền chùa để cầu nguyện cho sức khỏe, cũng như mong ước những điều may mắn sẽ đến trong năm mới. Những đền chùa nổi tiếng đều chật ních người trong buổi "hatsumode" này, cũng như trong những ngày đầu tiên của năm. Bạn còn có thể rút quẻ để nghiệm thử xem năm nay vận may, sức khỏe, tiền tài, tình yêu... của mình ra sao, nhưng tất cả đều viết bằng tiếng Nhật.
Tuy nhiên, nhiều người Nhật cho rằng họ đến đền chùa theo tập tục và truyền thống, hơn là lý do tín ngưỡng. Thường ai cũng ném một đồng xu vào trong một cái thùng đặt giữa cửa của ngôi đền chính tên là saisenbako
, vỗ tay, và thầm cầu ước.
Ngày 3 tháng 2 hàng năm là lễ "setsubun", nghĩa là ngày kết thúc mùa đông lạnh giá, tính theo lịch âm. Người Nhật thường mua đậu tương rang và vãi quanh nhà để xua đuổi ma quỷ và đọc "oni wa soko, fuku wa uchi" (tạm dịch: Điều không may thì ra ngoài, hạnh phúc thì vào trong nhà).
Mặt nạ quỷ và đậu tương - Vật không thể thiếu trong ngày lễ Setsubun
Tiếp theo phải nói đến là mùa hoa anh đào. Hoa nở chạy dọc từ Okinawa bắt đầu từ cuối tháng 2 cho đến Hokkaido là vào đầu tháng 6, tuy nhiên hoa nở rộ ở nhiều nơi nhất là vào tháng 3-4 hàng năm. Lễ hội Hanami "ngắm hoa" được tổ chức vào dịp này. Bạn có thể thưởng thức một ly rượu sake và ngắm những bông hoa anh đào tuyệt đẹp, với những cánh hoa lơi lả bay trong làn gió còn lành lạnh của đầu xuân. Các công ty, cũng như bạn bè thân, gia đình, thường tổ chức đi ngắm hoa vào dịp này.
Lễ hội ngắm hoa Hanami
Trước khi mùa hè bắt đầu, những lễ hội được tổ chức ven sông được gọi là "kawabiraki", và thường bắn pháo hoa "hanabi-taikai". Người Nhật thường mặc áo kimono mùa hè yukata
khi tham gia lễ hội.
Tiết mục bắn pháo hoa trong lễ hội mùa hè
Ngày 7/7 hàng năm có lễ hội "tanabata", hay lễ hội vợ chồng chàng Ngâu. Trẻ em Nhật tin rằng những điều ước của mình sẽ trở thành hiện thực nếu viết những lời ước trên những tờ giấy sặc sỡ tanzaku
và treo lên những cành tre trong dịp này.
Lễ hội "tanabata"
Lễ hội mikoshi
Trên đây là một số lễ hội tiêu biểu cho nhiều vùng tại đất nước mặt trời mọc, tuy nhiên có hàng nghìn lễ hội khác nhau được tổ chức hàng năm, tùy theo phong tục truyền thống của mỗi địa phương, mà bạn có thể thấy ở ngay gần nơi mình đang sống và làm việc. Ví dụ có những lễ hội nhảy múa "bon-odori", mà bạn có thể tham gia cùng với mọi người nhảy trong một vòng tròn, nhịp nhàng với điệu nhạc dân ca "min-yo".
Có một số lễ hội có cả hàng ngàn người tham gia và diễu hành. Một số lễ hội thì mang tính hiện đại, có dàn nhạc, mô tô hộ tống, với những cô gái xinh đẹp nhảy múa. Tuy nhiên, một số lễ hội mang tính truyền thống, và người tham gia đều mặc các bộ lễ phục có từ xưa. Một trong những lễ hội kiểu này là lễ hội khiêng kiệu "mikoshi".
Lễ hội "tori-no-ichi" được tổ chức vào tháng 11 tại các ngôi đền. Bạn có thể mua một thứ mang lại điều may mắn như kumade
(một mặt nạ phụ nữ đang cười). Vào dịp cuối năm, truyền thống làm bánh nếp mochizuki
được tổ chức tại nhiều nơi công cộng, đền chùa, vườn trẻ, hoặc tại nhà. Đôi khi có tai nạn xảy ra với người già, khi nuốt bánh nếp và gây tắc thở, mà báo chí năm nào cũng đưa tin vài vụ.
Lễ hội "tori-no-ichi"
Trong đêm giao thừa "omisoka", những hồi chuông gióng giả sẽ được ngân lên khi năm mới đến. Kiểu gióng chuông này được gọi là "joya no kane", nếu may mắn, bạn sẽ được phép gióng chuông tại chùa trong dịp này.
[MOC=0][FADE=0|0]BBCode by Lưu[/FADE][/MOC][MARGIN=900][BOX=white|black|2|0|][BOX=white|white|1|0|0][BOX=white|black|1|0|0]
[BGCOLOR=gray][LIMIT=892][COLOR="White"][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="6"][B][CENTER]Thời kỳ đồ đá cũ ở Nhật Bản[/CENTER][/B][/SIZE][/FONT][/COLOR][/LIMIT][/BGCOLOR] [MARGIN=830][clear][/clear]
[LIMITR=300][LIMITR=290][BOX=#FaFaFa|#AAAAAA|1|0|0][BGCOLOR=#F2F2F2][LIMIT=288][SIZE="3"][B][CENTER]LỊCH SỬ NHẬT BẢN[/CENTER][/B][/SIZE][/LIMIT][/BGCOLOR][bgcolor=#AAAAAA][limit=288][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor] [clear][/clear] [MARGIN=260][B]Thời kỳ đồ đá cũ[/B][LIMITR=140] [COLOR="Silver"][RIGHT]35000 – 14000 TCN[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#2"]Thời kỳ Jōmon[/ANCHOR] [LIMITR=130][COLOR="Silver"][RIGHT]14000 – 400 TCN[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#3"]Thời kỳ Yayoi[/ANCHOR] [LIMITR=130][COLOR="Silver"][RIGHT]400 TCN – 250 SCN[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#4"]Thời kỳ Kofun[/ANCHOR] [LIMITR=130][COLOR="Silver"][RIGHT]250 – 538[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#5"]Thời kỳ Asuka[/ANCHOR][LIMITR=130] [COLOR="Silver"][RIGHT]592 – 710[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#6"]Thời kỳ Nara[/ANCHOR][LIMITR=130] [COLOR="Silver"][RIGHT]710 – 794[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#7"]Thời kỳ Heian [/ANCHOR][LIMITR=130][COLOR="Silver"][RIGHT]794 – 1185[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#8"]Thời kỳ Kamakura [/ANCHOR][LIMITR=90][COLOR="Silver"][RIGHT]1185 – 1333[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#9"]Thời kỳ Muromachi [/ANCHOR][LIMITR=90][COLOR="Silver"][RIGHT]1336 – 1573[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#10"]Thời đại Azuchi-Momoyama[/ANCHOR] [LIMITR=90][COLOR="Silver"][RIGHT]1568 – 1603[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [URL="http://vnsharing.net/forum/showpost.php?p=1157741&postcount=11"]Thời kỳ Edo [/URL][LIMITR=90][COLOR="Silver"][RIGHT]1603 – 1868[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [URL="http://vnsharing.net/forum/showpost.php?p=1157770&postcount=12"]Thời kỳ Meiji[/URL][LIMITR=90] [COLOR="Silver"][RIGHT]1868 – 1912[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR][/MARGIN] [/BOX][/LIMITR][/LIMITR][JUSTIFY][B]Thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản[/B] (旧石器時代 kyū-sekki-jidai?, “Cựu thạch khí thời đại”) bao trùm thời kỳ khoảng 100.000 [1] đến 30.000 năm trước công nguyên, khi những công cụ bằng đá sớm nhất được tìm thấy, khoảng 14.000 năm TCN,[2] vào cuối kỷ Băng hà, tương ứng với sự mỏ đầu của thời kỳ đồ đá giữa Jōmon. Thời gian 35.000 năm TCN được phần lớn mọi người chấp nhân: mọi niên đại của sự hiện diện con người trên đảo quốc này trước 30.000-35.000 năm TCN đều vẫn còn bàn cãi, với các đồ tạo tác ủng hộ cho sự hiện diện con người trước năm 35.000 TCN về mặt khảo cổ học vẫn còn bị nghi ngờ về tính xác thực
[LIMITR=200][ANCHOR="#0"][RIGHT][SIZE="1"] Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="5"]Những công cụ đá sớm nhất[/SIZE][/FONT][/B][bgcolor=black][limit=530][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor] [szFLASH=1|20]a[/szFLASH]Công cụ đá sớm nhất của người Nhật, rìu và dao đá mài, được tìm thấy tại di chỉ Kamitakamori ở tỉnh Miyagi, có niên đại 500.000 năm TCN, nhưng sau đó phát hiện ra rằng đây là sự giả mạo của Fujimura Shinichi. Tuy vậy, phần lớn phát hiện về sơ kỳ đồ đá Nhật Bản bắt đầu sau năm 35.000 TCN, khiến cho niên đại này được phần lớn chấp nhận như là thời gian con người đã tiến ra Nhật Bản.[3] [szFLASH=1|20]a[/szFLASH]Xương người sớm nhất được phát hiện ở Hamamatsu, Shizuoka. Phương pháp phóng xạ carbon đã cho thấy hóa thạch này có niên đại 14.000-18.000 năm tuổi.
[LIMITR=200][ANCHOR="#0"][RIGHT][SIZE="1"] Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="5"]Đá móng và công cụ được mài nhẵn[/SIZE][/FONT][/B][bgcolor=black][limit=830][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor]
[LIMIT=240][LIMIT=232][BOX=#F9F9F9|#AAAAAA|1|0|0][szFLASH=20|5]a[/szFLASH] [CENTER][IMG]http://i270.photobucket.com/albums/jj107/Sapphire_2511/180px-JapanesePolishedStoneAxes.jpg[/IMG] [SIZE="1"]Công cụ đá được mài nhẵn hay rìu. di chỉ Hinatabayashi B, Shinanomachi, Nagano. Thời kì tiền Jōmon (thời kỳ đồ đá), 30.000 năm TCN. Bảo tàng Quốc gia Tokyo.[/SIZE][/CENTER][/BOX][/LIMIT][/LIMIT]Thời kỳ đò đá Nhật Bạn cũng có sự độc đáo là sự xuất hiện của các đá móng và công cụ được mài nhẵn sớm nhất trên thế giới, niên đại khoảng 30.000 năm TCN, một công nghệ đặc trưng gắn với sự mở đầu của thời kỳ đồ đá mới, khoảng 10.000 năm TCN, trên phần còn lại của thế giới. Không rõ tại sao những công cụ như thế này lại được làm ra sớm đến thế ở Nhật Bản, mặc dù thời kỳ này gắn với sự ấm lên toàn cầu (cách nay 30.000-20.000 năm), và các hòn đảo có lẽ đã hưởng lợi từ nó. [szFLASH=1|20]a[/szFLASH]Vì sự độc đáo này, thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản không hoàn toàn phù hợp với định nghĩa theo truyền thống về thời kỳ đồ đá cũ dựa trên công nghệ chế tác đá (công cụ đá mài). Các công cụ thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản do đó thể hiện những đặc điểm tiêu biểu của thời kỳ đồ đá giữa và thời kỳ đồ đá mới từ những năm 30.000 TCN.[clear][/clear]
[LIMITR=200][ANCHOR="#0"][RIGHT][SIZE="1"] Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="5"]Cổ nhân chủng học[/SIZE][/FONT][/B][bgcolor=black][limit=830][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor] [szFLASH=0|20]a[/szFLASH]Dân cư thời kỳ đồ đá cũ ở Nhật Bản, cũng như dân cư thời Jōmon sau này, có liên quan đến các nhóm người Châu Á cổ sinh sống trên những phần rộng lớn của châu Á sau sự gia tăng dân số cấu thành bộ phần người ngày nay là người Trung Quốc, Triều Tiên, và Nhật Bản [szFLASH=1|20]a[/szFLASH]Các đặc điểm tiêu biểu của xương có rất nhiều điểm tương đồng giữa những nhóm người bản địa trên lục địa Châu Á. Cấu trúc răng thuộc về nhóm Sundadont, chủ yếu phân bố trong dân cư cổ ở Đông Nam Á (noiw dân cư hiện nay thuộc về nhóm Sinodont). Đặc điểm hộp sọ có xu hướng khỏe hơn, với đôi mắt sâu. [szFLASH=1|20]a[/szFLASH]Dân cư bản địa người Ainu, ngày nay phần lớn bị giam hãm trên hòn đảo phía Bắc Hokkaidō, có lẽ là hậu duệ của dân cư thời đồ đá cũ, và thể hiện các đặc điểm trong quá khứ được chỉ rõ bởi chủng Caucasoid, nhưng ngày nay có khuynh hướng nói chung coi họ là một phần của nhóm người sơ kỳ đồ đá cũ. [szFLASH=1|20]a[/szFLASH]Phân tích gen dân cư ngày nay không hoàn toàn rõ ràng và có xu hướng thể hiện sự pha trộn gene giữa dân cư tối cổ Nhật Bản với những người mới đến (Cavalli-Sforza). Ước tính rằng 10 đến 20% gene chủ yếu của người Nhật hiện nay nhận được từ người bản địa cổ đại thời kỳ đồ đá cũ-Jōmon, với phần còn lại đến từ những người nhập cư từ lục địa, đặc biệt là trong thời kỳ Yayoi.
[LIMITR=200][ANCHOR="#0"][RIGHT][SIZE="1"] Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="5"]Khảo cổ học về thời kỳ đồ đá cũ[/SIZE][/FONT][/B][bgcolor=black][limit=830][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor] Nghiên cứu về thời kỳ đồ đá cũ ở Nhật Bản không bắt đầu cho đến khá gần đây: di chỉ đồ đá cũ đầu tiên được phát hiện ngay sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II. Do những giả định trước đó rằng con người không sống ở Nhật Bản trước thời Jōmon period, các hố khai quật thường chỉ dừng lại ở các vỉa đất thời Jōmon (14,000 năm TCN), và không được tiến hành xa hơn. Tuy vậy, từ khi phát hiện đầu tiên về thời kỳ đồ đá cũ, khoảng 5.000 di chỉ đồ đá cũ đã được phát hiện, một số trong số đó tại những di chỉ khảo cổ thời Jōmon. [szFLASH=1|20]a[/szFLASH]Nghiên cứu về thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản được mô tả từ số lượng thông tin lớn của địa tầng học vì hoạt động tự nhiên của núi lửa ở hòn đảo này: các vụ phun trào lớn có xu hướng bao phủ các hòn đảo với các lớp bụi núi lửa, có thể dễ dàng xác định ngày tháng và có thể được tìm thấy trên khắp đất nước làm dữ liệu tham khảo. Một tầng đất quan trọng như thế là đá bọt AT (Aira-Tanzawa), bao phủ toàn bộ Nhật Bản khoảng 21.000-22.000 năm. [szFLASH=1|20]a[/szFLASH]Năm 2000, danh tiếng của ngành khảo cổ học Nhật Bản về thời kỳ đồ đá cũ bị tổn hại nặng nề vì một vụ scandal. Tờ Mainichi Shimbun phanh phui chuyện các bức ảnh theo đó Shinichi Fujimura, một nhà khảo cổ học nghiệp dư tại tỉnh Miyagi, là những đồ tạo tác sắp đặt trước tại di chỉ Kamitakamori, nơi hắn "tìm thấy" các đồ tạo tác ngày hôm sau. Hắn thừa nhân sự bịa đặt trong một cuộc phỏng vấn trên một tờ báo. Viện Khảo cổ học Nhật Bản hủy bỏ tư cách thành viên của Fujimura. Một đội điều tra đặc biệt của Hội khám phá ra rằng gần như mọi đồ tạo tác mà hắn đã tìm ra đều là đồ giả. [szFLASH=1|20]a[/szFLASH]Kể từ khi vụ giả mạo bị khám phá, chỉ một vài di chỉ có thể phỏng đoán rằng có hoạt động của con người ở Nhật Bản từ 40.000-50.000 năm TCN, và ngày tháng đầu tiên được chấp nhận rộng rãi về sự hiện diện của con người trên hòn đảo này có thể tin được là 35.000 năm TCN
[/JUSTIFY][/MARGIN][/BOX][/BOX][/BOX][/MARGIN]
Post #2
PHP Code:
[MOC=2][FADE=0|0]BBCode by Lưu[/FADE][/MOC][MARGIN=900][BOX=white|black|2|0|][BOX=white|white|1|0|0][BOX=white|black|1|0|0]
[BGCOLOR=gray][LIMIT=892][COLOR="White"][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="6"][B][CENTER]Thời kỳ Jōmon[/CENTER][/B][/SIZE][/FONT][/COLOR][/LIMIT][/BGCOLOR] [MARGIN=830][clear][/clear]
[LIMITR=300][LIMITR=290][BOX=#FaFaFa|#AAAAAA|1|0|0][BGCOLOR=#F2F2F2][LIMIT=288][SIZE="3"][B][CENTER]LỊCH SỬ NHẬT BẢN[/CENTER][/B][/SIZE][/LIMIT][/BGCOLOR][bgcolor=#AAAAAA][limit=288][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor] [clear][/clear] [MARGIN=260][ANCHOR="#0"]Thời kỳ đồ đá cũ[/ANCHOR][LIMITR=140] [COLOR="Silver"][RIGHT]35000 – 14000 TCN[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [B]Thời kỳ Jōmon [/B][LIMITR=130][COLOR="Silver"][RIGHT]14000 – 400 TCN[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#3"]Thời kỳ Yayoi[/ANCHOR] [LIMITR=130][COLOR="Silver"][RIGHT]400 TCN – 250 SCN[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#4"]Thời kỳ Kofun[/ANCHOR] [LIMITR=130][COLOR="Silver"][RIGHT]250 – 538[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#5"]Thời kỳ Asuka[/ANCHOR][LIMITR=130] [COLOR="Silver"][RIGHT]592 – 710[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#6"]Thời kỳ Nara[/ANCHOR][LIMITR=130] [COLOR="Silver"][RIGHT]710 – 794[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#7"]Thời kỳ Heian [/ANCHOR][LIMITR=130][COLOR="Silver"][RIGHT]794 – 1185[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#8"]Thời kỳ Kamakura [/ANCHOR][LIMITR=90][COLOR="Silver"][RIGHT]1185 – 1333[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#9"]Thời kỳ Muromachi [/ANCHOR][LIMITR=90][COLOR="Silver"][RIGHT]1336 – 1573[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#10"]Thời đại Azuchi-Momoyama[/ANCHOR] [LIMITR=90][COLOR="Silver"][RIGHT]1568 – 1603[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [URL="http://vnsharing.net/forum/showpost.php?p=1157741&postcount=11"]Thời kỳ Edo [/URL][LIMITR=90][COLOR="Silver"][RIGHT]1603 – 1868[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [URL="http://vnsharing.net/forum/showpost.php?p=1157770&postcount=12"]Thời kỳ Meiji[/URL][LIMITR=90] [COLOR="Silver"][RIGHT]1868 – 1912[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR][/MARGIN] [/BOX][/LIMITR][/LIMITR][JUSTIFY]Thời kỳ Jōmon (縄文時代 Jōmon-jidai "Thằng Văn thời đại") là thời tiền sử ở Nhật Bản, từ khoảng năm 10.000 TCN đến năm 300 sau công nguyên. [szFLASH=0|25]a[/szFLASH]Hầu hết các học giả đều nhất trí rằng vào khoảng 40.000 năm TCN, băng hà đã nối các hòn đảo của Nhật Bản với lục địa châu Á. Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, từ khoảng 35.000 đến 30.000 năm TCN loài người đã di cư đến các hòn đảo Nhật Bản từ phía đông và phía đông nam châu Á và đã có những cộng đồng dân cư ổn định trên đảo với các hoạt động săn bắn và chế tác đồ đá. Các dụng cụ bằng đá, những khu dân cư và hóa thạch người trong giai đoạn này đã được tìm thấy ở nhiều nơi trên các đảo Nhật Bản. Ngoài ra, một nghiên cứu di truyền học vào năm 1988 đã chỉ ra mối liên hệ về nguồn gốc giữa người Nhật Bản và các cư dân Đông Á. [szFLASH=0|25]a[/szFLASH]Từ “Jomon” trong tiếng Nhật có nghĩa là “đánh dấu bằng dây thừng” chỉ những họa tiết trên các bình bằng đất sét và những hình ảnh sử dụng các que gỗ được cột dây thừng xung quanh.[clear][/clear] [LIMITR=100][ANCHOR="#2"][RIGHT][SIZE="1"] Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="5"]Sơ kỳ Jomon (10000 – 4000 TCN)[/SIZE][/FONT][/B][bgcolor=black][limit=830][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor]
Những khu định cư ổn định xuất hiện vào khoảng năm 10.000 TCN tương ứng với nền văn hóa Mesolithic hoặc, theo một số tranh cãi, văn hóa Neolithic, nhưng mang những đặc điểm của cả hai nền văn hóa đó. Những tổ tiên xa của tộc người Ainu của Nhật Bản hiện đại, những thành viên đa dạng của nền văn hóa Jomon (10.000 – 300 TCN) để lại những di chỉ khảo cổ rõ ràng nhất. Nền văn hóa này cùng thời với các nền văn minh Lưỡng Hà, văn minh sông Nil, và văn minh thung lũng Indus.
[LIMIT=220][LIMIT=212][BOX=#F9F9F9|#AAAAAA|1|0|0][szFLASH=20|5]a[/szFLASH] [CENTER][IMG]http://i270.photobucket.com/albums/jj107/Sapphire_2511/200px-JomonPottery.jpg[/IMG] [SIZE="1"]Đồ gốm thời tiền Jomon (8000 - 10000 TCN), Bảo tàng quốc gia Tokyo, Nhật Bản[/SIZE][/CENTER][/BOX][/LIMIT][/LIMIT][LIMITR=200][ANCHOR="#2"][RIGHT][SIZE="1"]Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][SIZE="4"]Sơ kỳ đồ gốm[/SIZE][/B] [szFLASH=0|25]a[/szFLASH]Theo các bằng chứng khảo cổ học, người Jomon có thể là người đã tạo ra những chiếc bình gốm đầu tiên trên thế giới, vào khoảng thiên niên kỷ 11 TCN, cũng như những dụng cụ bằng đá sớm nhất. Những di tích cổ này được phát hiện lần đầu tiên sau Thế chiến thứ hai bằng phương pháp phóng xạ carbon. Tuy nhiên, một số học giả Nhật Bản cũng tin rằng kỹ thuật sản xuất đồ gốm được phát minh đầu tiên ở lục địa châu Á vì ở những khu vực nay là Trung Quốc và Nga đã sản xuất ra đồ gốm lâu đời ngang với, nếu không là lâu đời hơn đồ gốm ở hang Fukui. Người thời Jomon đã chế tác ra những vật dụng và các bình gốm được trang trí bởi những họa tiết tinh vi làm bằng cách ép đất sét ướt với các sợi dây hoặc các que gỗ được tết lại hoặc không được tết lại.
[LIMITR=100][ANCHOR="#2"][RIGHT][SIZE="1"]Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][SIZE="4"]Những đặc điểm của văn hóa đồ đá mới[/SIZE][/B] [szFLASH=0|20]a[/szFLASH]Việc chế tác đồ gốm cho thấy một đời sống ổn định hơn bởi lẽ đồ gốm rất dễ vỡ và do đó nói chung là vô ích với các hoạt động săn bắt hái lượm vốn phải di chuyển liên tục. Do đó, người Jomon có thể là những người đầu tiên sống định cư, hoặc ít ra là bán định cư, trên thế giới. Họ dùng các công cụ bằng đá mài, bẫy và cung tên, và có lẽ là những người sống nửa theo kiểu săn bắt hái lượm, nửa theo kiểu định cư, đồng thời là những tay đánh bắt cá ở bờ biển và lặn sâu khéo léo. Người Jomon có tiến hành một số hoạt động nông nghiệp sơ khai và sống trong những hố đất nhỏ hoặc những ngôi nhà dựng trên mặt đất, để lại nhiều bằng chứng quan trọng cho nghiên cứu khảo cổ học. Vì vậy, những hình thức canh tác đầu tiên của loài người có thể đã xuất hiện ở Nhật Bản vào năm 10.000 TCN, hai nghìn năm trước khi nó lan rộng và trở nên phổ biến ở Trung Cận Đông. Tuy nhiên, một số bằng chứng khảo cổ học khác cũng cho thấy đã có hoạt động nông nghiệp diễn ra trên những ngọn đối và thung lũng ở vùng Fertile Crescent ở vùng nay là Syria, Jordan, Thổ Nhĩ Kỳ và Iraq vào khoảng 11.000 năm TCN.
[LIMITr=200][LIMITr=192][BOX=#F9F9F9|#AAAAAA|1|0|0][szFLASH=0|5]a[/szFLASH] [CENTER][IMG]http://i270.photobucket.com/albums/jj107/Sapphire_2511/180px-MiddleJomonVessel.jpg[/IMG] [SIZE="1"]Đồ gốm thời tiền Jomon (8000 - 10000 TCN), Bảo tàng quốc gia Tokyo, Nhật Bản[/SIZE][/CENTER][/BOX][/LIMITr][/LIMITr][LIMITR=100][ANCHOR="#2"][RIGHT][SIZE="1"]Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][SIZE="4"]Dân số gia tăng[/SIZE][/B] [szFLASH=0|20]a[/szFLASH]Nền văn hóa bán định cư đã dẫn đến việc gia tăng dân số nhanh chóng khiến Jomon trở thành một trong những khu vực có mật độ dân số cao nhất thế giới vào thời bấy giờ. Một nghiên cứu di truyền học của Cavalli – Sforza đã cho thấy sự mở rộng của một mẫu di truyền điển hình từ vùng biển Nhật Bản sang vùng còn lại của Đông Á. Đây là sự di chuyển gene quan trọng thứ ba của vùng Đông Á (xếp sau “Cuộc di chuyển lớn” từ lục địa châu Phi và cuộc di chuyển gene thứ hai từ vùng bắc Siberia). Sự di chuyển này cũng đã dẫn đến sự mở rộng về mặt địa lý của loài người trong thời Jomon. Nghiên cứu này còn đi xa hơn trong việc đưa ra giả thuyết rằng sự mở rộng của loài người trong thời Jomon thậm chí đã vươn đến châu Mỹ theo con đường dọc bờ biển Thái Bình Dương.
[LIMITR=100][ANCHOR="#2"][RIGHT][SIZE="1"]Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][SIZE="4"]Những giai đoạn chính[/SIZE][/B] [COLOR="White"][LIST=1][*][COLOR="Black"]Tiền Jomon (10000 – 7500 TCN)[/COLOR] [COLOR="Black"][LIST][*]Các đường vẽ trên vách đá,[*]Các dấu vết vẽ bằng móng tay,[*]Các đường trang ký hình xoắn thừng,[*]Muroya hạ[/LIST][/COLOR][*][COLOR="Black"]Sơ kỳ Jōmon (7500 - 4000 BC)[/COLOR] [COLOR="Black"][LIST][*]Igusa,[*]Inaridai,[*]Mito,[*]Hạ Tado,[*]Thượng Tado,[*]Shiboguchi,[*]Kayama.[/LIST][/COLOR][/LIST][/COLOR][LIMITR=100][ANCHOR="#2"][RIGHT][SIZE="1"] Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="5"]Từ đầu đến cuối thời Jomon (4000 – 400 TCN)[/SIZE][/FONT][/B][bgcolor=black][limit=830][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor] [szFLASH=0|20]a[/szFLASH]Nhiều di tích khai quật được trong giai đoạn này cho thấy thời kỳ đầu và trung kỳ Jomon đã diễn ra một sự bùng nổ về dân số. Hai thời kỳ này tương ứng với thời tiền sử Holocene Climatic Optimum (từ 4000 đến 2000 TCN) khi nhiệt độ cao hơn bây giờ vài độ C và mực nước biển cao hơn từ 5 đến 6 mét. Những di chỉ đồ gốm mang tính nghệ thuật cao, như các bình gốm nung lửa có trang trí, được tìm thấy trong gian đoạn này. Sau năm 1500 TCN, thời tiết trở nên lạnh hơn và dân số có lẽ đã giảm xuống nhanh chóng bởi lẽ người ta tìm thấy ít di chỉ khảo cổ tương ứng với giai đoạn 1500 năm TCN hơn nhiều so với trước đó. [szFLASH=0|25]a[/szFLASH]Vào cuối thời Jomon, theo nghiên cứu khảo cổ học, một thay đổi quan trọng đã diễn ra. Các hình thức nông nghiệp sơ khai đã phát triển thành việc canh tác trên các ruộng lúa và xuất hiện sự kiểm soát của chính quyền. Rất nhiều nhân tố văn hóa Nhật Bản có thể khởi nguồn từ thời kỳ này và phản ánh lại những cuộc di cư từ phía nam lục địa châu Á và phía nam Thái Bình Dương. Trong những nhân tố này có các truyền thuyết về đạo Shinto, các tục lệ hôn nhân, các phong cách kiến trúc và những phát triển về kỹ thuật như đồ sơn mài, những cây cung được kéo mỏng, kỹ thuật chế tác đồ kim loại và đồ thủy tinh.
[LIMITR=100][ANCHOR="#2"][RIGHT][SIZE="1"]Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][SIZE="4"]Những giai đoạn chính[/SIZE][/B] [COLOR="White"][LIST=1][*][COLOR="Black"]Jomon thời kỳ đầu (4000 – 3000 TCN)[/COLOR] [COLOR="Black"][LIST][*]Hạ Hanazumi;[*] Sekiyama;[*] Kurohama;[*] Morois;[*] Juusanbodai.[/LIST][/COLOR][*][COLOR="Black"]Trung kỳ Jomon (3000 – 2000 TCN)[/COLOR] [COLOR="Black"][LIST][*]Katsusaka/Otamadai;[*] Kasori E1;[*] Kasori E2.[/LIST][/COLOR][*][COLOR="Black"]Hậu kỳ Jomon (2000 – 1000 TCN)[/COLOR] [COLOR="Black"][LIST][*]Shyomyouji;[*] Horinouchi;[*] Kasori B1;[*] Kasori B2;[*] Angyo 1.[/LIST][/COLOR][*][COLOR="Black"]Cuối thời Jomon (1000 – 400 TCN)[/COLOR] [COLOR="Black"][LIST][*]Angyo 2;[*] Angyo 3.[/LIST][/COLOR][/LIST][/COLOR] [/JUSTIFY][/MARGIN][/BOX][/BOX][/BOX][/MARGIN]
Post #3
PHP Code:
[MOC=3][FADE=0|0]BBCode by Lưu[/FADE][/MOC][MARGIN=900][BOX=white|black|2|0|][BOX=white|white|1|0|0][BOX=white|black|1|0|0]
[BGCOLOR=gray][LIMIT=892][COLOR="White"][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="6"][B][CENTER]Thời kỳ Yayoi[/CENTER][/B][/SIZE][/FONT][/COLOR][/LIMIT][/BGCOLOR] [MARGIN=830][clear][/clear]
[LIMITR=300][LIMITR=290][BOX=#FaFaFa|#AAAAAA|1|0|0][BGCOLOR=#F2F2F2][LIMIT=288][SIZE="3"][B][CENTER]LỊCH SỬ NHẬT BẢN[/CENTER][/B][/SIZE][/LIMIT][/BGCOLOR][bgcolor=#AAAAAA][limit=288][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor] [clear][/clear] [MARGIN=260][ANCHOR="#0"]Thời kỳ đồ đá cũ[/ANCHOR][LIMITR=140] [COLOR="Silver"][RIGHT]35000 – 14000 TCN[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#3"]Thời kỳ Jōmon [/ANCHOR] [LIMITR=130][COLOR="Silver"][RIGHT]14000 – 400 TCN[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [B]Thời kỳ Yayoi[/B][LIMITR=130][COLOR="Silver"][RIGHT]400 TCN – 250 SCN[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#4"]Thời kỳ Kofun[/ANCHOR] [LIMITR=130][COLOR="Silver"][RIGHT]250 – 538[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#5"]Thời kỳ Asuka[/ANCHOR][LIMITR=130] [COLOR="Silver"][RIGHT]592 – 710[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#6"]Thời kỳ Nara[/ANCHOR][LIMITR=130] [COLOR="Silver"][RIGHT]710 – 794[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#7"]Thời kỳ Heian [/ANCHOR][LIMITR=130][COLOR="Silver"][RIGHT]794 – 1185[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#8"]Thời kỳ Kamakura [/ANCHOR][LIMITR=90][COLOR="Silver"][RIGHT]1185 – 1333[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#9"]Thời kỳ Muromachi [/ANCHOR][LIMITR=90][COLOR="Silver"][RIGHT]1336 – 1573[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [ANCHOR="#10"]Thời đại Azuchi-Momoyama[/ANCHOR] [LIMITR=90][COLOR="Silver"][RIGHT]1568 – 1603[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [URL="http://vnsharing.net/forum/showpost.php?p=1157741&postcount=11"]Thời kỳ Edo [/URL][LIMITR=90][COLOR="Silver"][RIGHT]1603 – 1868[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR] [URL="http://vnsharing.net/forum/showpost.php?p=1157770&postcount=12"]Thời kỳ Meiji[/URL][LIMITR=90] [COLOR="Silver"][RIGHT]1868 – 1912[/RIGHT][/COLOR][/LIMITR][/MARGIN] [/BOX][/LIMITR][/LIMITR][JUSTIFY]Thời kỳ Yayoi (kanji: 弥生時代, rōmaji: Yayoi jidai, phiên âm Hán-Việt: Di Sinh Thời Đại) là một thời kỳ trong lịch sử Nhật Bản từ khoảng năm 300 TCN đến năm 250. Thời kỳ Yayoi được đặt theo tên một vùng của Tokyo nơi các nhà khảo cổ tìm ra những di chỉ thuộc thời đại này. Theo khảo cổ học, thời kỳ Yayoi được đánh dấu bởi việc bắt đầu trồng lúa nước trên đồng ruộng và một phong cách đồ gốm mới. Nối tiếp thời kỳ Jomon (10.000 TCN đến 300 TCN), văn hóa Yayoi phát triển ở miền nam Kyushu và miền bắc Honshu. [szflash=0|25]a[/szflash]Tuy nhiên, những phát hiện gần đây cho thấy thời kỳ Yayoi có thể bắt đầu sớm hơn nhiều, từ 900 TCN đến 800 TCN.
[LIMITR=100][ANCHOR="#3"][RIGHT][SIZE="1"] Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="5"]Những đặc điểm của văn hóa Yayoi[/SIZE][/FONT][/B][bgcolor=black][limit=530][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor]
[LIMIT=220][LIMIT=212][BOX=#F9F9F9|#AAAAAA|1|0|0][szFLASH=20|5]a[/szFLASH] [CENTER][IMG]http://img3.imageshack.us/img3/7051/200pxyayoijar.jpg[/IMG] [SIZE="1"]Bình gồm thời Yayoi. Bảo tàng quốc gia Tokyo.[/SIZE][/CENTER][/BOX][/LIMIT][/LIMIT]Những người Yayoi đầu tiên có thể đã xuất hiện ở miền bắc Kyushu và sau đó chuyển lên hòn đảo lớn nhất Nhật Bản Honshu, nơi họ nhanh chóng thay thế người thời kỳ Jomon bản địa. Mặc dù kỹ thuật chế tác đồ gốm của người Yayoi tiến bộ hon so với người Jomon (đồ gốm được sản xuất trên một chiếc bàn xoay), đồ gốm của người Yayoi lại được trang trí đơn giản hơn. Người Yayoi cũng chế tác ra những chiếc chuông dùng cho nghi lễ, gương và vũ khí bằng đồng. Vào thế kỷ 1, họ bắt đầu sử dụng các công cụ nông nghiệp và vũ khí bằng sắt. [szflash=0|25]a[/szflash]Khi dân số người Yayoi tăng lên, xã hội của họ trở nên phức tạp hơn. Họ dệt len, sống định cư trong những ngôi làng làm nông nghiệp, xây dựng các kiến trúc bằng đá và gỗ, bắt đầu xuất hiện những người giàu có sở hữu nhiều đất và tích trưc được nhiều lương thực dẫn đến việc phân chia ra các đẳng cấp xã hội khác nhau. Sự phát triển này có thể bắt nguồn từ nền văn hóa làm thủy lợi và trồng lúa nước ở lưu vực sông Dương Tử miền nam Trung Quốc. Cho đến gần đây, người ta vẫn tin rằng cây lúa đã được đưa vào Nhật Bản qua đường Triều Tiên, nhưng những phân tích DNA gần đây đã phủ nhận điều đó. Văn hóa lúa nước dẫn đến việc phát triển của một xã hội nông nghiệp định tư tại Nhật Bản. Tuy nhiên, không giống như ở Triều Tiên và Trung Quốc, những thay đổi vế chính trị và xã hội ở quy mô địa phương tại Nhật Bản quan trọng hơn các hoạt động của chính quyền trung ương trong một xã hội phân chia đẳng cấp.[LIMITr=200][LIMITr=192][BOX=#F9F9F9|#AAAAAA|1|0|0][szFLASH=20|5]a[/szFLASH] [CENTER][IMG]http://img507.imageshack.us/img507/2794/180pxdotakubronzebellla.jpg[/IMG] [SIZE="1"]Chuông đồng thời Yayoi. Bảo tàng Guimet[/SIZE][/CENTER][/BOX][/LIMITr][/LIMITr]
[LIMITR=100][ANCHOR="#3"][RIGHT][SIZE="1"] Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="5"]Thời Yayoi trong sách sử Trung Quốc[/SIZE][/FONT][/B][bgcolor=black][limit=630][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor]
Những ghi chép sớm nhất về cư dân sống ở Nhật Bản là từ các thư tịch cổ của Trung Quốc trong thời đại này, Oa (倭), cách phát âm theo tiếng Nhật với một cái tên cổ mà Trung Quốc đặt cho Nhật Bản, được đề cập đến lần đầu tiên vào năm 57. Oa Quốc đã nhận được kim ấn của hoàng đế Trung Quốc thời Hậu Hán. Sự kiện này được chép lại trong Hậu Hán Thư. Con dấu đó đã được tìm thấy ở miền bắc Kyushu vào thế kỷ 18. Oa Quốc còn được nhắc đến vào năm 257 trong Ngụy Chí thời Tam Quốc. Những sử gia Trung Quốc khi đó mô tả Oa Quốc là một vùng đất bao gồm hàng trăm các cộng đồng bộ lạc du mục, chứ không phải là một quốc gia thống nhất với lịch sử đã được 700 năm như trong tác phẩm sáng tác vào thế kỷ 8 Nihongi, một tác phẩm nửa lịch sử, nửa huyền thoại viết rằng nước Nhật Bản đã được hình thành từ năm 660 TCN. Những thư tịch cổ của Trung Quốc vào thế kỷ 3 chép rằng người dân Oa Quốc ăn cá sống, rau và cơm nấu trong ống tre hoặc các khay bằng gỗ, vỗ tay khi tiến hành các hoạt động thờ phụng (những nghi thức như vậy vẫn còn tồn tại ở các ngôi đền Shinto đến tận ngày nay) và xây những lăng mộ chôn người chết bằng đất. Họ cũng có các quan hệ vua – tôi, thu thuế, xây dựng các kho thóc và chợ ở địa phương cũng như than khóc cho người chết. Một phụ nữ, được biết đến dưới cái tên Himiko ở Nhật Bản, cai trị một nhà nước sơ khai tên là Yamatai, đặc biệt phồn thịnh trong suốt thế kỷ 3. Himiko giữ một vị trí biểu tượng tinh thần trong nhà nước đó. Con trai bà mới là người điều hành đất nước, bao gồm cả các hoạt động ngoại giao với nhà Ngụy (220 – 265) ở Trung Quốc.
[LIMITR=100][ANCHOR="#3"][RIGHT][SIZE="1"] Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="5"]Nguồn gốc văn hóa Yayoi[/SIZE][/FONT][/B][bgcolor=black][limit=830][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor] Nguồn gốc văn hóa Yayoi từ lâu đã là một cuộc tranh cãi lớn. Có một số học thuyết chính được trình bày dưới đây.
[B][SIZE="4"]Nguồn gốc Trung Quốc[/SIZE][/B] [LIMITr=200][LIMITr=192][BOX=#F9F9F9|#AAAAAA|1|0|0][szFLASH=0|5]a[/szFLASH] [CENTER][IMG]http://img443.imageshack.us/img443/331/180pxyayoibronzespeartibnk.jpg[/IMG] [SIZE="1"]Gươm bằng đồng thời Yayoi, thế kỷ 1-2, tìm thấy ở Kyushu. Dài khoảng 80cm, những lưỡi gươm này khá giống với các lưỡi dao găm được tìm thấy ở Liêu Ninh cũng trong giai đoạn này. Bảo tàng Guimet[/SIZE][/CENTER][/BOX][/LIMITr][/LIMITr]Một học thuyết ra đời vào đầu thời kỳ Minh Trị cho rằng văn hóa Yayoi do những người di cư từ Trung Quốc mang đến Nhật Bản. Sự xuất hiện của văn hóa Yayoi rất đột ngột. Nền văn hóa Yayoi tiến bộ hơn rất nhiều so với văn hóa thời kỳ Jomon mà nó thay thế. Những kỹ năng đòi hỏi trình độ cao như chế tác đồng và vũ khí bằng đồng, gương và chuông đồng, cũng như trồng lúa và làm thủy lợi, đã xuất hiện tại Nhật Bản. Dẫn chứng quan trọng nhất của học thuyết này là ba biểu tượng lớn của văn hóa Yayoi, gương và kiếm bằng đồng cùng chiếc ấn hoàng gia, cũng chính là những biểu tượng được sử dụng dưới thời nhà Tần ở Trung Quốc. [szFLASH=0|25]a[/szFLASH]Trong những năm gần đây, nhiều bằng chứng khảo cổ học và sinh học đã được tìm thấy ở đông Trung Quốc và tây Nhật Bản càng khẳng định học thuyết này. Từ năm 1996 đến 1999, một đoàn khảo cổ do Satoshi Yamaguchi, một nhà nghiên cứu của Bảo tàng quốc gia Nhật Bản, đã so sánh những di chỉ thời Yoyi được tìm thấy ở Yamaguchi và Fukuoka với những di chỉ từ thời nhà Hán (202 TCN – 8) ở vùng bờ biển thuộc tỉnh Giang Tô của Trung Quốc và phát hiện rất nhiều điểm tương đồng giữa hộp sọ và chi của người Yayoi và người Giang Tô. Hai chiếc hộp sọ ở Giang Tô cho thấy những dấu hiệu các răng cửa bị nhổ, một tục lệ tương tự với ở Nhật Bản vào thời Yayoi và thời kỳ Jomon trước đó. Những mẫu gene của ba trong số 36 bộ xương Giang Tô cũng phù hợp một phần với các phân tích DNA của các mẫu từ những di chỉ thời Yayoi. Theo các nhà khoa học Nhật Bản, những phát hiện này cho thấy một số trong những cư dân trồng lúa nước của Nhật Bản có thể đã di cư từ vùng lòng chảo sông Dương Tử ở Trung Quốc sang vào khoảng 2.000 năm trước.
[LIMITR=100][ANCHOR="#3"][RIGHT][SIZE="1"]Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][SIZE="4"]Nguồn gốc Hàn Quốc[/SIZE][/B] Một học thuyết khác cũng ra đời vào đầu thời kỳ Minh Trị cho rằng văn hóa Yayoi được những cư dân di cư từ Triều Tiên mang đến Nhật Bản. Nhiều học giả phương Tây và Nhật Bản đã kết luận rằng những bằng chứng khảo cổ thời Yayoi cho thấy chắc chắn nó có nguồn gốc từ Triều Tiên. Những bằng chứng này bao gồm “các cánh đồng lúa có đập thủy lợi, dụng cụ đá mài kiểu mới, dụng cụ canh tác bằng gỗ, dụng cụ bằng sắt, kỹ thuật dệt, các bình sứ, các dây đai bằng đất sét hình thừng xoắn trong chế tạo đồ gốm, các chỗ ở được đào sâu xuống đất, chăn nuôi lợn (heo), nghi lễ nhổ răng hàm và các lăng mộ có lỗ khóa” (theo Mark J. Hudson, Ruins of Identity Ethnogenesis in the Japanese Islands. University Hawaii Press. 1999. 0-8284-2156-4). [LIMITr=200][LIMITr=192][BOX=#F9F9F9|#AAAAAA|1|0|0][szFLASH=0|5]a[/szFLASH] [CENTER][IMG]http://img402.imageshack.us/img402/7615/180pxgiantyayoifunerary.jpg[/IMG] [SIZE="1"]Mộ chum thời Yayoi. Bảo tàng Guimet[/SIZE][/CENTER][/BOX][/LIMITr][/LIMITr][szFLASH=0|25]a[/szFLASH]Học thuyết này còn được hỗ trợ bởi một luận điểm quan trọng là nền văn hóa thời kỳ Yayoi bắt đầu từ bờ biển phía bắc của Kyushu, nơi Nhật Bản gần với Triều Tiên nhất. Đồ gốm thời Yayoi, những lăng mộ chôn cất người chết và cách bảo quản thực phẩm đã được phát hiện rất giống với đồ gốm ở phía nam Triều Tiên. Thêm vào đó, một số lượng khá lớn cư dân đến từ Nhật Bản được phát hiện thấy ở phía nam Triều Tiên vào khoảng năm 300, gây ra những tranh cãi dữ dội giữa Triều Tiên và Nhật Bản ngày nay về việc ai là chư hầu của ai trong giai đoạn đó. [szFLASH=0|25]a[/szFLASH]Tuy nhiên, một ý kiến khác cho rằng việc dân số tăng lên khoảng bốn triệu người ở Nhật Bản giữa thời kỳ Jomon và Yayoi không thể chỉ đơn thuần giải thích là do hiện tượng di cư. Ý kiến đó cho rằng việc tăng dân số chủ yếu là do cư dân trên các đảo Nhật Bản chuyển từ đời sống săn bắt hái lượm sang một đời sống nông nghiệp định cư với sự ra đời của cây lúa. Dù sao đi nữa, một số bằng chứng khảo cổ học ủng hộ cho luận điểm rằng một dòng nhập cư lớn những người làm nông nghiệp từ Hàn Quốc sang Nhật Bản đã áp đảo những cư dân bản địa sống bằng săn bắt hái lượm. So sánh trực tiếp giữa hai bộ xương của thời Jomon và Yayoi cho thấy hai cấu tạo cơ thể có nhiều khác biệt đáng chú ý. Người Jomon thường thấp hơn, với cánh tay dài hơn và chân ngắn hơn, mắt to hơn, mặt ngắn và rộng hơn. Họ cũng có chân mày xếch hơn, mũi và sống mũi cao hơn. Trong khi đó, người Yayoi trung bình cao hơn từ 2,5 đến 5cm, với mắt hẹp, mặt dài và hẹp, sống mũi phẳng. Kể từ thời kỳ Kofun, gần như tất cả các hài cốt khai quật được ở Nhật Bản, trừ những bộ xương người Ainu và Okinawa, đều giống với người Nhật hiện đại. [szFLASH=0|25]a[/szFLASH]Những chứng cứ về di truyền học cũng ủng hộ giả thuyết này. Người Nhật hiện đại có thể là con cháu của những người di cư Yayoi và những người Jomon bản địa, trong khi người Ainu có thể là những còn cháu thuần chủng hơn của người Jomon có sự hòa trộn đôi chút về di truyền với người Nivhkh và người Yayoi di cư.
[LIMITR=100][ANCHOR="#3"][RIGHT][SIZE="1"]Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][SIZE="4"]Sự pha trộn giữa người Jomon bản địa và những người di cư đến từ Trung Quốc và/hoặc Triều Tiên[/SIZE][/B] Có những mảnh gốm thuộc thời Yayoi cho thấy ảnh hưởng rõ ràng của phong cách đồ gốm thời kỳ Jomon. Những ví dụ về sự tương đồng khác là các công cụ săn bắn bằng đá mài, các công cụ bắt cá bằng xương, vòng đeo làm từ vỏ sò và kỹ thuật sơn trang trí cho bình gốm và đồ trang sức. Bảo tàng khoa học quốc gia Nhật Bản từng tổ chức một triển lãm có tên “Cuộc hành trình trở về tiền sử Nhật Bản” dựa trên giả thuyết rằng người thời Yayoi đến từ miền nam Trung Quốc bởi vì những bộ xương thời giống với xương thời Yayoi đã được phát hiện ở đó.
[LIMITR=100][ANCHOR="#3"][RIGHT][SIZE="1"]Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][SIZE="4"]Sự nổi lên chủ đạo của văn hóa Jomon và ảnh hưởng rất ít của làn sóng nhập cư từ Trung Quốc và/hoặc Triều Tiên[/SIZE][/B]
[LIMITr=220][LIMITr=212][BOX=#F9F9F9|#AAAAAA|1|0|0][szFLASH=0|5]a[/szFLASH] [CENTER][IMG]http://img821.imageshack.us/img821/4759/200pxyoshinogariiseki.jpg[/IMG] [SIZE="1"]Nhà sàn thời Yayoi ở Yoshinogari (phục chế)[/SIZE][/CENTER][/BOX][/LIMITr][/LIMITr]Việc trồng lúa, trước đây được cho là đã bắt đầu từ Trung Quốc sang đường Triều Tiên rồi đến Nhật Bản. Tuy nhiên, hiện có những thuyết cho rằng ngược lại, cây lúa đã bắt đầu từ nam Trung Quốc, sang Okinawa rồi mới đến nam Triều Tiên. Sự khác biệt về mặt thể chất ở những người sống tại các vùng đất khác nhau của Nhật Bản hiện nay có thể được giải thích bằng những thay đổi trong tập quán ăn uống và sinh hoạt. Bởi lẽ người Nhật là một quần thể cư dân khá đồng nhất (trừ những người Ainu và người Ryukyu), rất có thể phần lớn người Nhật không phải là có nguồn gốc từ Trung Quốc. Mặc dù giả thuyết cuối cùng này làm hài lòng phần lớn người Nhật, vốn không muốn tin rằng họ có chung nguồn gốc về mặt sinh học với những hàng xóm châu Á, đó cũng là giả thuyết cuối cùng được các nhà nhân chủng học hiện đại tính đến.
[LIMITR=100][ANCHOR="#3"][RIGHT][SIZE="1"] Về đầu trang[/SIZE][/RIGHT][/ANCHOR][/LIMITR][B][FONT="Palatino Linotype"][SIZE="5"]Kết thúc và di sản[/SIZE][/FONT][/B][bgcolor=black][limit=610][szFLASH=0|1]a[/szFLASH][/limit][/bgcolor] Thời kỳ khảo cổ học tiếp theo trong lịch sử Nhật Bản được gọi là thời kỳ Kofun, cũng là thời kỳ mở đầu giai đoạn Yamato. Xã hội Yayoi dần phát triển thành một xã hội với sự thống trị của tầng lớp quý tộc quân đội và những lãnh địa được tổ chức theo mô hình gia tộc, đặc điểm nổi bật của thời Kofun sau đó. Sự thay đổi này rất có thể bắt nguồn từ cuộc di dân từ bán đảo Triều Tiên.[clear][/clear] [/JUSTIFY][/MARGIN][/BOX][/BOX][/BOX][/MARGIN]
. đã "mấy cái khuya" và h` sang năm sau luôn r`.
xong cái nào thì cộng cái đấy.
71 rep
24 point
__________________
thay đổi nội dung bởi: Natamikul, 08-01-2012 lúc 17:06
Đừng tìm cách khoe mẽ chiếc di động của mình ở Nhật, hoặc bạn sẽ là trò cười cho dân bản xứ
Điện thoại di động ở Nhật, 1 mặt nào đó, có thể xem như 1 nét văn hóa độc đáo khác, bên cạnh pop culture (anime/manga/games) hay lịch sử.
Từ khi xuất hiện lần đầu tiên năm 1979, di động đã phát triển như vũ bão, với 1 tốc độ nhanh đến chóng mặt, cả với cường quốc công nghệ như Mỹ, và trở thành "1 phần tất yếu của cuộc sống" ngày nay ở xứ sở Hoa Anh Đào, với hơn 100 triệu thuê bao, gấp đôi so với Hoa Kỳ, trong khi dân số chỉ trên dưới 1/2
Ngày nay, đến Nhật, bạn có thể thấy bà con cô bác xài di động vào bất kì việc gì. Chiếc mobile (a.k.a keitai denwa (携帯電話) Nhật có thể nói đã tiến gần đến khái niệm vạn năng hơn bất kì nơi nào khác, khi nó vừa là quyển nhật kí, là danh bạ, là ví tiền điện tử (càng ngày càng nhiều cty cung cấp dịch vụ mua hàng chi trả = di động), là TV KTS (xem TV = 3G là rất phổ biến ở Nhật), là máy chơi games, máy ảnh KTS, thẻ SV kiêm thẻ thư viện... nói chung là thứ mà nếu bạn còn trẻ, năng động, thì trời có sập cũng khó mà rời tay bạn đc
Chọn mua điện thoại từ quầy của NTT Docomo & Emobile
Khác hẳn với ở VN, gần giống ở Mỹ, ở Nhật ko bán điện thoại theo từng hãng, mà là bán theo hợp đồng với nhà mạng. Điều này 1 phần xuất phát từ việc NTT Docomo, mạng viễn thông lớn nhất Nhật Bản, ứng dụng hệ thống PDC năm 1993, khiến viễn thông Nhật hầu như phát triển độc lập và...ko tương thích đc với phần còn lại của thế giới, bao gồm cả Bắc Mỹ
Di động Nhật thường xuyên bị khóa mạng. Tức là nếu bạn mua máy của NTT Docomo, bạn chỉ có thể sử dụng SIM của Docomo, ngoài ra bạn ko thể nào xài 3G của mạng khác. Điều này dẫn đến nhiều thuận lợi, cũng như bất lợi. Có thể kể đến 1 vài điểm sau:
1. Bạn mua 1 mẫu mobile với giá có khi chỉ = 1/3 giá mua trọn hộp. Điều này đặc biệt tốt đối với iPhone, vốn phát hành độc quyền thông qua mạng Softbank Nhật
2. Máy của bạn chỉ nhận 1 mạng, điều này khiến cho nhà mạng sẽ tự nâng cấp tối đa dịch vụ hơn, nhằm giữ cho bằng đc khách hàng.
3. Nếu bạn đến vùng mà sóng mạng của bạn yếu hơn thì bạn.....cười trừ Chỉ có cách mua cái điện thoại của mạng khác ---> cực lãng phí. Điều tương tự với những ai hay đi nước ngoài (doanh nhân, quan chức ngoại giao, chuyên gia CN....)
Chính vì những rắc rối trên, cùng những khiếm khuyết khác, như hạ tầng vượt trội dẫn đến bên ngoài k tương thích đc, hay OS quá cũ kĩ, lề mề thay đổi (ĐT Nhật xài Symbian cũ, đã đc chỉnh sửa thành "Nhật hóa") là câu trả lời cho câu hỏi lớn nhất cho bạn:
Hiệu ứng Galapagos
Hiệu ứng Galapagos có thể nói là lí do tại sao 1 cường quốc công nghệ như Nhật mà tới bây giờ vẫn chưa từng nghe đến điện thoại di động bán ở VN/nước khác
_ Trong bài viết của mình, tác giả Kazuaki Nagata (Japan Times Online) đã dùng cụm từ trên, nhằm ám chỉ ngành công nghệ Nhật, vì phát triển quá nhanh, đâm ra tự đóng kín cửa trước phần còn lại của thế giới. Nếu thống kê ra thì số mạng viễn thông trên thế giới tương thích nổi với Nhật chỉ đếm trên đầu ngón tay. Điều này gần như hòn đảo Galapagos, vì quá biệt lập mà cuối cùng phát triển hệ sinh vật khác hẳn với những giống loài của mình trên thế giới.
_ 1 khiếm khuyết k đáng có đối với di động Nhật nữa là thói quen quá chú trọng vào phần cứng mà quên mất phần mềm. Keitai Nhật bản thân mang bên trong nó những công nghệ có thể khiến 1 chiếc iPhone 4 đình đám trở thành ....cục gạch Nhưng trong khi có quá nhiều trang bị độc đáo, keitai Nhật lại phạm phải 1 sai lầm chết người: xài OS Symbian quá cũ kĩ, hầu như ko cách nào cài đc soft từ nhà phát triển thứ 3 Đây thực sự có thể xem là "gót chân Achilles" lớn nhất, cản đường thống trị thế giới của những thương hiệu điện thoại Nhật.
_ Khá nhiều chuyên gia trong & ngoài nước Nhật khẳng định tính bảo thủ, trì trệ là rào cản quá lớn đối với công nghệ viễn thông Nhật. Nhiều blogger công nghệ Nhật vẫn chưa thể nuốt trôi trái đắng mà Sony Walkman tạo ra trước Apple iPod. Chính bởi vì Sony có hẳn 1 bộ phận phụ trách âm nhạc riêng, dẫn đến tình trạng tuy đảm bảo tính bảo mật tác quyền, nhưng ngược lại lại khó phân phối âm nhạc hơn. Hậu quả là Sony Walkman hầu như ko cách nào bì đc với thị phần của iPod, trong khi nếu so sánh công nghệ thì e rằng Apple còn lâu mới theo kịp Sony
HTML Code:
[limit=0][limit=70][limitr=1][bgcolor2=#000|1|1650][szflash=0|0]a[/szflash][/bgcolor2][/limitr][/limit][/limit]
[limit=0][limit=50][limitr=1][bgcolor2=#000|1|1650][szflash=0|0]a[/szflash][/bgcolor2][/limitr][/limit][/limit]
[bgcolor2=#000|900|2][szflash=0|0]a[/szflash][/bgcolor2]
[bgcolor2=#000|800|1][szflash=0|0]a[/szflash][/bgcolor2]
[INDENT][INDENT][szflash=500|100]http://vnsharing.net/font/UTMWedding.swf?w=500&h=100&txt=Điện thoại di động-Văn hóa Keita ở Nhật[/szflash]
[/INDENT][/INDENT]
[limit=300]
[box=tan|tan|5|15|15][limitr=205][B][COLOR="White"][SIZE="3"]Sơ lược [/SIZE][/COLOR][/B][/limitr]
[/box][/limit]
[margin=800][box=Silver|Silver|5|15|15]
[INDENT][INDENT][U]Có 1 blogger từng viết trang blog của mình:[/U][/INDENT][INDENT]Đừng tìm cách khoe mẽ chiếc di động của mình ở Nhật, hoặc bạn sẽ là trò cười cho dân bản xứ
[/INDENT]Điện thoại di động ở Nhật, 1 mặt nào đó, có thể xem như 1 nét văn hóa độc đáo khác, bên cạnh pop culture (anime/manga/games) hay lịch sử.
Từ khi xuất hiện lần đầu tiên năm 1979, di động đã phát triển như vũ bão, với 1 tốc độ nhanh đến chóng mặt, cả với cường quốc công nghệ như Mỹ, và trở thành "1 phần tất yếu của cuộc sống" ngày nay ở xứ sở Hoa Anh Đào, với hơn 100 triệu thuê bao, gấp đôi so với Hoa Kỳ, trong khi dân số chỉ trên dưới 1/2
Ngày nay, đến Nhật, bạn có thể thấy bà con cô bác xài di động vào bất kì việc gì. Chiếc mobile [B](a.k.a keitai denwa (携帯電話)[/B] Nhật có thể nói đã tiến gần đến khái niệm vạn năng hơn bất kì nơi nào khác, khi nó vừa là quyển nhật kí, là danh bạ, là ví tiền điện tử (càng ngày càng nhiều cty cung cấp dịch vụ mua hàng chi trả = di động), là TV KTS (xem TV = 3G là rất phổ biến ở Nhật), là máy chơi games, máy ảnh KTS, thẻ SV kiêm thẻ thư viện... nói chung là thứ mà nếu bạn còn trẻ, năng động, thì trời có sập cũng khó mà rời tay bạn đc
[CENTER][table="head"][IMG]http://img14.imageshack.us/img14/8916/nn20090902i1a.jpg[/IMG]
Chọn mua điện thoại từ quầy của NTT Docomo & Emobile[/table]
[/CENTER]
Khác hẳn với ở VN, gần giống ở Mỹ, ở Nhật ko bán điện thoại theo từng hãng, mà là bán theo hợp đồng với nhà mạng. Điều này 1 phần xuất phát từ việc NTT Docomo, mạng viễn thông lớn nhất Nhật Bản, ứng dụng hệ thống PDC năm 1993, khiến viễn thông Nhật hầu như phát triển độc lập và...ko tương thích đc với phần còn lại của thế giới, bao gồm cả Bắc Mỹ
Di động Nhật thường xuyên bị khóa mạng. Tức là nếu bạn mua máy của NTT Docomo, bạn chỉ có thể sử dụng SIM của Docomo, ngoài ra bạn ko thể nào xài 3G của mạng khác. Điều này dẫn đến nhiều thuận lợi, cũng như bất lợi. Có thể kể đến 1 vài điểm sau:
1. Bạn mua 1 mẫu mobile với giá có khi chỉ = 1/3 giá mua trọn hộp. Điều này đặc biệt tốt đối với iPhone, vốn phát hành độc quyền thông qua mạng Softbank Nhật
2. Máy của bạn chỉ nhận 1 mạng, điều này khiến cho nhà mạng sẽ tự nâng cấp tối đa dịch vụ hơn, nhằm giữ cho bằng đc khách hàng.
3. Nếu bạn đến vùng mà sóng mạng của bạn yếu hơn thì bạn.....cười trừ Chỉ có cách mua cái điện thoại của mạng khác ---> cực lãng phí. Điều tương tự với những ai hay đi nước ngoài (doanh nhân, quan chức ngoại giao, chuyên gia CN....)
Chính vì những rắc rối trên, cùng những khiếm khuyết khác, như hạ tầng vượt trội dẫn đến bên ngoài k tương thích đc, hay OS quá cũ kĩ, lề mề thay đổi (ĐT Nhật xài Symbian cũ, đã đc chỉnh sửa thành "Nhật hóa") là câu trả lời cho câu hỏi lớn nhất cho bạn:[/INDENT][/box]
[/margin]
[limit=300]
[box=tan|tan|5|15|15][limitr=205][B][COLOR="White"][SIZE="3"]Hiệu ứng Galapagos [/SIZE][/COLOR][/B][/limitr]
[/box][/limit]
[margin=800][box=LightBlue|LightBluer|5|15|15]
[INDENT][COLOR="royalBlue"]Hiệu ứng Galapagos có thể nói là lí do tại sao 1 cường quốc công nghệ như Nhật mà tới bây giờ vẫn chưa từng nghe đến điện thoại di động bán ở VN/nước khác
_ Trong bài viết của mình, tác giả Kazuaki Nagata (Japan Times Online) đã dùng cụm từ trên, nhằm ám chỉ ngành công nghệ Nhật, vì phát triển quá nhanh, đâm ra tự đóng kín cửa trước phần còn lại của thế giới. Nếu thống kê ra thì số mạng viễn thông trên thế giới tương thích nổi với Nhật chỉ đếm trên đầu ngón tay. Điều này gần như hòn đảo Galapagos, vì quá biệt lập mà cuối cùng phát triển hệ sinh vật khác hẳn với những giống loài của mình trên thế giới.
_ 1 khiếm khuyết k đáng có đối với di động Nhật nữa là thói quen quá chú trọng vào phần cứng mà quên mất phần mềm. Keitai Nhật bản thân mang bên trong nó những công nghệ có thể khiến 1 chiếc iPhone 4 đình đám trở thành ....cục gạch Nhưng trong khi có quá nhiều trang bị độc đáo, keitai Nhật lại phạm phải 1 sai lầm chết người: xài OS Symbian quá cũ kĩ, hầu như ko cách nào cài đc soft từ nhà phát triển thứ 3 Đây thực sự có thể xem là "gót chân Achilles" lớn nhất, cản đường thống trị thế giới của những thương hiệu điện thoại Nhật.
_ Khá nhiều chuyên gia trong & ngoài nước Nhật khẳng định tính bảo thủ, trì trệ là rào cản quá lớn đối với công nghệ viễn thông Nhật. Nhiều blogger công nghệ Nhật vẫn chưa thể nuốt trôi trái đắng mà Sony Walkman tạo ra trước Apple iPod. Chính bởi vì Sony có hẳn 1 bộ phận phụ trách âm nhạc riêng, dẫn đến tình trạng tuy đảm bảo tính bảo mật tác quyền, nhưng ngược lại lại khó phân phối âm nhạc hơn. Hậu quả là Sony Walkman hầu như ko cách nào bì đc với thị phần của iPod, trong khi nếu so sánh công nghệ thì e rằng Apple còn lâu mới theo kịp Sony
[/COLOR][/INDENT]
[/box]
[/margin]
[clear][/clear]
. 30 rep
10 point
thay đổi nội dung bởi: Natamikul, 24-11-2011 lúc 20:11
Tin cũ rồi nhưng không thấy trong chuyên mục nên tớ mạo muội đưa lên
T
heo một hãng truyền hình Mỹ thì loạt phim gốc “CSI” ( Điều tra những cảnh trong nhà tù thời kì Edo) được làm tại Las Vegas đã thành công rực rỡ và trở nên nổi tiếng thông qua hình thức nhượng quyền thương mại. Với chủ đề “CSI: Miami”, “CSI: NY” và “CSI: Tác phẩm bộ ba.”
“Sau khi ghé thăm buổi triễn lãm “Ryoma Den” tại bảo tàng Edo – Tokyo, tôi đã có cái nhìn về cuộc sống của các Samurai ở thế kỷ 19, đặc biệt là người cách tân mang tên Sakamoto Ryoma, tôi đã nghĩ đến một sản phẩm khác –“CSI : Edo Japan”. Và buỗi triễn lãm cũng cho tối thấy được khá chi tiết về cảnh rùng rợn của những vụ ám sát” – Theo lời tác giả bài viết
Nhưng có lẽ giống như James Dean hoặc là Che Guevara thì cách mà Sakamoto chết là điểm mấu chốt để ông được mọi người nhớ đến và nhớ mãi thông qua bộ phim lịch sử mới nhất của đài truyền hình NHK mang tên “Ryoma Den”. Thực tế, cuộc triễn lãm này sẽ diễn ra song song với phim truyền hình
Kể từ khi ông chết vào năm 1867 ở tuổi 33, Sakamoto đã trở thành biểu tượng Quốc Gia và một biểu trưng cho cuộc Cách Mạng Minh Trị với việc lật đổ tướng quânTokugawa và mở đường cho một xã hội Nhật Bản hiện đại. Điểu này quả là đáng ngạc nhiên vì mặc dù dày dặn kinh nghiệm trong các hành động nhưng ông bản chất vẫn là một Samurai cấp thấp. Ông đã mất trước khi nhận ra được hết khả năng của mình và chưa thành lập được một tổ chức quan trọng nào. So sánh với Saigo Takamori, thủ lĩnh của phe Satsuma hay là Katsu Kaishu nguời đã sáng lập ra hải quân Nhật Bản thì Sakamoto là nhân vật chính trị không quan trọng và nằm trong phe thiểu số. Có lẽ vì ông đã mất khi còn quá trẻ và không liên quan nhiều đến việc chống lại phe Shogunal đã làm cho ông dễ dàng nổi lên giống như là biểu tượng của phe đổi mới vào thời gian sau
Trong buổi triển lãm đã nảy sinh một ấn tượng khác: Sakamoto giống như nhân vật trung gian có những hành động của người môi giới giữa lợi ích lớn – lmột trong những thành tựu là đã giúp đỡ cho hai phe( Choshu và Satsuma) chống lại Shogunal mặc dù 2 phe này đã có sự ganh đua từ lâu. Ông cũng được xem là người đứng giữa hai thời đại phong kiến Edo và hiện đại Meiji Era (thời kì Minh Trị)
Khi bắt đầu triển lãm, sẽ được chào đón bằng một bức hình của Sakamoto. Bức ảnh đơn sắc như phản ánh đúng khía cạnh của chủ đề buổi triễn lãm. Có thể thấy được nét đặc sắc của thời kì Edo qua đá mạt, thái độ nghênh ngang và sự uy hiếp tiềm ẩn của các Samurai. Đồng thời cũng phản ánh sự phiền muộn đặt ra đối với người có ý tưởng sâu sắc về những sáng kiến mới du nhập từ nước ngoài vào Nhật Bản
Buổi triển lãm cũng cung cấp sự so sánh hình ảnh của Sakamoto với phim truyền hình – cái tạo nên sự sự bùng nổ về Ryoma. Một yếu tố khác được đề cập đến là khoảng thời gian khó khăn của nền kinh tế và Sakamoto tượng trưng cho sự mạnh mẽ và khả năng thích nghi mà xã hội Nhật Bản cần để phát triển.
Có lẽ buổi triển lãm này trong chừng mực nào đó có liên quan đến cảm giác của các quốc gia khác và có lẽ đó lý do có sử dụng tiếng anh trong danh mục triễn lãm cũng như trên các tấm kính kim loại. Đã có vài khó khăn khi trình bày những bức thư và tài liệu liên quan vì được tóm tắt bằng tiếng nhật. Tuy nhiên những điểm chính yếu được rút lại thành các bức thư pháp và tìm hiểu ai là người viết nên chúng hơn là những chi tiết liên quan đến những nguyên bản khó lý giải và những tóm lược mơ hồ.
Những tài liệu này tiết lộ rằng Sakamoto là một người viết thư xuất sắc khi viết những con người quan trọng trong lịch sử cũng như về bạn bè, người thân (đặc biệt là người chị gái đã chăm sóc ông sau khi mẹ ông mất năm ông 12 tuổi). Và trong nhiều trường hợp là viết cho những người mẹ muốn biết về con trai mình
Thêm những thông tin về buỗi triễn lãm là những bức tranh, bản đồ và những vật dụng khác. Kể cả chân dung Katsu kaishu (1885) của Kiyoo Kawamura đã vẽ gần đây nhất với phong cách phương Tây. Nó thể hiện hình tượng Sakamoto tham gia ám sát năm 1862 .
Những ấn tượng đáng nhớ nhất về buổi triễn lãm là các vật chứng đưa ra đã liên hệ được với cái chết của Sakamoto. Chúng bao gồm việc tái hiện lại căn phòng nơi ông và các đồng sự của ông bị cắt lát cho đến chết. Có thể thấy ở đây các loại vũ khí giết người và những giường gấp đặt trong phòng và vết máu của các nạn nhân. Đây là một phần của CSI đã đóng góp. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bí ẩn xung quanh các vụ giết người. Cuộc triễn lãm cũng đã dám công khai buộc tội Hayanosuke Katsura, một Samurai ít nổi tiếng trong lực lượng Kyoto Mimawarigumi (một lực lượng giống như Shinsengumi)
Với nhiều người yêu truyện tranh Nhật và những trái tim cô đơn khác, một đêm tại "cà phê tỳ nữ" sẽ giúp tâm hồn của họ được ấm áp và vui vẻ trong lễ Giáng sinh.
Cà phê tỳ nữ - đôi khi còn được đề cập dưới tên gọi cà phê Medo hay nhà hàng Cosplay xuất hiện trong truyện tranh hoặc trò chơi Mecca-Akihabara, kể từ năm 2000 và hiện nay đã phổ biến khắp nhiều thành phố lớn ở Nhật như Osaka và một số nơi khác trên thế giới.
"@t home" (ở nhà) là một trong những chuỗi quán cà phê tỳ nữ lớn nhất ở Nhật. Nó có 5 chuỗi cửa hàng với khoảng 200 cô hầu gái ở Akihabara, thu hút 250 khách hàng/quán vào ngày cuối tuần.
Tại các quán cà phê tỳ nữ, nữ nhân viên ăn mặc theo phong cách truyện tranh sẽ phục vụ khách trà và bánh ngọt. Khi một khách bước vào quán, cô phục vụ sẽ rạp người cúi chào và nói: "Chào mừng ông chủ về nhà" như thể một người hầu trong nhà. Không giống các quán cà phê bình thường, các cô phục vụ coi khách như chủ. Ví dụ, người phục vụ đôi khi quỳ xuống đất để bỏ đường hoặc sữa hoặc phục vụ các loại nước uống khác. Mục đích của các quán cà phê tỳ nữa và dịch vụ mà họ cung cấp là để khách hàng cảm thấy như đang ở nhà và thư giãn.
Nayu, một nữ nhân viên cho hay, cô là một người hâm mộ truyện và game Akihabara từ rất lâu và đã mơ ước được làm việc tại một nơi giống như quán cà phê tỳ nữ. Nayu làm nhân viên tại cà phê tỳ nữ được hơn một năm. "Tôi thích trang phục của các cô hầu gái. Trông nó rất đáng yêu. Ở đây, các cô hầu gái mãi mãi tuổi 17. Chúng tôi chia sẻ nụ cười xinh đẹp nhất với khách hàng".
Aki, một người yêu thích truyện trang thường xuyên lui tới cà phê "@t Home", đến quán trung bình 2-3 lần/tuần và là một thành viên của câu lạc bộ vui vẻ của quán. "Tôi tới quán lần đầu cách đây 4 năm và trở nên gắn bó với nơi này. Tôi bị nơi này hút hồn".
Giống các cô hầu gái mãi mãi ở tuổi 17, Aki cho biết, anh mãi mãi ở tuổi 24.
Naka Ogihara, một quản lý của tập đoàn Link-Up, công ty điều hành chuỗi quán cà phê "@t Home" nói, hầu hết các khách hàng là nam giới khoảng 18-19 hoặc đầu 20.
Một số khách hàng trả thêm tiền cho người phục vụ để chơi trò chơi đơn giản hoặc chụp ảnh với họ. Ogihara cho hay, trong mọi việc không bao giờ có gì liên quan tới tình dục và các cô hầu gái sẽ không bao giờ tiếp xúc với khách hàng sau giờ làm.
Mặc dù các quán cà phê tôn vinh khách hàng là đặc thù ở Nhật, các quán cà phê tỳ nữ thường chú trọng đặc biệt tới các vị khách. Có thể nói, cà phê tỳ nữ có vai trò tương tự như Geisha thời xưa ở xã hội Nhật, họ đều là những người mua vui.
Daimyo (Nhật: 大名 daimyō?, Đại danh) là những lãnh chúa phong kiến từ thế kỷ 10 đến đầu thế kỷ 19 ở Nhật Bản thần phục Tướng quân. Từ "thủ hộ" vào thời Muromachi qua thời Sengoku cho đến các đại danh của thời Edo, tước hiệu này đã có một lịch sử lâu dài và đa dạng. Từ Daimyo đôi khi cũng được dùng để chỉ những người đứng đầu các gia tộc, cũng được gọi là lãnh chúa. Thông thường, mặc dù không phải dành riêng cho vị trí này, là từ các lãnh chúa mà Tướng quân phát sinh hay Nhiếp chính quan được chọn.
Daimyo thường mặc đồ màu tím, từ đậm đến nhạt tùy theo thứ bậc của họ. Tím sẫm hay nhạt ở trước xanh sậm và nhạt, đỏ sậm và nhạt, và cuối cùng là đen. Những daimyo cao quý nhất được coi là quý tộc.
Shugo daimyo (Nhật: 守護大名 shugo daimyō, Thủ hộ Đại danh) là nhóm người đầu tiên được phong tước hiệu "daimyo". Họ đi lên từ các "shugo" trong thời Muromachi. Shugo daimyo nắm cả binh quyền, quyền lực chính trị, và cả kinh tế trong một tỉnh. Họ tích lũy sức mạnh trong những thập kỷ đầu tiên của thời đại Muromachi.
Daimyo Matsudaira Katamori thăm tư dinh của một thuộc hạ. Hình nộm trong tòa nhà Aizuwakamatsu
Shugo daimyo lớn bắt nguồn từ các gia tộc Shiba, Hatakeyama, và gia tộc Hosokawa, cũng như các gia tộc tozama của gia tộc Yamana, gia tộc Ōuchi và gia tộc Akamatsu. Những người mạnh nhất làm chủ đến vài tỉnh.
Mạc phủ Ashikaga yêu cầu các shugo daimyo sống ở Kyoto, do đó họ cử một người thân hay thuộc hạ, gọi là "shugodai", đại diện cho họ ở tỉnh nhà. Cuối cùng, một vài người trong số đó lại đến Kyoto ở, bổ nhiệm các cấp phó ở lại các tỉnh.
Chiến tranh Ōnin là cuộc bạo loạn lớn mà các shugo daimyo đánh giết lẫn nhau. Trong suốt thời gian của cuộc chiến, kuni ikki, hay nổi dậy tại các tỉnh, diễn ra vì các chiến binh hùng mạnh ở địa phương muốn độc lập với các shugo daimyo. Những người đại diên của các shugo daimyo, sinh sống ở các tỉnh, nắm lấy cơ hội này để củng cố địa vị của mình. Cuối cùng vào thế kỷ 15, những shugo daimyo thừa tự vẫn giữ được quyền lực. Những người đã trao quyền cho cấp phó của mình mất quyền và bị thay thế bởi một tầng lớp mới, "sengoku daimyo," đi lên từ cấp bậc shugodai và kokujin.
Sengoku daimyo - Daimyo thời Sengoku
Trong các sengoku daimyo (Nhật: 戦国大名 sengoku daimyō, Chiến Quốc Đại Danh?) có rất nhiều người đã từng là shugo daimyo như gia tộc Satake, gia tộc Imagawa, gia tộc Takeda, gia tộc Toki, gia tộc Rokkaku, gia tộc Ōuchi và gia tộc Shimazu. Những gia tộc mới nhận tước hiệu này là các gia tộc Asakura, Amago, Nagao, Miyoshi, Chōsokabe, Jimbō, Hatano, Oda và Matsunaga. Những người này đi lên từ cấp bậc "shugodai" và các cấp phó của họ. Những sengoku daimyo nữa như gia tộc Mōri, gia tộc Tamura và gia tộc Ryūzōji đi lên từ các kokujin. Các viên chức thấp hơn của Mạc phủ và các ronin (gia tộc Hậu Hōjō, gia tộc Saitō), viên chức cấp tỉnh (gia tộc Kitabatake) và kuge (gia tộc Tosa Ichijō) cũng tiến lên hàng ngũ sengoku daimyo.
Daimyo dưới thời Edo
Sau trận Sekigahara năm 1600 đánh dấu sự bắt đầu của thời đại Edo, shogun Tokugawa Ieyasu tái cơ cấu lại một cách mạnh mẽ 200 daimyo và đất đai của họ thành các han và xếp hạng dựa trên sản lượng gạo. Daimyo là những người đứng đầu các han có sản lượng 10.000 koku (50.000 giạ) hay hơn. Ieyasu cũng phân loại daimyo dựa trên việc họ có gần gũi với gia đình Tokugawa không: shinpan có họ hàng với Tokugawa; fudai đã là chư hầu của Tokugawa hay đồng minh trong chiến tranh; và tozama là những người đối nghịch với Tokugawa trước trận chiến (không nhất thiết phải đánh lại Tokugawa).
Năm 1800, có khoảng 170 daimyo trên toàn Nhật Bản.
Daimyo đi thăm viếng chính thức, minh họa năm 1860
Shinpan là họ hàng của Ieyasu, như gia tộc Matsudaira, hay hậu duệ của Ieyasu mà không phải chi chính thừa tự. Vài shinpan, như Tokugawa ở tỉnh Owari (Nagoya), tỉnh Kii (Quận Wakayama) và Mito, cũng như nhà Matsudaira ở Fukui và Aizu, nắm giữ các han rộng lớn.
Một vài fudai daimyo, như gia tộc Ii ở Hikone, giữ han rộng lớn, nhưng rất nhiều người chỉ quản lý các han nhỏ. Mạc phủ bổ nhiệm nhiều fudai ở các vị trí chiến lược để bảo vệ con đường giao thương đến Edo. Nhiều fudai cũng nhận nhiệm vụ ở Mạc phủ Edo, một số lên đến chức vụ rōjū. Sự thực là fudai daimyo có thể nắm các vị trí trong chính quyền trong khi tozama, nói chung, không thể, đó là sự khác nhau căn bản giữa hai loại.
Tozama daimyo làm chủ các thái ấp rộng lớn, với Kaga han ở quận Ishikawa, do gia tộc Maeda làm chủ, ước tính có tới 1.000.000 koku. Các gia tộc tozama nổi tiếng khác bao gồm gia tộc Mōri ở Chōshū, và gia tộc Shimazu ở tỉnh Satsuma, Date ở Sendai, gia tộc Uesugi ở Yonezawa và gia tộc Hachisuka ở Awa. Ban đầu, nhà Tokugawa cho rằng họ có thể nổi loạn bất cứ lúc nào, nhưng trong suốt thời Edo, hôn nhân giữa nhà Tokugawa với các tozama, cũng như chính sách kiểm soát như sankin kōtai, đã cho một cục diện hòa bình lâu dài.
Sankin kōtai
Sankin kōtai (luân phiên trình diện) là hệ thống trong đó nhà Tokugawa yêu cầu tất cả các daimyo cứ cách năm lại phải ở lại triều đình của Tokugawa ở Edo trong một năm, và giữ những thành viên gia đình của họ ở Edo khi họ trở lại han của mình. Điều này giúp cho việc kiểm soát về tài chính và chính trị của Edo với các daimyo chặt chẽ hơn. Sau này trong thời Tokugawa, nhiều hệ thống kiểm soát các daimyo khác cũng được thiết lập, như đóng góp bắt buộc vào các việc công cộng như xây dựng đường sá. Thêm vào đó, các daimyo bị cấm đóng thuyền và xây lâu đài, và việc thể hiện sức mạnh quân sự bị kiểm soát nghiêm ngặt.
Mệt mỏi vì những sự kiểm soát này, và thường trong tình hình tài chính tồi tệ vì những thứ như sankin kotai, bắt buộc phải ủng hộ cho các công việc công cộng, và tiêu xài hoang phí, vài daimyo đã chống lại Mạc phủ Tokugawa trong cuộc Minh Trị Duy Tân.
Sau Duy Tân Minh Trị
Năm 1869, năm sau cuộc Minh Trị Duy tân, daimyo, cùng với kuge, được xếp vào một tầng lớp quý tộc mới, kazoku. Năm 1871, han bị xóa bỏ và quận được thành lập, sau đó thực sự chấm dứt kỷ nguyên của các daimyo ở Nhật Bản. Sau sự thay đổi này, nhiều daimyo vẫn giữ được đất đai của mình, và được bổ nhiệm là thống đốc; tuy nhiên, họ sớm bị thôi chức và bị gọi toàn bộ về Tokyo, do đó cắt bỏ mọi cơ sở quyền lực độc lập ẩn chức mối họa nổi dậy tiềm tàng. Bất chấp việc này, thành viên của các gia đình daimyo vẫn giữ vị trí nổi bật trong chính phủ và xã hội, và vài trường hợp vẫn còn quan trọng cho đến ngày nay.
. 28 rep
8 point
thay đổi nội dung bởi: Natamikul, 24-11-2011 lúc 22:27