Bạn chưa đăng kí (hoặc chưa đăng nhập) nên quyền lợi của bạn sẽ bị hạn chế. Việc đăng kí làm thành viên hoàn toàn miễn phí, sau khi đăng kí bạn có thể post bài, tham gia thảo luận, liên lạc với các thành viên khác qua hệ thống tin nhắn riêng, yêu cầu manga/anime... và rất nhiều quyền lợi khác. Thủ tục đăng kí rất nhanh chóng và đơn giản, hãy Đăng Kí Làm Thành Viên!
1. Nữ ca sĩ Shy’m, tên thật là Tamara Marthe, sinh ngày 28 tháng 11 năm 1985 ở Trappes, thuộc tỉnh Yvelines (vùng ngoại ô phía tây Paris) trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật. Từ bé cô đã có đam mê với âm nhạc và nhảy múa, nhưng vì tính tình rụt rè nhụt nhát, việc đứng trên sân khấu trước đám đông đối với cô là gần như không thể. Trong thời gian luyện thi tú tài, cô đã thực hiện nhiều bản thu âm và Ahmed Meflah đã mang những bản thu này đi giới thiệu cho nhiều nhà sản xuất ở Paris. Nhờ đó mà cô đã được rapper K.Maro phát hiện.
Nghệ danh Shy’m của cô là sự kết hợp của từ ‘shy’ (trong tiếng Anh nghĩa là rụt rè, nhút nhát) và Martinique, quê nhà của bố.
Cô đã có cơ hội góp giọng trong single Histoire de Luv của K.Maro, một sự hợp tác rất thành công.
Năm 2006, cô cho ra đời single đầu tiên của mình, Femme de couleur, một ca khúc thuộc thể loại Soul/Pop/RnB, được viết, phối nhạc và sản xuất bởi K.Maro. Ca khúc này đã vươn đến vị trí thứ 5 trên bảng xếp đĩa đơn tại Pháp.
Tháng 10 năm 2006, album đầu tay của Shy’m, Mes fantaisies, phát hành tại Pháp và bán được gần 300,000 bản copy nhờ vào các ca khúc Femme de couleur, Victoire và Oublie-moi.
Tháng 9 năm 2008, album thứ hai, Reflets, phát hành và bán được 100,000 bản copy với các ca khúc nổi bật như La première fois, Si tu savais hay Step back.
Tháng 6 năm 2010, album Prendre l’air ra đời xếp hạng 6 trên bảng xếp hạng album ở Pháp, bán được hơn 200,000 bản. Trong đó, ca khúc Je sais xếp thứ 3 trên bảng xếp hạng doanh thu trong suốt 3 tháng và là ca khúc bán chạy nhất của cô tính đến nay.
Năm 2011, Shy’m tham gia game show truyền hình thực tế Bước Nhảy Hoàn Vũ phiên bản Pháp và đã đoạt giải nhất.
Cô đã trình diễn ở khán phòng hòa nhạc Zénith de Paris vào ngày 20 tháng 12 năm 2011 với vai trò là thành viên của nhóm Paris Africa và góp giọng vào ca khúc Des Ricochets.
Bản preview album mới của cô sẽ được tiết lộ vào ngày 11 tháng 6 năm 2012.
2. Ca sĩ Mika (tên đầy đủ: Michael Holbrook Penniman, Jr.), ca sĩ người Anh gốc Liban.
3. Christophe Maé, tên thật Christophe Martichon, là ca sĩ nhạc pop người Pháp, sinh ngày 16 tháng 10 năm 1975. Maé biết chơi violin, guitar và harmonica. Vào năm 2005, ông trở nên nổi tiếng sau khi đóng vai Monsieur, anh em của vua Louis XIV trong vở nhạc kịch “Le Roi Soleil”. Ông đã đoạt được rất nhiều giải NRJ Music Awards trong sự nghiệp của mình.
Album đầu tiên của ông, Mon Paradis, được tung ra vào ngày 19 tháng 3 năm 2007 và tính đến nay đã bán được 1,600,000 bản. Album đã giúp ông đem về 5 giải NRJ Music Awards: Gương mặt mới của năm (2007), Nam nghệ sĩ của năm (2008 & 2009) và Ca khúc của năm (On s’attache, 2008 & Belle Demoiselle, 2009).
Album On trace la route lên kệ vào ngày 22 tháng 3 năm 2010, bán được 750,000 bản.
Ngày 23 tháng 1 năm 2011, ông đã được phong tước Hiệp Sĩ bởi Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Truyền thong Pháp. Năm 2010, ông là ca sĩ trong những nước nói tiếng Pháp có thu nhập cao nhất với 4.7 triệu euro.
Một số giải thưởng khác: Gương mặt công chúng mới của năm (Victoires de la musique, 2008), Nghệ sĩ người Pháp của năm (World Music Awards, 2008), Ca khúc của năm (Belle Demoiselle, 2008).
4. Album “Blonde” của ca sĩ Cœur de pirate.
1. Lève les voiles
2. Adieu
3. Danse et danse
4. Golden Baby
5. Ava
6. Loin d’ici
7. Les amours dévouées
8. Place de la République
9. Cap Diamant
10. Verseau
11. Saint-Laurent
12. La petite mort
13. Hôtel Amour
14. Prince Athur
5. (Ngoài lề tí, bài này mấy lớp Pháp phải học hồi cấp 3 nè, hình như lớp 11 hay 12 gì đó )
Tóm tắt: Trong một tương lai gần, Phương Tây bị thu hẹp lại thành một quốc gia duy nhất, với thủ đô Monopolis, và được cai trị dưới chế độ độc tài chuyên chế. Câu chuyện xoay quanh ba mối tình đầy bi kịch, lồng ghép vào cuộc đấu tranh giữa băng nhóm chống đối Étoiles Noires và chính quyền độc tài. Chuyện tình thứ nhất là giữa Marie-Jeanne, cô hầu bàn ở Underground Café nơi nhóm Étoiles Noires lấy làm đại bản doanh, và Ziggy, anh chàng buôn lậu trẻ tuổi; chuyện không thể thành vì Ziggy là người đồng tính. Chuyện tình thứ hai diễn ra giữa kẻ địch của Étoiles Noires, Zéro Janvier và Stella Spotlight, sex symbol nổi tiếng vừa từ giã màn bạc. Chuyện tình thứ ba, đồng thời là điểm nhấn của vở nhạc kịch, diễn ra giữa Johnny Rockfor, thủ lĩnh băng Étoiles Noires và Cristal, ngôi sao của show truyền hình ‘Starmania’. Tình yêu với Cristal đã đẩy Johnny ra khỏi tầm kiểm soát của Sadia, ‘bộ não’ thật sự của Étoiles Noires và đồng thời là một gã hay mặc đồ nữ vào ban đêm, khiến hắn/ả vì ghen tị mà tố giác hai người với Zéro Janvier vào đêm công bố lễ đính hôn của lão với Stella ở Naziland, vũ trường khổng lồ bên trên Monopolis. Điều này đã dẫn đến cái chết bi thảm của Cristal trong vòng tay Johnny. Trong đoạn kết, Stella Spotlight quay về với giấc mơ bất tử; còn Marie-Jeanne từ bỏ thế giới đen tối bên dưới long đất, ra đi tìm ánh mặt trời và gián tiếp tiếp tay vào vụ tự sát của Stella.
Tên 5 bài hát (Nhiều quá nên bốc đại ): Quand on arrive en ville; Un garcon pas comme les autres (Hồi mình học có hơi bị ấn tượng với bài này, cả đám trong nhóm cứ ngâm nga hoài ); Le Meeting de Zéro Janvier; Les Adieux d’un sex-symbol (Cái tên hơi bị ấn tượng ); Tango de l’amour et de la mort.
6. Le Géant de papier của Jean-Jacques Lafon.
7. Autant en emporte le vent (aka Gone with the wind hay Cuốn theo chiều gió )
1. Mỗi vùng, miền của nước Pháp có gu ẩm thực khá khác biệt. Miền Bắc chuộng bơ, kem và táo, miền Nam có gan ngỗng béo và rượu Bordeaux
2. Món ăn cơ bản, truyền thống nhất của người Pháp là bánh mì baguette phết bơ.
Người dân Pháp có phong cách ẩm thực thanh lịch, dường như không có khái niệm ăn nhanh, dù có bận rộn hay gấp rút đến mấy họ cũng muốn ngồi vào bàn dùng bữa một cách lịch sự, hầu như rất hiếm khi họ mua vội món gì ăn dọc đường đi.
Ẩm thực Pháp nổi tiếng khắp nơi với các món ăn được chế biến lạ mắt, lạ miệng, kết hợp độc đáo rượu - loại gia vị hầu như không thể thiếu trong các món ăn Pháp - vào chế biến và thưởng thức các món ăn, góp phần làm đậm đà thêm hương vị của các món ăn Pháp.
Bên cạnh rượu vang, nước xốt cũng là một thành phần đáng chú ý của phong cách ẩm thực Pháp, sự hòa quyện tinh tế giữa các loại thảo mộc, lá thơm và trái câu như quế, ỏai hương, khoai tây, cam, bưởi...
Trong bữa ăn, người Pháp thường sử dụng dao, nĩa và hầu như không có các món ăn dùng tay bốc.
Trong các bàn tiệc Pháp, điều đáng chú ý nhất là cung cách bày biện sạch sẽ và sang trọng, mọi thứ được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng từ những chiếc đĩa đựng thức ăn, ly uống rượu đến từng chiếc dao, nĩa.
=>Tất cả những chi tiết đó đã khẳng định phần nào nét độc đáo của ẩm thực Pháp, vốn được mệnh danh là cái nôi của ẩm thực Châu Âu.
3.Nước Pháp là một trong những quốc gia Châu Âu có lịch sử lâu đời nhất về sản xuất rượu nho. Rượu vang Pháp nổi tiếng khắp thế giới với tên tuổi của các loại rượu tuyệt hảo, xuất xứ từ các vùng sản xuất rượu lâu đời như Bordeaux, Burgundy, Alsace, Provence hay Thung lũng sông Rhône. Mỗi loại rượu được sản xuất tùy theo đặc điểm khí hậu của từng vùng, theo từng chủng loại nho, từng công thức chế biến, lưu trữ rượu riêng biệt và trong đó có cả sự nâng niu, chăm chút của những người sản xuất rượu. Chính những yếu tố đó tạo nên sự khác biệt nổi bật của rượu nho nước Pháp.
Ngoài ra, Nước Pháp coi rượu vang là một loại hình nghệ thuật. Quá trình chưng cất rượu vang được tiến hành với sự tỉ mỉ, công phu để chiết xuất những giọt nồng tinh túy nhất. Nói đến rượu vang không thể không kể đến nhãn hiệu rượu vang Bordeaux lừng danh. Bordeaux là một thành phố nằm bên bờ sông Garonne, có khoảng 120.000 ha đất trồng nho, 13.000 nông trại nho, 9.000 xưởng sản xuất rượu vang. Với năng suất mỗi năm trên 700 triệu chai rượu vang, Bordeaux đứng đầu thế giới về số lượng rượu sản xuất và được coi là kinh đô rượu vang của thế giới.
4. Phô mai xanh vùng Roquefort trứ danh với mùi hương khá nồng nhưng dễ gây nghiền. Phô mai Saint - Nectaire lâu đời làm từ sữa bò tươi vùng Auvergne. Phô mai Camembert có vị béo của sữa và mùi thơm của trái cây. Được áo bằng một lớp vụn bánh mì hay miếng thịt muối mặn, phô mai sữa dê Chevre Chaud đem đến cho thực khách mùi vị phô mai kinh điển nhưng độc đáo, Beaufort, loại phô mai cứng, đến từ vùng Alps. Và còn rất nhiều loại phô mai khác nữa.
Phô mai Roquefort, tiếng Anh còn gọi là phô mai Rochefort, là một loại phô mai làm từ sữa cừu có màu xanh, xuất phát từ miền Nam nước Pháp, cùng với các loại phô mai như phô mai Bleu d'Auvergne, phô mai Stilton và phô mai Gorgonzola trở thành một trong những loại phô mai xanh hảo hạng nhất thế giới. Mặc dù có nhiều loại phô mai khác nhau, thế nhưng Luật phô mai châu Âu đã tuyên bố rằng chỉ những loại phô mai được chế biến trong các hang động thiên nhiên Combalou thuộc vùng Roquefort-sur-Soulzon mới xứng danh mang tên gọi là phô mai Roquefort. Phô mai Roquefort có màu trắng, thơm, giòn và hơi ướt, trên bề mặt phô mai có những đường gân màu xanh lá cây đặc trưng.
Kinh điển thì có phô mai sữa dê Chevre chaud, có lớp áo là vụn bánh mì hay miếng thịt muối mằn mặn. Loại phô mai này phải ăn nóng với bánh mì que của Pháp mới đúng điệu.
Không kém phần được ưa chuộng là “hoàng tử” Beaufort, loại phô mai cứng, đến từ vùng Alps, có hình tròn và rất lớn, nặng từ 20 đến 70 kg, được làm từ sữa bò taurine vang danh.
5.
6. món Ratatouille
“Ratatouille” được nấu chỉ với rau, không bỏ thịt và không lỏng như xúp. Món này được làm từ bốn nguyên liệu chính là cà chua, mướp tây (zucchini), cà tím, ớt chuông, ngoài ra còn có hành tây và tỏi cùng một số loại hương thảo.
7.chưa được đâu nhưng rất thích được nếm món này: bouillabaisse một món súp hải sản mà mình tình cờ đọc được trong truyện harry potter lí do thì tại vì rất đam mê HP, muốn được ăn và cảm nhận xem thử có giống với tưởng tượng của mình hay ko!!
50r
Đáp án câu 5: 22/09/2012 là "FÊTE DE LA GASTRONOMIE" - do có chút sai sót nên bạn được trọn điểm câu này luôn
1/ Kiến trúc sư Jean-François-Thérèse Chalgrin thiết kế, những người kế nhiệm công việc xây dựng là Louis-Robert Goust và Jean-Nicolas Huyot.
2/ 1981.
3/ Pont du Gard (Cầu Gard) là một cầu ba tầng nằm ở phía Nam nước Pháp thuộc Vers-Pont-du-Gard, gần Remoulins, Nîmes và Uzès
4/ Château de Versailles thường được gọi là cung điện Versailles hay đơn giản là Versailles
5/ Tháp Eiffel , Gustave Eiffel
6/ Phong cách kiến trúc gothic
7/ Cầu Trường Tiền
2: Bà là một nữ diễn viên, nhà viết kịch bản và đạo diễn người Pháp, sinh năm 1944 tại Đà Lạt, Việt Nam. Bà là ai? Nêu tóm tắt tiểu sử của bà.
Bà là Marie-France Pisier (10.05.1944 – 24.04.2011) là một một nữ diễn viên, nhà viết kịch bản và đạo diễn người Pháp. Bà từng xuất hiện trong nhiều phim của các đạo diễn người Pháp và hai lần đoạt giải César cho Nữ Diễn Viên Phụ Xuất Sắc Nhất.
Bà là con của Georges Pisier, một thống đốc thuộc địa và Paula Caucanas. Bà có một anh trai tên Gilles (sinh năm 1950) và một chị gái tên Evelyne (sinh năm 1941 ở Hà Nội).
Pisier về Paris cùng gia đình khi lên 12 tuổi và 5 năm sau bắt đầu sữ nghiệp diễn viên trong phim Antoine and Colette (1962) của François Truffaut, sau đó là Baiser volés (1968) và L'Amour en fuite (1980) cũng của Truffaut. Bà nổi tiếng trong loạt 5 phim có nhân vật Antoine Doinel do François Truffaut viết kịch bản và đạo diễn.
Pisier bắt đầu viết kịch bản Céline et Julie vont en bâteau (1973), và đóng vai chính trong phim này.
Năm 1975 khi đóng phim hài Cousin, Cousine, vai này đã đem lại cho bà Giải César. Sau đó bà đóng tiếp 3 phim của đạo diễn André Téchiné là Souvenirs en France (1975), Barocco (1976) và The Bronte Sisters (1978).
Pisier gia nhập điện ảnh Hoa Kỳ với các phim The Other Side of Midnight (1977), French Postcards (1979) và các phim truyền hình khác nhưng đã không thành công.
Trở về Pháp, bà tiếp tục làm việc trong ngành điện ảnh. Năm 1990, Pisier làm đạo diễn đầu tay trong phim Le Bal du gouverneur, do bà soạn kịch bản chuyển thể từ chính tiểu thuyết của mình.
3: Đây là bộ phim đã đoạt giải Phim hay nhất tại giải thưởng Cesar năm 2012. Kể tóm tắt nội dung phim.
Phim The Artist
Câu chuyện của bộ phim lấy bối cảnh ở Hollywood trong khoảng thời gian 1927 đến 1932, tập trung vào mối quan hệ giữa một nam diễn viên, George Valentin, ngôi sao của thời kỳ phim câm, đang xuống dốc và một nữ diễn viên trẻ, Peppy Miller, mới nổi nhờ sự xuất hiện của phim nói, cả hai đã trải qua một mối quan hệ vừa hài hước, vừa xúc động nhưng cũng vô cùng lãng mạn. Bản thân The Artist cũng là một bộ phim câm đen trắng với tỷ lệ khung hình 4:3.
Vào năm 1927, ngôi sao phim câm George Valentin đang chụp ảnh cho bộ phim sắp tới của mình, A Russian Affair, thì một cô gái trẻ, vô tình va vào anh. Sau đó, Peppy thử giọng để nhận vai một vũ công và Valentin nhận ra cô, anh muốn cô có mặt trong bộ phim sắp tới của Kinograph Studios, bất chấp sự phản đối từ chủ xưởng phim, Al Zimmer. Trong một cảnh diễn cùng, Valentin và Peppy đã kết hợp tuyệt vời dù cô chỉ đóng vai phụ. Với sự hướng dẫn của Valentin, Peppy đã từ từ bước đến mốc một nữ diễn viên chính nổi bật.
Hai năm sau, Zimmer thông báo kết thúc sản xuất phim câm ở Kinograph Studios, nhưng Valentin không chấp nhận. Anh quyết định tự sản xuất và chỉ đạo bộ phim câm của mình. Bộ phim ra mắt cùng ngày là một phim nói của Peppy, cùng lúc thị trường chứng khoán 1929 sụp đổ. Để thoát khỏi nguy cơ phá sản, Valentin buộc phải đưa bộ phim của mình thành hit. Thật không may khán giả kéo đến phim của Peppy nhiều hơn của Valentin. Peppy trở thành một ngôi sao Hollywood lớn.
Valentin phá sản, và yêu cầu Clifton, nhân viên của mình đi tìm công việc khác. Suy sụp , Valentin lao vào rượu. Ngôi nhà của anh bị cháy trong khi anh chuẩn bị một bộ phim. Con chó của anh đã thu hút sự chú ý của một cảnh sát gần đó và anh được cứu, Valentin nhập viện. Peppy đến và yêu cầu được chuyển anh về chữa trị tại nhà. Khi ở bệnh viện cô phát hiện ra rằng bộ phim mà anh vẫn giữ chặt trong đám cháy chính là bộ phim đầu tiên của cô. Valentin tỉnh dậy trên giường tại nhà của cô, Clifton lúc này làm việc cho Peppy.
Peppy yêu cầu Zimmer cho Valentin đồng diễn cũng cô trong bộ phim sắp tới, cô dọa sẽ bỏ Kinograph nếu Zimmer không đồng ý. Peppy hoảng sợ khi thấy Valentin định tự tử. Hai người hòa giải, và chợt nhớ về khả năng khiêu vũ tuyệt vời của Valentin, Peppy thuyết phục Zimmer cho họ làm cho một vở nhạc kịch với nhau.
4: Họ là người đã phát minh ra kỹ thuật cinématographe. Họ là ai? Bạn biết gì về kỹ thuật này?
Léon Bouly đã phát minh ra kỹ thuật này đầu tiên năm 1892 nhưng do không đủ kinh phí nên đã bán lại cho 2 anh em nhà Lumière.
Theo như mình hiểu, đây là cái máy chiếu phim =.= dùng nến hoặc một loại nguồn sáng khác chiếu lên tấm phim đen trắng. Cuộn phim sẽ từ từ được quay như băng cát sét vậy. Hình ảnh sẽ được chiếu lên một tấm màn rộng. Xếp theo thứ tự xuất hiện thì sẽ là: nguồn sáng -> tấm phim -> màn chiếu.
5: Nêu tóm tắt tiểu sử của nữ diễn viên Sophie Marceau.
Ngày sinh 17.11.1966, Paris, France
Tên đầy đủ Sophie Danièle Sylvie Maupu
Chiều cao 5' 8" (1.73 m)
Khi 14 tuổi, Sophie Marceau sống cùng bố ở ngoại ô Paris vùng Gentilly, một lái xe tải. Một người bạn cho cô biết đạo diễn Claude Pinoteau đang tìm một gương mặt mới cho bộ phim cho thanh thiếu niên, The Party (1980). Cô đăng kí nhận vai và khiến bộ phim thành công vang dội. Cô cũng xuất hiện trong La boum 2 (1982) của Gaumont, và nhận mức thù lao 1000 franc Pháp, và lúc đó cô 16 tuổi. Cô cũng nhận giải Cesar năm 1983 cho Nữ Diễn Viên Triển Vọng Nhất nhờ "La Boum 2". Cô được chọn là Nữ diễn viên lãng mạn nhất nhờ phim Chouans! (1988) ở liên hoan phim quốc tế Festival International du Film Romantique (International Festival of Romantic Movie) tại Cabourg năm 1988, và nhận giải Moliere cho phim "Eurydice et Pygmalion" năm 1994.
6: Cô là nữ diễn viên đã đoạt giải "Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất" tại lễ trao giải Oscar lần thứ 80. Vai diễn đầu tiên của cô trong một phim nói tiếng anh là vai nào? Trong phim gì?
Cô là Marion Cotillard, Cô đóng một vai phụ có tên Joséphine Bloom, trong Big Fish, bộ phim tiếng Anh đầu tiên của cô.
7: Bộ phim kể về cuộc đời của nữ ca sĩ từng có nghệ danh La Môme Piaf. Bộ phim nói trên đã giành được những giải thưởng điện ảnh nào? Kể tên.
Bộ phim tên La Vie en rose kể về cuộc đời của nữ ca sĩ từng có nghệ danh La Môme Piaf đã giành được
• Giải César cho Best Production Design (Olivier Raoux)
• Giải César cho Best Photography (Tetsuo Nagata)
• Giải César cho Best Sound (Laurent Zeilig, Pascal Villard, Marc Doisne và Jean-Paul Hurier)
• Giải César cho Best Costume Design (Marit Allen)
• Giải Academy cho trang điểm.
• Giải BAFTA cho trang điểm, trang phục và nhạc phim hay nhất .
• Giải Czech Lion cho phim xuất sắc nhất .
Riêng Marion Cotillard đã giành được 7 giải cho Nữ diễn viên xuất sắc nhất cho tạo hình Édith Piaf của cô trong phim này:
• Giải Academy cho Best Actress
• Giải Golden Globe cho Best Actress, Motion Picture (phim âm nhạc hoặc phim hài)
• Giải Prix Lumière cho Best Actress
• Giải Golden Space Needle cho Best Actress tại liên hoan phim 2007 ở Seattle
• Giải BAFTA cho Best Actress
• Giải César cho Best Actress
• Giải Czech Lion cho Best Actress
50r
Bộ câu hỏi mỹ thuật:
Người trả lời sớm nhất: La Vecchia Signora
Trích:
Nguyên văn bởi La Vecchia Signora
1. Pablo Diego José Francisco de Paula Juan Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad Ruiz y Picasso
2. Garçon à la pipe. Tác giả Pablo Picasso
3. Mary Cassatt, Paul Cezanne, Edgar Degas, Max Liebermann,
Édouard Manet ,Claude Monet, Berthe Morisot, Camille Pissarro
4. Jean-Auguste-Dominique Ingres và Jacques-Louis David
5.
- Haystacks, (sunset)
- Poplars, (autumn)
- Jardin à Sainte-Adresse
- The Seine at Giverny
- Houses of Parliament
6.
- Georges Braque với tác phẩm Đĩa hoa quả và cốc thủy tinh
- Pablo Picasso với tác phẩm Tĩnh vật với chiếc mây
7. Trường phái lãng mạn
50r
Bộ câu hỏi lịch sử:
Người trả lời sớm nhất: princess luna
Trích:
Nguyên văn bởi princess luna
1.
+Napoléon I (Napoléon Bonaparte)
+Sinh: 15 tháng 8 năm 1769
Mất: 5 tháng 5 năm 1821
+Thân mẫu: Letizia Ramolino
2.Louis XIV (Louis-Dieudonné; 1638–1715) là vua của Pháp và của Navarre
3.
+Napoléon III (Charles Louis-Napoléon Bonaparte)
+Sinh: 20 tháng 4 năm 1808
+Mất: 9 tháng 1 năm 1873
4.
+Maria Antonia Josepha Johanna von Habsburg-Lothringen(1755-1793) là công chúa của hoàng tộc Áo,thuộc dòng họ Habsburg,công chúa hoàng gia của Hungari và xứ Bohême, công nương của thái tử và sau này là hoàng hậu của nước Pháp và Tây Ban Nha .
+Chồng bà là Thái tử Louis Auguste của dòng họ Bourbon, sau này trở thành vua Louis XVI của nước Pháp.
5.Chiếm ngục Bastille.(14 tháng 7 năm 1789)
6.
-Henri I
-Philippe III
-Philippe IV
-Louis X
-Jean I
-Philippe VI
-Jean II
-Charles V
-Charles VI
-Charles VII
-Louis XI
-Charles VIII
-Louis XII
-François I
-François II
-Charles IX
-Louis XVIII
-Louis XVIII
-Charles X
-Louis-Philippe I
7.Chiều cao của Napoleon đệ Nhất là 5 feet 2 inch theo đơn vị foot của Pháp (bằng 1,686 mét)
Je me souviens de ces matins d'hiver
Dans la nuit sombre et glacée
Sans songer à l'école, en pleine liberté,
Pour rêver
Aimer c'est voler le temps
Et brûler au cœur d'un volcan
thay đổi nội dung bởi: Blanc, 11-04-2012 lúc 10:23
Because we’re friends. There is no need for other reasons
Tham gia ngày: 09-03-2012
Bài gửi: 2,785
Cấp Độ: 194
Rep: 9446
Mod chưa tổng kết hết nữa à
__________________
[VNFS] Magi - Mê Cung Ma Thuật Dòng chảy của số phận - Sự lựa chọn các vị vua
Đâu là lối thoát cho cuộc chiến bảo vệ thế giới?
Trọn bộ 25 tập. Hiện đã được FREE DOWNLOAD tại VnS Tracker
Mời các bạn đón xem