![]() |
|
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
|
|
Chào mừng đã đến với forum oOo VnSharing oOo. Bạn chưa đăng kí (hoặc chưa đăng nhập) nên quyền lợi của bạn sẽ bị hạn chế. Việc đăng kí làm thành viên hoàn toàn miễn phí, sau khi đăng kí bạn có thể post bài, tham gia thảo luận, liên lạc với các thành viên khác qua hệ thống tin nhắn riêng, yêu cầu manga/anime... và rất nhiều quyền lợi khác. Thủ tục đăng kí rất nhanh chóng và đơn giản, hãy Đăng Kí Làm Thành Viên! Nếu bạn quên mật khẩu, xin nhấn vào đây. Nếu bạn gặp trục trặc trong vấn đề đăng kí hoặc không thể đăng nhập, hãy liên hệ với chúng tôi. |
|
||||||
Chính thức đưa host Mega vào sử dụng
Topic giải quyết việc phá forum của mod kẻ lang thang + Clouds-san
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#1
|
||||||||
|
||||||||
|
[Animated Movie] The Lion King
The Lion King là bộ phim hoạt hình tiêu biểu của năm 1994, được Walt Disney Feature Animation sản xuất và được hãng phim Walt Disney Pictures công chiếu. Đây là bộ phim thứ 32 của hãng Walt Disney, và được coi là bộ phim hoạt hình cổ điển hay nhất mọi thời đại ở Bắc Mỹ. Bộ phim xoay quanh một chú sư tử con mới chào đời tại Châu Phi có tên là Simba, một chú sư tử cần được nhận thức về vị thế của mình trong “vòng luân hồi” vĩ đại và phải chiến đấu chống lại những thế lực thù địch để trở thành vị vua đáng kính của vùng đất Pride Rock. Bộ phim này mang sự ảnh hưởng từ những câu chuyện Kinh Thánh của Joseph, Moses cùng với vở kịch Hamlet của William Shakespeare, bộ phim lấy bối cảnh một vương quốc với những loài vật được nhân hóa tại Châu Phi. Đây là bộ phim hoạt hình gây nhiều tiếng vang nhất của mọi thời đại cho tới khi Finding Nemo (Đi tìm Nemo) được công chiếu (do hãng phim Disney/Pixar sản xuất). Tuy vậy The Lion King vẫn được ghi nhận là bộ phim cổ điển được đánh giá cao nhất trong lịch sử và nằm trong thời kì rực rỡ của Disney. The Lion King còn là bộ phim hoạt hình 2D nổi tiếng nhất từ trước tới giờ tại Mỹ và đã nhận được những lời phản hồi mang tính tích cực từ những nhà phê bình, họ đã ca ngợi về cả âm nhạc lẫn nội dung phim. Trong suốt thời gian được công chiếu trong năm 1994, bộ phim thu về hơn 774 triệu đô trên khắp thế giới, và trở thành bộ phim thành công nhất trong năm này, hiện tại bộ phim đang chiếm giữ vị trí thứ 16 trong thể loại phim hoạt họa kinh điển nhất mọi thời đại. Là một bộ phim nhạc kịch, The Lion King đã mang về hai giải thưởng Oscar nhờ sự thành công trong âm nhạc và được trao giải thưởng Quả Cầu Vàng cho phim hoạt hình nhạc kịch xuất sắc nhất. Những bài hát được nhà soạn nhạc Elton John và nhà thơ Tim Rice sáng tác, kết hợp với phong cách phổ nhạc độc đáo của HansZimmer. Disney sau ấy đã sản xuất thêm hai phần tiếp theo: The Lion King II: Niềm tự hào của Simba; và một phần sự kiện diễn ra song song, The Lion King 1½. Nhà hát Broadway đã trình diễn một buổi nhạc kịch mô phỏng lại câu chuyện này vào năm 1997 và đã giành được sáu giải thưởng Tony Award, một trong đó là cho Vở nhạc kịch xuất sắc nhất. Sơ lược nội dung: Tất cả các loài động vật đều tập trung về Pride Rock – Mỏm đá của niềm tự hào tại Châu phi để chứng kiến sự chào đời của chú sư tử mà vị vua Mufasa và hoàng hậu Sarabi đã sinh ra. Người anh em của vị vua, Scar, vô cùng bất mãn về sự ra đời của Simba- người sẽ trở thành vị vua tương lai. Khi còn nhỏ, Simba được Mufasa dạy dỗ để trở thành một vị vua. Trong chuyến ghé thăm Pride Rock, Simba đã hỏi về vùng đất bóng đêm, và Mufasa đã cấm cậu không được bước chân tới nơi ấy. Buổi học bị dừng lại khi mà Zazu, chú chim mỏ sừng- cố vấn hầu cận của quốc vương, thông báo rằng lũ linh cẩu đã xâm nhập vào vùng đất Pride Lands. Mufasa lệnh cho Zazu đưa Simba về nhà trong khi ngài đánh đuổi quân địch. Sau ngày hôm ấy, Scar đã rỉ vào tai Simba rằng vùng đất bóng đêm thực ra là vùng đất chết của loài voi. Sự tò mò của Simba được kích thích, và cậu thuyết phục cô bạn sư tử thân nhất của mình, Nala, đi cùng cậu. Sarabi đã cử Zazu đi trông chừng hai chú sư tử con, nhưng họ nhanh chóng bỏ Zazu ở lại phía sau. Cả hai cuối cùng cũng tới được vùng đất chết của loài voi, nơi mà họ bắt gặp ba con linh cẩu đốm: Shenzi, Banzai và Ed. Lũ linh cẩu đuổi theo sau hai chú sư tử, nhưng rồi Mufasa đã cứu chúng. Mufasa lệnh cho Nala và Zazu về Pride Rock trước rồi khiển trách Simba, và dạy cho cậu về những ngôi sao. Simba học được rằng, những ngôi sao này tượng trưng cho những vị vua vĩ đại quá cố, và họ chính là những người sẽ ở bên và che chở cho cậu. Trong khi ấy, Scar đã bày mưa câu kết với lũ linh cẩu để có thể tiếp quản Pride Rock từ tay Mufasa. Theo như yêu cầu của Scar, lũ linh cẩu đã chạy tán loạn, đuổi theo Simba vào một hẻm núi khiến Simba phải chạy trốn. Mufasa sau khi biết được tình trạng nguy hiểm của Simba đã tới cứu. Tuy nhiên, khi mà Mufasa đang cố thoát thân bằng cách trèo lên bức vách, thì Scar đã khiến Mufasa rơi xuống hẻm đá hòng giết chết Mufasa. Scar lừa Simba khiến cậu tin rằng cái chết của Mufasa là hậu quả từ sự bất cẩn của cậu. Tủi hổ, Simba chạy trốn khỏi Pride Rock, và định không bao giờ quay trở lại. Sau cái chết của Mufasa cùng với sự vắng mặt của Simba, Scar đã trở thành người thừa kế hợp pháp và trở thành vị vua mới. Simba vô cùng đau khổ với cái chết của người cha Mufasa và sự nhẫn tâm của người chú Scar. Simba gục ngã xuống một vùng hoang mạc sau cuộc trốn chạy, may mắn thay cậu được Timon và Pumbaa, một chú chồn và một chú lợn rừng cứu. Bộ đôi này đã giúp cậu hồi phục sức khỏe và nhận nuôi cậu, dạy cậu về phương châm sống của họ, “Hakuna Matata” (có nghĩa là “Đừng lo nghĩ gì hết”). Một thời gian sau, Simba cứu Timon và Pumbaa khỏi một con sư tử cái đang đói, và rồi nhận ra tên cô chính là Nala. Simba được Nala cho biết sự vô trách nhiệm của Scar với tư cách là một vị Vua của Pride Rock và hắn đã gây ra sự hỗn loạn của cư dân. Vẫn cảm thấy có lỗi với hương hồn Mufasa, Simba từ chối quay về. Rafiki, một ông khỉ đầu chó khôn ngoan đã theo dõi và bắt kịp Simba, ông triệu hồi linh hồn của Mufasa cho Simba. Linh hồn của vị vua này đã bảo với Simba rằng cậu phải quay về Pride Rock và trở thành vua; Simba vẫn không nghe theo, nhưng rồi Mufasa đã nói cậu phải nhớ là cậu là con trai của ông, Mufasa và cậu mới chính là vị vua thực sự. Simba quay về Pride Rock cùng với Nala, Timon và Pumbaa, những người ủng hộ và đứng về phía cậu để chiến đấu. Trong khi Timon và Pumbaa làm sao lãng lũ canh gác linh cẩu, Simba đã đối đầu với Scar trên mỏm đá Pride Rock. Scar khiến Simba đâm vào phiến đá hiểm để tiêu diệt cậu, và rỉ vào tai cậu rằng chính cậu là kẻ đã giết chết vua Mufasa. Nổi giận lôi đình, Simba nhảy ra phía sau rồi ghìm chặt Scar lại, buộc ông chú của mình thú nhận sự thực với những con sư tử khác. Một trận chiến sinh tử cam go giữa lũ linh cẩu và sư tử trong khi Simba một mình đấu trọi lại với Scar tại đỉnh của mỏm đá. Scar cầu xin Simba sự tha thứ, đổ lỗi cho lũ linh cẩu đã lên kế hoạch mọi chuyện. Mặc dù Simba đã tha cho Scar, những con sử tử lại tiếp tục tấn công, và sau đó Simba ném Scar xuống vách đá. Scar sống sót sau cú ngã, nhưng bị lũ linh cẩu tấn công và giết chết sau khi nghe thấy ý đồ phản bội của Scar. Sau khi Scar cùng lũ linh cẩu biến mất cùng với biển lửa, Simba nhận được sự đón chào của Sarabi và Nala. Simba rảo bước trên mỏm đá Pride Rock và nhớ về hình bóng Mufasa, linh hồn ông chợt hiện lên mờ ảo trên những đám mây, và sau đó Simba nghe thấy tiếng gầm uy nghiêm từ nơi những con sử tử. Một thời gian sau, mỏm đá Pride Rock khôi phục lại thanh thế cũng sự nguy nga của mình, và Simba hạnh phúc nhìn xuống vương quốc cùng với Nala, Timon, Pumbaa bên cạnh; và ông khỉ Rafiki lại giơ cao cô sư tử con mới chào đời của Simba và Nala cho cư dân vùng đất Pride Lands cùng chứng kiến. Sản xuất Xây dựng cốt truyện: Ý tưởng cho The Lion King nảy ra từ cuối năm 1988 trong cuộc nói chuyện giữa Jeffrey và Katzenberg, Roy E.Disney, và Peter Schneider trên một chuyến bay tới Châu Âu để xây dựng bộ phim Oliver and Company. Trong suốt cuộc nói chuyện, chủ đề về Châu Phi hiện ra, và Katzenberg lập tức nảy ra ý tưởng. Katzenberg quyết định thêm vào yếu tố bao gồm những chuyện liên quan tới thế hệ và cái chết, những ý tưởng từ kinh nghiệm sống của bản thân, ví dụ như những khó khăn trên con đường chính trị của ông, ông nói “Nó làm tôi nhớ tới bản thân mình”. Tháng 11 cùng năm ấy, cốt truyện ban đầu, với cảm hứng được lấy trong vở kịch Hamlet, đã được sáng tác bởi Thomas Disch (tác giả của The Brave Little Toaster) với tựa đề “King of the Kalahari” ra đời cuối năm 1988. Nhưng do tác phẩm được thuê viết, Disch đã không nhận được bản quyền hay tiền hoa hồng. Năm sau đó, nhà viết kịch bản của Beauty and the Beast, Linda Woolverton đã phác thảo kịch bản bộ phim The Lion King, với tựa đề ban đầu là King of the Beasts và sau đó là King of the Jungle. Tuy nhiên, nội dung khi ấy trọng tâm là xoay quanh cuộc đấu đá giữa những con sư tử và lũ khỉ đầu chó với thủ lĩnh của lũ khỉ là Scar, Rafiki thì là một con báo geepa. Đạo diễn phim Oliver and Company, George Scribner, đã trở thành đạo diễn đầu tiên của The Lion King, cùng với đó là sự tham gia của Roger Allers với tư cách cũng là đạo diễn vào năm 1991. Sau sáu tháng xây dựng cốt truyện, Scribner đã từ chức đạo diễn do bất đồng quan điểm với Allers, Scribner muốn hướng tới làm một bộ phim tài liệu hơn là lấy bổi cảnh thiên nhiên và không chấp nhận việc để bộ phim theo thiên hướng nhạc kịch. Allers và phó đạo diễn Rob Minkoff, nhà sản xuất phim Beauty and the Beast cùng những đạo diễn Don Hahn, Kirk Wise và Gary Trousdale đã hợp tác trong hai cuộc họp bàn đáng giá về việc hoàn thiện cốt truyện, duyệt lại với nhân vật chính là Simba và viết lại nửa còn lại của câu chuyện. Suốt mùa hè năm 1992, đội ngũ sản xuất phim bao gồm nhà viết kịch bản Irene Mecchi, cùng với một nhà viết kịch khác, Jinathan Roberts, cùng nhau hợp tác một vài tháng sau ấy. Mecchi cùng Roberts đã chịu trách nhiệm tiến hành duyệt lại nội dung, sửa chữa lại những chi tiết liên quan tới cảm xúc chưa ổn trông bản thảo và thêm vào đó những diễn biến hình ảnh hài hước của Pumbaa, Timon và ông khỉ đầu chó. Quá trình hoạt họa: Mười ba giám sát hoạt họa viên, từ cả California và Florida, đã chịu trách nhiệm gây dựng tính cách và lồng tiếng cho những nhân vật chính. Những người diễn hoạt cho những nhân vật chính gồm có Mark Henn trong vai Simba lúc còn nhỏ, Ruben A. Aquino trong vai Simba trưởng thành, Andreas Deja trong vai Scar, Aaron Blaise trong vai Nala lúc còn nhỏ, Anthony Derosa trong vai Nala trưởng thành, và Tony Fucile trong vai Mufasa. Trong gần 20 phút phim, bao gồm cả cảnh nhạc kịch với bài hát “I Just Can’t Wait To Be King”, đã được thực hiện bởi kĩ thuật của Disney-MGM Studios. Sau ấy, hơn 600 họa sĩ, hoạt họa viên cùng những nhà chuyên môn đã cộng tác để gây dựng lên bộ phim The Lion King trong suốt quá trình sản xuất. Những hoạt họa viên đã dựa vào cuộc sống tự nhiên của những loài động vật để vẽ một cách sinh động, cũng như cách họ đã làm trong Bambi, bộ phim được Disney sản xuất năm 1942. Jim Fowler, một chuyên gia về động vật hoang dã có tiếng, đã ghé thăm studio trong một vài dịp cùng với sự có mặt của sư tử và những loài vật nơi rừng rậm để cùng thảo luận về hành vi, cách cư xử của chúng để giúp gây cảm hứng cho những hoạt họa viên. Trong suốt thời gian thực hiện trước đây vào năm 1991, một vài đội ngũ chỉ đạo bao gồm những đạo diễn, nhà sản xuất, chỉ đạo xây dựng tình tiết chuyện Brenda Chapman, và nhà thiết kế Chris Sanders, đã có một chuyến ghé thăm Công viên quốc gia Hell’s Gate tại Kenya để học hỏi và tiến tới những nhận định đúng để xây dựng bối cảnh thiên nhiên cho bộ phim. Vùng đất Pride Lands trong bộ phim chính là được mô phỏng theo công viên này. Sự tiện ích của việc sử dụng máy tính đã giúp những người làm phim nâng cao trí tưởng tượng và óc sáng tạo. Sự tiện lợi đáng kể trong việc sử dụng hoạt họa vi tính là những cảnh “chạy hỗn loạn của đàn linh dương”. Một vài những hình ảnh như vậy đã được tạo ra bằng phần mềm vi tính 3D và được nhân lên thành hàng trăm bản, tạo bóng như những nét vẽ hoạt họa, cùng những vách núi đá với nét vẽ tự nhiên dựa trên những đặc điểm của thiên nhiên và những chuyển động không thể đoán trước được. Năm hoạt họa và kĩ thuật viên được đào tạo chuyên nghiệp đã dành hơn hai năm để tạo ra hai phút rưỡi cảnh phim những đàn thú chuyển động như vậy. Trong suốt quá trình sản xuất The Lion King, hầu hết những người trong hãng sản xuất Disnney Feature Animation và quản lí chỉ đạo của studio, Jeffrey Katzenberg đã cho rằng The Lion King sẽ kém cạnh hơn so với Pocahontas, bộ phim cũng do studio sản xuất trong thời điểm này. Hầu hết mọi người đều hứng thú cộng tác làm Pocahontas hơn, và cho rằng nó sẽ đem lại tiếng tăm và thành công hơn cả. Còn những người khác đã nhiệt tình hưởng ứng với trailer (đoạn giới thiệu phim) của The Lion King, bao gồm cả cảnh mở đầu độc nhất vô nhị với bài hát “Circle of Life”, và hứa hẹn là bộ phim sẽ thành công rực rỡ. Dù cho cả hai bộ phim đều có những thành công nhất định, thì The Lion King vẫn nhận được những phản hồi tích cực và thu về lợi nhuận nhiều hơn hẳn Pocahontas. Những nhân vật: Theo từ phải sang trái: Shenzi, Scar, Ed, Banzai, Rafiki, Mufasa, Simba, Nala, Sarabi, Zazu, Sarafina, Timon và Pumbaa. Simba (do Matthew Broderrick lồng tiếng khi trưởng thành và Jinathan Taylor Thomas lồng tiếng khi còn nhỏ), là nhân vật chính của bộ phim, cậu là con trai của Mufasa và Scarabi và cũng là bạn của Nala. Sao khi phế truất người chú Scar, cậu đã trở thành Vua. Scar (do Jeremy Irons lồng tiếng), là nhân vật phản diện chính, người anh em đầy mưu mô và là người chú ghen ghét đố kị của Simba với tham vọng chiếm lấy ngôi vị. Scar, cùng với sự giúp đỡ của lũ linh cẩu, đã giết chết người anh em trai trong một cuộc trốn chạy hỗn loạn. Sau khi thất bại trước Simba, Scar bị lũ linh cẩu giết sống khi chúng phát hiện ra hắn phản bội sau lưng. Mufasa (do James Earl Jones lồng tiếng) là vị Vua của vùng đất Pride Lands trong phần mở đầu của câu chuyện và cũng là chồng của Sarabi, người cha của Simba và người anh em của Scar. Ông bị Scar giết hại sau khi bị rơi xuốn vách đá và bị dẫm chết bởi đàn linh dương đang phi chạy sau khi giải cứu thành công Simba. Sau này, linh hồn Mufasa hiện về và ông vẫn sống mãi trong trái tim của Simba. Nala (được Moira Kelly lồng tiếng khi trưởng thành và Nikera Calame lồng tiếng khi còn nhỏ), diễn viên thứ chính của bộ phim, cô là bạn tử nhỏ và cũng là người bạn đời của Simba khi cậu trưởng thành. Cô trở thành nữ hoàng của vùng đất Pride Lands khi Simba lên ngôi Vua. Timon và Pumbaa (được Nathan Lane và Ernie Sabella tương ứng lồng tiếng) là hai nhân vật phụ trong bộ phim thuộc họ nhà chồn và lợn rừng, là những người đã gây ảnh hưởng vào Simba triết lý sống "Hakuna Matata". Họ trở thành những người bạn mới của Simba sau khi cứu cậu trên sa mạc trong suốt thời gian cậu dằn vặt mà chạy trốn khỏi vùng đất Pride Lands. Rafiki (được Robert Guilaume lồng tiếng) là một ông khỉ đầu chó già vô cùng tinh khôn, ông là người chịu trách nhiệm giương cao vị hoàng tử mới của vùng đất Pride Lands cho tất cả mọi người cùng chứng kiến. Zazu (được Rowan Atkinson lồng tiếng) là một chú chim mỏ sừng phục vụ cho Mufasa với tư cách là một quản gia. Shenzi, Banzai và Ed (được Whoopi Goldberg, Cheech Marin và Jim Cummings tương ứng lồng tiếng), là bộ ba linh cẩu – tay sai của Scar. Chúng là những nhân vật phản diện vai phụ trong bộ phim. Sarabi (được Madge Sinclair lồng tiếng) là nữ hoàng của vùng đất Pride Lands, người vợ của Mufasa, người mẹ của Simba và cũng là người dẫn đầu đoàn săn của nhóm sư tử cái. Sarafina (được Zoe Leader lồng tiếng) là một bà sư tử cái khác tại Pride Rock và là mẹ của Nala, bà xuất hiện thoáng qua ở cuối bộ phim. Tên bà chỉ xuất hiện và được biết trong bảng credit ở cuối phim. Bà nói đúng một câu và chỉ xuất hiện có hai lần. Âm nhạc Nhà thơ trữ tình Tim Rice, người hợp tác với nhà soạn nhạc Alan Menken để sáng tác những bài hát trong phim Aladdin, đã được mời viết lời bài hát trong bộ phim The Lion King. Ông đồng ý với điều kiện có thêm một nhà soạn nhạc có thể hợp tác với ông. Do Menken không thể cùng làm việc và Benny Anderson từ chối lời mời của Rice vì bận bịu cho vở nhạc kịch Kristina från Duvemåla, những nhà sản xuất đã đồng ý đề nghị của Rice, đó là mời Elton John. John tỏ ra rất có hứng thú với việc sáng tác những “bài hát nhạc pop vui nhộn trẻ con ưa thích; và người lớn có thể xem những thể loại thế này với sự hài lòng và thích thú”. Ông đã đưa ra tính khả thi qua The Jungle Book, bộ phim khiến ông cho rằng “âm nhạc thật vui nhộn, nó có thể thu hút được cả trẻ con và người lớn”. Elton John và Tim Rice, cùng với nhau, họ đã sáng tác năm ca khúc làm nhạc phim, bao gồm cả bài hát “Can You Fell the Love Tonight” do Elton John biểu diễn trong phần cuối ghi credit của phim The Lion King. Những đoạn hợp xướng của phim đã được Hans Zimmer sáng tác và kết hợp thêm với phong cách nhạc truyền thống của Châu Phi, sau đó được Lebo điều chỉnh hòa âm cho phù hợp. Nhạc Phim Dưới đây là thứ tự nhạc phim tương ứng với sự xuất hiện. “Circle of Life”, do Carmen Twillie, Lebo M với chất giọng Phi cùng dàn họp xướng châu Phi thể hiện. Bài hát được vang lên trong suốt lẽ đăng quang của hoàng tử Simba cùng với sự chứng kiến của muôn loài tại vùng đất Pride Lands. "I Just Can't Wait to be King": bài hát được những diễn viên lồng tiếng cho nhân vật Simba, Nala lúc còn nhỏ và Zazu thể hiện. Nhân vật Simba đã hát vang bài ca này để làm rối trí Zazu, nhằm để cậu cùng Nala có thể lén đi vào vùng đất Elephant Graveyard, bài ca thể hiện ước muốn nhanh chóng trở thành Vua của cậu. “Be Prepared”: Bài hát được các diễn viên lồng tiếng cho Scar, Shenzi, Banzai và Ed thể hiện. Trong bài hát này, Scar đã bày mưu tính kế đánh bại Mufasa và Simba với lũ linh cậu, cùng với đó là những ý định của hắn khi trở thành vua. “Hakuna Matana”: bài hát này được diễn viên lồng tiếng cho Timon, Pumbaa và Simba (cả cho Simba lớn và nhỏ) thể hiện. Timon và Pumbaa đã hát vang bài ca này như là một lời đón chào nồng nhệt tới Simba khi cậu đến quê nhà nơi rừng rậm của họ, cùng với đó là thể hiện chủ nghĩa “Không việc gì phải lo lắng hay buồn bã”. "Can You Feel the Love Tonight": đây là bài hát trữ tình được Kristle Edwards, cùng diễn viên lồng tiếng cho Timon, Pumbaa, Simba và Nala khi trưởng thành thể hiện. Cảnh nhạc kịch này nói về sự thất bại của Timon và Pumbaa trong việc xen vào câu chuyện tình yêu của Simba, cùng với đó sự tiến triển của mối quan hệ lãng mạn giữa Simba và Nala. Bài hát này đã nhận được giải thưởng Oscar của Viện Hàn Lâm cho “Ca khúc hay nhất” lần thứ 67. Ngày ra, dưới đây là ca khúc không xuất hiện trong phiên bản gốc của bộ phim. Ca khúc này được thêm vào trong bản IMAX và được hãng Platinum Edition phát hành. "The Morning Report”: bài hát này không xuất hiện trong phiên bản gốc của bộ phim (nó được sáng tác cho phiên bản nhạc kịch công chiếu trực tiếp) và được thêm vào cùng với một cảnh phim kèm theo trong bản phát hành video của hãng Platinum Edition năm 2003. Bài hát được diễn viên lồng tiếng cho Zazu, Mufasa và Simba khi còn nhỏ thể hiện, ca khúc này xuất hiện trong một cảnh phim được phát triển thêm từ bản gốc của 1994 khi mà Zazu đưa tin báo sáng tới Mufasa, và sau đó cậu bị Simba nhảy bổ lên. Những ca khúc khác: Những bài hát dưới đây cũng xuất hiện trong bộ phim nhưng không được đưa vào trong danh sách nhạc phim: Những ca khúc do nhân vật Zazu thể hiện vói nỗi lòng của mình: "Nobody Knows the Trouble I've Seen" - A spirtual. "It's a Small World" – Được Richard vàRobert Sherman sáng tác. "I've Got a Lovely Bunch of Coconuts" – Được Fred Heatherton sáng tác. Những bài hát được Timon và Pumbaa thể hiện: "The Lion Sleeps Tonight" – Được sáng tác bởi Solomon Linda, Hugo Peretti, Luigi Creatore, George David Weiss, và Albert Stanton. "Hawaiian War Chant (Tahuwa-Huwai)" – Một giai điệu độc đáo được Prince Leleiohoku II sáng tác. Nhạc phim và những bản album khác: Bản sountrack gốc của bộ phim được phát hành 13/7/1994. Vò ngày 28/2/1995, hãng Disney tung ra một album với tựa đề Rhythm of the Pride Lands (Giai điệu vùng đất Pride Lands), là phần tiếp của bản soundtrack gốc; album với những ca khúc và màn trình diễn đặc sắc lấy cảm hứng từ chính những nhạc phim gốc này. Những bài hát trong album chưa được xuất hiện trong phim và hầu hết được sáng tác bởi nhà soạn nhạc Lebo M, và chủ yếu lấy cảm hứng về miền đất châu Phi từ những bài hát nhạc phim chính. Gần như tất cả những ca khúc được thể hiện một phần hay toàn bộ theo tiếng các vùng khác nhau của người châu Phi. Một vài ca khúc tiêu biểu được đưa vào trong album sau ấy đã xuất hiện trong những phiên bản khác của The Lion King-oriented, như trong những cảnh nhạc kịch và những bản video phần tiếp đó. Một vài ví dụ như bài hát “Lea Halalela” trở thành nhạc nền cho cảnh phim “Shadowland”tại rạp Broadway; và sau đó là sự xuất hiện của ca khúc "Warthog Rhapsody" còn có tên là "That's All I Need" trong bộ phim The Lion King 1½. Album nhạc Rhythm of the Pride Lands phát hành với số lượng vô cùng hạn chế. Tuy nhiên, album này được phát hành tiếp vào năm 2003, bao gồm những phiên bản phổ thông của các ca khúc nhạc phim đặc sắc cùng với bài hát kèm theo, “The morning Report”. Phát hành Các rạp chiếu phim: Tính tới tháng 7 năm 2012, The Lion King đã thu về 422,783,777$ tại Bắc Mỹ và 528,800,000$ tại những khu vực khác và tổng cộng lên tới con số 951,583,777$ toàn cầu. Đây là bộ phim hoạt hình có doanh thu đứng thứ hai từ trước tới nay trên khắp thế giới và đứng thứ nhất của hãng sản xuất Walt Disney Animation Studios. Đây còn là bộ phim thu về lợi nhuận cao nhất của năm 1994. The Lion King chiếm giữ kỷ lục là bộ phim hoạt hình có doanh thu đứng đầu (tại Bắc Mỹ và thế giới) cho tới năm 2003 sau khi bị bộ phim hoạt hình Finding Nemo vượt qua. Tuy nhiên, cho tới năm 2011, The Lion King lấy lại vị trí dẫn đầu của mình với danh hiệu bộ phim hoạt hình có doanh thu lớn nhất và bộ phim hoạt hình hay nhất trong 50 năm qua trong buổi liên hoan phim thường kỳ. Tại Bắc Mỹ: Vào ngày 15/6/1994, ban đầu còn rất hạn chế, nhưng tới 24/6/1994 bộ phim đã được công chiếu rộng rãi. Trong suốt những ngày cuối tuần, từ 17-19 tháng 6, chỉ có hai rạp chiếu nhưng đã thu về 1,586,753$ với trung bình 779,337$ mỗi rạp. Đây là doanh thu trung bình cao nhất chưa bao giờ một rạp chiếu phim đạt được dù cho là trong ngày cuối tuần. Cho tới mùa xuân 1995, các rạp đã thu về $312,855,561 và trở thành bộ phim có doanh thu cao thứ hai năm 1994 tại Bắc Mỹ chỉ sau Forrest Gump. Và cũng trong năm này, tổng doanh thu trên khắp thế giới lên tới 772.6 triệu đô và chiếm hạng nhất của năm. Bộ phim được tái công chiếu vào 1/1/2002 bởi IMAX và những rạp lớn (thu về $15,686,215) . Vào năm 2011 với phiên bản 3D Disney đã thu về $94,242,001 và tổng cộng lên tới $422,739,465 tính đến nay. Hiện tại, đây là bộ phim hoạt hình có doanh thu cao thứ ba ở Bắc Mỹ và là bộ phim có doanh thu lớn thứ 12 tại đây. Phiên bản 3D Trong suốt tuần đầu tiên công chiếu phiên bản 3D của bộ phim, The Lion King đã thu về khoảng 29.3 triệu đô và đánh gục tất cả những siêu phẩm mới khác, mà trước đó chỉ định lượng thu về 15 triệu đô. Trong các phim tái công chiếu, The Lion King là bộ phim đầu tiên chiếm giữ thứ hạng 1 trong tất cả các rạp kể từ sự kiện tháng ba năm 1997 của phim Star Wars: Episode VI - Return of the Jedi. Trong suốt những ngày cuối tuần thứ hai, bộ phim vẫn giữ vị trí đầu bảng tại các rạp với doanh thu giảm 27% so với con số 21.9$. “Bởi sự thành công ngoài mong đợi, Disney quyết định kéo dài thời gian công chiếu hơn con số hai tuần so với dự kiến ban đầu của studio”, Dave hollis- giám đốc phân phối của Disney đã có những lời phát biểu như vậy dù cho chưa quyết định sẽ tiếp tục trong bao lâu sau sự kiện phát hành bản Blu-ray tháng 10 năm 2011. Phản hồi The Lion King nhận được những lời ngợi ca tại Rotten Tomatoes dựa trên 94 phản hồi tiêu biểu thu thập một cách ngẫu nhiên, và có rating được cho biết lên tới 89% cùng với mức độ đánh giá là 8.2/10. Tại buổi Cream of the Crop của Rotten Tomatoes, nơi giới báo chí, wedsite, truyền thông vô tuyến và các chương trình radio đưa ra những phản hồi mang tầm cỡ, rating của bộ phim đã nâng lên con số 93%. Bằng sự so sánh, Metacritic, chương trình đánh giá mức độ rating từ 0-100 cho giới truyền thông từ những phản hồi tiêu biểu, đã tính toán rating trung bình của bộ phim là 83% sau một cuộc thu thập ngẫu nhiên 14 phản hồi. Nhà phê bình phim của Chicago Sun –Times, Roger Ebert đã lên tiếng rằng bộ phim này “thật sự là một bộ phim hoạt họa kinh điển”; và trong những dòng bình luận của ông được đăng lên, ông viết: “Chiến công lừng lẫy của Simba cùng những nền tảng gây dựng nên nó nhờ dựa vào bi kịch của người Hi Lạp và vở kịch Hamlet đã được biến thành một bộ phim hay tới vậy”. Trên chương trình tivi At the Movies, bộ phim tuy được đánh giá cao nhưng lại nhận những ý kiến khác nhau khi bị so sánh với những bộ phim trước kia của Disney. Cả Gene Siskel và Roger Ebert đều tán thành đây là bộ phim xuất sắc, tuy nhiên Siskel cho rằng bộ phim không hay bằng những tác phẩm trước kia như “Beauty and the Beast” và đây không hẳn là bộ phim tuyệt vời nhất. Hal Hinson bên phía Bưu báo Washington đã nhận định bộ phim này “ấn tượng và đã thực sự thành công” và cho rằng đây là một cú nhảy ngoạn mục cho phim hoạt hình suất chiếu dài của Disney, nhưng sự nhiệt tình cùng với hứng thú đã có chiều hướng giảm đi trong phần cuối bài phát biểu: “Mang giọng điệu hành văn của Shakespeare, cùng với âm hưởng của một bản thiên hùng ca mang tính sử thi thì dường như bộ phim này thích hợp với người lớn hơn là dành cho trẻ nhỏ. Thật tình mà nói dành cho người lớn thì cũng không hẳn.” Owen Gleiberman, nhà phê bình phim ảnh của Tạp chí hằng tuần Entertainment Weekly, hết lời ca ngợi bộ phim và viết rằng “bộ phim có gây được tiếng vang lớn không chỉ vì đây là bộ phim hoạt hình hấp dẫn mà còn là một bộ phim mang ý nghĩa và triết lí sâu xa”. Những người bên TV Guide viết: “Bộ phim đã đã hội tụ những kĩ thuật ngoạn mục nhất của Disney- đặc biệt là trong cảnh chạy của đàn linh dương – cùng với đó là những màn hòa âm phức tạp, nhất là kĩ thuật điêu luyện của nhà diễn hài kịch Nathan Lane bên Broadway. Tuy nhiên, cốt truyện chưa được phát triển rộng cho lắm”. Còn James Berardinelli, nhà phê bình phim cho chương trình ReelViews, đã khen tặng : “Dường như Disney mỗi lần tung ra một bộ phim là danh tiếng lại được nhân lên. The Lion Ling là bộ phim xuất sắc nhất (theo nhiều khía cạnh). Trong loạt phim ấy, rõ ràng ta thấy được nó đã đem lại sự hài lòng cho cả người lớn và trẻ nhỏ. May mắn thay, nó cuốn hút cả chúng tôi- những người không có hứng thú lắm với thể loại “hoạt hình”. Và bộ phim này đã thực sự đã thành công”. Tháng 6 năm 2008, American Film Institute đã công bố danh sách “10 Top 10” – tức 10 bộ phim hay nhất trong 10 thể loại phim quen thuộc – sau cuộc bỏ phiếu của 1500 khán giả. The Lion King được biết đến là bộ phim thuộc thể loại hoạt hình chiếm vị trí thứ tư. Giải thưởng và đề cử The Lion King đã nhận được đề cử và nhận rất nhiều giải thưởng, trong đó bao gồm giải Oscar cho “Bản phổ nhạc gốc xuất sắc nhất” (người phổ nhạc là Hans Zimmer) và giải Quả Cầu Vàng cho “Bộ phim hoạt hình suất sắc nhất”- về cả âm nhạc lẫn sự vui nhộn. Đặc biệt, ca khúc “Can You Feel the Love Tonight” được sáng tác bởi Elton John và Tim Rice đã dành được giải Oscar và giải Quả Cầu Vàng cho “Nhạc phim hay nhất”, giải BMI Film Music và giải Grammy cho “Nam diễn viên lồng tiếng xuất sắc nhất”. Chi tiết danh sách các giải thưởng: Giải Oscar: “Bản phổ nhạc gốc xuất sắc nhất” (Dành giải) “Nhạc phim hay nhất” với ca khúc “Can You Feel the Love Tonight” (Dành giải) “Nhạc phim hay sắc nhất” với ca khúc “Circle of Life” (Đề cử) “Nhạc phim hay sắc nhất” với ca khúc “Hakuna Matana” (Đề cử) Giải Quả Cầu Vàng: “Bộ phim hoạt hình xuất sắc nhất” – Về cả âm nhạc và sự vui nhộn (Dành giải) “Bản phổ nhạc gốc xuất sắc nhất” (Dành giải) “Nhạc phim hay nhất” với ca khúc “Can You Feel the Love Tonight” (Dành giải) “Nhạc phim hay sắc nhất” với ca khúc “Hakuna Matana” (Đề cử) Giải Annie “Bộ phim hoạt hình xuất sắc nhất” (Dành giải) “Giọng nam lồng tiếng xuất sắc nhất” dành cho Jeremy Irons- lồng tiếng nhân vật Scar (Dành giải) “Bộ phim thuộc lĩnh vực có cốt truyện hay nhất” (Dành giải) “Bộ phim có hoạt họa xuất sắc nhất” (Được đề cử, để thua trước The Nightmare Before Christmas_ Ác mộng trước Giáng Sinh) Giải Saturn “Bộ phim giả tưởng xuất sắc nhất” (Đề cử, để thua trước Forrest Gump.) “Diễn viên trẻ có sự thể hiện xuất sắc nhất”- dành cho Jonathan Taylor Thomas, người lồng tiếng cho Simba lúc còn nhỏ (Được đề cử, để thua trước Kirsten Dunst với bộ phim Interview with the Vampire: The Vampire Chronicles.) “Bộ phim có bản DVD được ưa thích nhất năm 2004” (Đề cử, để thua trước The Adventures of Robin Hood.) Giải British Academy “Giải BAFTA cho bộ phim có âm nhạc xuất sắc nhất” (Đề cử, để thua trước Speed.) “Giải Anthony Asquith Award cho nhạc phim hay nhất” (Đề cử, để thua trước Backbeat.) Giải BMI Film và giải truyền hình: “Giải BMI Film Music Award” cho ca khúc "Can You Feel the Love Tonight" (Dành giải) “Giải ca khúc được thể hiện hay nhất” với "Can You Feel the Love Tonight" (Dành giải) Giải Grammy: “Nam diễn viên xuất sắc nhất” cho Elton John với ca khúc "Can You Feel the Love Tonight” (Dành giải) Giải Grammy “Bài hát của năm“ cho ca khúc "Can You Feel the Love Tonight" (Được đề cử, để thua trước ca khúc "Streets of Philadelphia" trong phim Philadelphia.) “Nhạc phim hoạt hình được ưa thích nhất trên các phương tiện truyền thông” với ca khúc “Circle of Life” (Được đề cử, để thua trước ca khúc "Streets of Philadelphia" trong phim Philadelphia.) “Giải Instrumental Composition Written trên TV hay Motion Picture” (Đề cử, để thua trước Schindler’s List.) Giải MTV Movie 1995: “Nhân vật phản diện xuất sắc nhất” cho Jeremy Irons (Được đề cử, để thua trước Dennis Hopper với bộ phim Speed.) “Ca khúc nhạc phim hay nhất” cho “Can You Feel the Love Tonight” (Được đề cử, để thua trước ca khúc “Big Empty” trong bộ phim The Crow.) Giải Kid’s Choice “Bộ phim được yêu thích nhất” (Dành giải) Chương trình 1995 Masterpiece Collection bản VHS The Lion King lần đầu được phát hành dưới dạng VHS video và đĩa laser tại Mỹ vào 3/3/1995 trong series “Walt Disney Masterpiece Collection”. Ngoài ra, phiên bản chất lượng cao của cả hai loại này cũng đã được tung ra thị trường. Trong bản VHS chất lượng cao có đĩa phim, một tấm thạch in độc quyền có cả hình của Mufasa, Sarabi, Rafiki đang giữ chú sư tử mới chào đời Simba, người chú Scar (tùy từng bản); một dòng chữ “Circle of Life” được khắc lên để tưởng niệm, sáu bản thạch in, một cuộn băng khác chứa một show truyền hình dài 30 phút “The Making of The Lion King” và một con tem chống hàng giả. Bản CAV Laser cũng bao gồm đĩa phim, sáu tấm thạch in và băng The Making of The Lion King, nhưng thêm vào đó có kịch bản đồ họa, thiết kế nhân vật, tranh vẽ, phần animation thô, và lời dẫn giải của đạo diễn phim mà phiên bản VHS không có, tất cả bao gồm 4 đĩa có cả hai mặt. Đĩa DVD Bạch Kim (2003) 7/10/2003, bộ phim lần đầu tiên được phát hành dưới dạng đĩa DVD với tiêu đề The Lion King: Special Edition, và trở thành bộ phim tiếp theo góp mặt vào loạt phim hoạt hình có dạng đĩa DVD Bạch Kim của Disney. Loạt đĩa DVD đầu tiên bao gồm hai phiên bản, một phiên bản chính hãng được làm mới từ bản năm 2002 do IMAX phát hành và một phiên bản được IMAX chỉnh sửa và bổ sung từ bản gốc năm 1994. Loạt đĩa DVD thứ hai, cùng với những hình ảnh được thêm vào cũng đã được tung ra. Nhạc phim được đưa vào cả trong Dolby 5.1 và bản Disney Home Theater Mix, khiến cho đây trở thành một trong những bản DVD đầu tiên của Disney được đầu tư kỹ tới vậy. Với tính liên tục của các cảnh, người xem có thể thưởng thức có hoặc không các cảnh được thêm mới một cách tùy ý – như đoạn nói chuyện trong bộ phim đã được thay thế bằng một bài hát (“The Morning Report”). Một món quà đặc biệt “A Special Collector's Gift Set” cũng được đưa vào bộ DVD và phát hành cùng 5 miếng thạch bản độc quyền in chân chung hình các nhân vật (các bức phác họa được những người gây dựng nhân vật vẽ và kí) cùng với một cuốn sách giới thiệu mang tựa đề The Journey. Bản DVD Bạch Kim của The Lion King đã từng bị những người hâm mộ lên tiếng chỉ trích vì những tin quảng bá sai sự thật, nhà sản xuất Don Hahn ban đầu tuyên bố bộ phim được thực hiên y nguyên bản gốc năm 1994 mà không chỉnh sửa gì, nhưng sau khi được phát hành thì đây lại là bản “nâng cấp” của IMAX – khác biệt hoàn toàn so với bản gốc. Một trong những điểm nhận dạng rõ rệt là những con cá sấu đã được phác họa lại trong cảnh nhạc kịch “I Just Can't Wait to Be King". Bất chấp những lời chỉ trích, hơn hai triệu bản DVD Bạch Kim vẫn được bán ra trong ngày phát hành đầu tiên. Một bộ DVD bao gồm ba phần phim The Lion King (bản đặc biệt) đã lên kệ 6/12/2004. Bộ phim cùng hai phần tiếp theo đã cháy hàng và được phát hành tiếp vào tháng Một năm 2005 và vẫn bán rất chạy. Bản Diamond Blu-ray (2011) và DVD Combo Pack The Walt Disney Company thông báo bộ phim The Lion King sẽ được tái công chiếu với bản 3D vào 16/9/2011 trong hai tuần và chỉ thông báo trên trang wed của Disney. Disney còn công bố bản Diamond của The Lion King sẽ được tung ra 4/10/2011. Tất cả gồm 4 đĩa bao gồm bản Blu-ray 3D, Blu-ray 2D, DVD và bản “Digital Copy" của bộ phim. Để hưởng ứng, sountrack của phim cũng đã được phát hành, với tiêu đề Best of The Lion King. Tiếp nối với Diamond, phiên bản DVD 1-Disc của The Lion King được lên kệ 15/11/2011. Và sau cùng, bản Diamond đã chiếm vị đầu bảng xếp hạng Bru-ray với 1.5 triệu bản được bán hết. Sự đón nhận Cốt truyện The Lion King được cho là bộ phim hoạt hình đầu tiên dựa trên một cốt truyện nguyên bản, hơn là dựa trên một câu chuyện có thực. Những người làm phim phát biểu cốt truyện của The Lion King lấy cảm hứng từ những câu chuyện Kinh thánh của Joseph và Moes và Hamlet của William Shakespeare. Tuy nhiên, những yếu tố của bộ phim này có nét gì đó tương đồng với series anime đình đám, Kimba the White Lion. Một trong số đó là sự giống nhau giữa tên nhân vật chính: Kimba và Simba, dù cho “simba” có nghĩa là sư tử theo tiếng Swahili. Rất nhiều nhân vật trong bộ phim Kimba the White Lion có điểm tương đồng với các nhân vật trong The Lion King, cùng với đó là những cảnh và góc quay giống nhau. Matthew Broderick, người lồng tiếng cho nhân vật Simba, ban đầu cũng đinh ninh mình đang thực hiện một phiên bản khác của Kimba vậy, bởi lẽ bản thân anh cũng không xa lạ gì với bộ phim này. Ban đầu nhà sản xuất bản DVD Bạch Kim thậm chí còn cho thêm hình ảnh của một chú sư tử trắng. Trong khi ấy thì tất cả những người thực hiện bên phía Disney đều cho rằng đó chỉ là sự ngẫu nhiên. Yoshihiro Shimizu bên Hãng Tezuka, nhà sản xuất bộ phim Kimba the White Lion, đã bác bỏ tin đồn studio của mình được Disney ngầm trả một khoản tiền nhưng rồi giải thích rằng họ không muốn khởi xướng việc kiện tụng bởi vì “Chúng tôi là một công ty nhỏ bé cũng như không có vị thế. Chuyện này chẳng đáng chút nào. Và dù sao… bên Disney có những luật sư đứng hàng top 20 của thế giới!”. Christopher Vogler, trong cuốn sách tạp chí của mình: “The Writer's Journey: Mythic Structure for Writers” đã nói đến lời đề nghị của Disney về việc nhờ ông lên ý tưởng phát triển cốt truyện The Lion King với nền tảng từ vở kịch Hamlet. Một điều nữa đã được tiết lộ, đó là cốt truyện The Lion King có chút gì đó tương đồng với tác phẩm African Epic of Sundiata. Đây có phải là thông điệp? Trong cảnh phim Simba bị ngã xuống cánh đồng cỏ của bản gốc đĩa VHS và Laser, từ “SEX” được cho là xuất hiện trên những bông hoa và những chiếc lá đang bay phất phơ trên bầu trời. Nhà xã hội học Donald Wildmon cũng nhận định đây là một thông điệp đã khêu gợi những vấn đề nhạy cảm. Những người thực hiện bộ phim hoạt hình The Lion King khẳng định đó là từ “SFX” (viết tắt của cụm “Special effects”_ Hiệu ứng đặc biệt); và đây chỉ là một “ký hiệu” hết sức vô tư, không có ý nghĩa gì quá sâu sắc mà đoàn làm phim đã thêm vào. Cuối cùng do những cuộc tranh luận diễn ra, cảnh phim này đã được chỉnh sửa trong bản DVD 2003 và bản VHS khi phát hành, cùng với đó không còn xuất hiện chữ nào trên những cánh hoa và những chiếc lá nữa. Ca khúc “The Lion Sleeps Tonight" Cách sử dụng ca khúc “The Lion Sleeps Tonight" mà đã được vang lên trong cảnh phim có sự xuất hiện của Timon và Pumbaa đã gây ra cuộc tranh cãi giữa bên Disney và Solomon Linda, một gia đình soạn nhạc có truyền thống lâu đời sống tại Bắc Mỹ. Ca khúc này được Solomon Linda sáng tác năm 1939, với cái tên ban đầu là “Mbube”. Tháng bảy năm 2004, Solomon Linda chấp nhận yêu cầu Disney với 1.6 triệu đô. Tháng hai năm 2006, người kế nhiệm tiếp theo của gia tộc Solomon Linda đã có sự hòa giải hợp pháp với Abilene Music và chuyển nhượng bản quyền bài hát cho Disney với một khoản tiền không rõ. Hãng Hamas Tháng 8 năm 2007, hãng Hamas sản xuất một bộ phim hoạt hình khá giống với cốt truyện của The Lion King. Phim hoạt hình này phát sóng trên kênh truyền hình riêng của hãng sản xuất, Al-Aquasa TV. Câu chuyện kể về một chú sư tử đang săn đuổi những con chuột và gây ra sự phiền phức cho đàn sư tử lớn mạnh Fatah vùng Gaza. Chương trình này được phát sóng trong một thời gian ngắn nhưng rồi bị trì hoãn vì cần phải chỉnh sửa lại. Hình ảnh lũ linh cẩu: Những họa sĩ của Disney studios đã mất hai ngày quan sát và phác họa chú linh cẩu đốm bị bắt giữ tại Field Station để phục vụ cho việc nghiên cứu hành động cử chỉ của chúng trên các gò phía trên khu sân bãi của Đại học California tại Berkeley. Tiến sĩ Laurence Frank, cùng với những nhà khoa học tổ chức chuyến đi này đã khẳng định rằng có thể tạo ra hình ảnh những chú linh cẩu sống động cho bộ phim The Lion King. Những họa sĩ cũng phát biểu rằng họ sẽ cố hết sức để xây dựng cho hình ảnh những chú linh cẩu trở nên hài hước và dí dỏm hơn là chỉ toát lên sự xấu xa của vai phản diện. Và rồi kết quả trong việc xây dựng hình ảnh linh cẩu không khiến những nhà nghiên cứu thực sự hài lòng: một nhà nghiên cứu linh cẩu đã kiện Disney studios vì đã làm giảm giá trị nhân vật; và trong những dòng kết luận được đưa ra về con linh cẩu đốm trong tờ báo African Geographic vào tháng 5 năm 2006, Tiến sĩ Frank đã lên án tẩy chay bộ phim The Lion King như một cách để ông bảo vệ loài linh cẩu sống hoang dã. Nhà nghiên cứu linh cẩu Stephen Glickman đã có những dòng viết: “Trong chất văn của Hemingway cũng như trong tác phẩm The Lion King đều xuất hiện những cảnh phàm ăn hay những tình huống dở khóc dở cười, mà tất cả chúng đã được miêu tả một cách thật sinh động và vui nhộn. Sự hài hước đó đạt tới mức độ “đỉnh điểm” với hình ảnh chú linh cẩu Ed tự ăn chính mình- một hình ảnh ta có thể bắt gặp trong tác phẩm Green Hills of Africa của Hemingway và trong trò chơi điện tử của Mỹ mô phỏng theo bộ phim”. Những nhà phê bình phim ảnh cũng những nhà phân tích về văn hóa lại bắt đầu lên tiếng. Một trong số họ đã nhìn chân dung lũ linh cẩu được xây dựng với con mắt khinh thường; và biểu lộ thái độ muốn gìn giữ nền văn hóa bảo thủ bằng những lý lẽ với nội dung chế giễu người châu Phi (biểu tượng là Shenzi) và người Mỹ La-tinh (biểu tượng là Banzai), trong khi ấy những lời lẽ dành cho những nguời gốc Mỹ và Anh thì hoàn toàn khác biệt, điều này càng thể hiện rõ ràng sự phân biệt chủng tộc. Nhà phân tích điện ảnh Matt Roth thì cho rằng bộ phim này như là “một sự nỗ lực cho những nguyên tắc đi ngược luân thường đạo lý mà họ (tức Disney) muốn hằn sâu vào tiềm thức của thế hệ mới. Những thành tựu Những phần tiếp theo cùng những ích lợi mang lại Sự thành công của bộ phim The Lion King đã mang lại những lợi ích khác, đầu tiên là thước phim 70mm được công chiếu năm 1994 với tựa đề Circle of Life: An Environmental Fable. Chương trình này đã được Walt Disney trình chiếu tại rạp Harvest Theater ở Epcot như là một hoạt động thân thiện với môi trường. Không những vậy, trong lần ra mắt năm 1995, một đoạn series truyền hình có tên The Lion King's Timon & Pumbaa với nội dung tập trung vào bộ đôi chồn – bò rừng với một cách hài hước và thú vị hơn, tuy nhiên dường như nhận được sự phản đối từ người xem. Thêm vào đó, phần tiếp theo với bản video, The Lion King II: Simba's Pride đã được phát hành năm 1998, và cuối cùng là The Lion King 1½ (còn được biết với cái tên The Lion King 3: Hakuna Matata trên các nước) cũng đã được tung ra năm 2004 với những cảnh tua lại các sự kiện thời gian trong bản gốc phim Lion King thông qua sự xuất hiện của Timon và Pumbaa. Hình ảnh các nhân vật Simba, Nala, Mufasa, Scar, Timon và Pumbaa cũng đã từng xuất hiện trong series phim hoạt hình Disney's House of Mouse (Nhà của chuột), và Banzai, Shenzi cùng Ed đã từng tham gia vai phản diện trong Mickey's House of Villains. Simba, Timon, Pumbaa, Rafiki và Nala cũng đã từng có mặt trong phim Mickey's Magical Christmas: Snowed in at the House of Mouse. Video games Hai trò chơi điện tử dựa trên bộ phim này đã được phát hành. Trò chơi đầu tiên có tên là The Lion King đã được Virgin Group sản xuất và được phát hành tương thích với các hệ máy NES, SNES, Game Boy, Sega Master System, Sega Genesis, Game Gear, Personal computer và Amiga. Trò chơi thứ hai có tên là The Lion King: Simba's Mighty Adventure được Activision xuất bản năm 2000 và được phát hành tương thích với hệ máy Playstation và Game Boy Color. Năm 1996, Disney Interactive và 7th Level cho ra mắt game Timon & Pumbaa's Jungle Games trên máy tính. Và sau đó trò chơi này đã được xuất hiện trên hệ máy SNES. Trò chơi bao gồm nhiều nội dung như Pumbaa phải dùng khí gas để tiêu diệt hoa quả và những con bọ ( kể cả một con gà nhỏ) rơi xuống từ những cái cây, một dạng phiên bản của trò pinball, sử dụng ống xì thổi hột đậu để tiêu diệt địch trong rừng, Timon phải nhảy qua lũ hà mã và qua sông để chuyển những con bọ cho Pumbaa hay một dạng trò chơi xếp hình kiểu Tetris. Trò chơi thứ ba được sản xuất năm 2004 tại châu Ân và châu Á với cái tên giản đơn The Lion King trên hệ máy Game Boy Advance , tuy nhiên trên thực tế trò chơi này dựa trên bối cảnh của phim The lion King 1½ cùng với nhân vật mô phỏng là Timon and Pumbaa. Một phần sự kiện chính trong The Lion King đã được hãng Square Enix mô phỏng lại trong trò chơi Kingdom Hearts II với hệ game Playstation 2. Những nhân vật của bộ phim xuất hiện trong rất nhiều “bối cảnh” game ví dụ như bối cảnh vùng đất “Pride Land”. Nội dung cũng được thay đổi với những cuộc hội thoại mới được thu lại để cho phù hợp với sự hiện diện của ba nhân vật chính (Sora, Donal Duck và Goofy). Vua Simba thì xuất hiện với tư cách nhân vật được triệu hồi trong game Kingdom Hearts và tư cách lá bài triệu hồi trong game Kingdom Hearts: Chain of Memories. Nhạc kịch Tiêu điểm chính: The Lion King (nhạc kịch) Một buổi nhạc kịch cùng tên lần đầu được biểu diễn tại Minneapolis, Minnesota tháng 7 năm 1997, và được trình diễn công phu trên sân khấu Broadway tháng 10 năm 1997 tại nhà hát New Amsterdam. Vở nhạc kịch này đã nhận được sáu giải Tony trong đó một giải dành cho “Vở nhạc kịch xuất sắc nhất”. Màn trình diễn này sau đó được thể hiện tại nhà hát Minskoff năm 2006 và vẫn còn tiếp tục khẳng định giá trị của mình cho tới ngày nay. Đây là màn trình diễn với thời lượng đứng thứ bảy trong lịch sử từ trước tới nay. Lợi nhuận thu về từ Broadway đã kéo theo những chương trình khác được đầu tư tại Bắc Mỹ cũng như trên toàn thế giới. Một vài thông tin thú vị: - Bộ phim được lấy cảm hứng từ những câu chuyện Kinh thánh của Jose và Moes cũng vở kịch Hamlet của William Shakepeare. - Một nhà động vật học đã mang một con sư tử, một con khỉ đầu chó cùng vài con kền kền đến studio làm phim để những nhà hoạt họa có thể học hỏi những cử chi của chúng một cách chính xác. Ví dụ như để có được cảnh Rafiki chống gậy trong bộ phim, những nhà hoạt họa đã quan sát cảnh con khỉ đầu chó chống cây cậy dạo quanh và rồi phác họa nó trong những tư thế khác nhau. - The Lion King là bộ phim hoạt hình có doanh thu cao nhất mọi thời đại cho tới khi Disney tung ra bộ phim “Finding Nemo” do Pixar sản xuất. Tuy nhiên, bộ phim chiếm lại vị trí dẫn đầu cho bộ phim hoạt hình truyền thống có doanh thu cao nhất trong lịch sử, và trở thành bộ phim hoạt hình có doanh thu cao thứ sáu. - Bộ phim The Lion King thường hay được nhắc tới trong những vở kịch của Tyler Perry. - Bộ phim The Lion King có chút gì đó giống với bộ phim Bambi. Trong Bambi thì một trong hai người thân sinh ra Bambi cũng qua đời, Bambi cùng Faline đã quen nhau từ khi còn bé và sau này trở thành bạn đời của nhau y như Simba và Nala. Một điều thú vị nữa là nhà viết kịch bản Irene Mecchi đã gọi The Lion King là “Bambi của Châu Phi”. *đang trong quá trình cập nhật thông tin và BB code Nguồn: http://lionking.wikia.com/wiki/The_Lion_King_Wikia
|
![]() |
| Bookmarks & Social Networks |
|
|
| Ðiều Chỉnh | |
| Xếp Bài | |
|
|
|