oOo VnSharing oOo

Chào mừng đã đến với forum oOo VnSharing oOo.

Bạn chưa đăng kí (hoặc chưa đăng nhập) nên quyền lợi của bạn sẽ bị hạn chế. Việc đăng kí làm thành viên hoàn toàn miễn phí, sau khi đăng kí bạn có thể post bài, tham gia thảo luận, liên lạc với các thành viên khác qua hệ thống tin nhắn riêng, yêu cầu manga/anime... và rất nhiều quyền lợi khác. Thủ tục đăng kí rất nhanh chóng và đơn giản, hãy Đăng Kí Làm Thành Viên!

Nếu bạn quên mật khẩu, xin nhấn vào đây.

Nếu bạn gặp trục trặc trong vấn đề đăng kí hoặc không thể đăng nhập, hãy liên hệ với chúng tôi.
Go Back   oOo VnSharing oOo > VnSharing School > Văn hóa nước Nhật

HD cho người mới | ĐĂNG KÍ VIP MEMBER: KHÔNG QUẢNG CÁO, KHÔNG CẦN POST BÀI ĐỂ DOWNLOAD!
Mua sắm bằng Rep! | VnSharing Shop   Facebook

[VnS Idol] ✰ ★ ✰ Danh sách bình chọn ✰ ★ ✰


Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 08-09-2008, 17:56
sakurakitty's Avatar
sakurakitty sakurakitty is online now
 
Yakumo Ran
Cô bé con giờ đây đã trở thành một thiếu nữ xinh xắn. Đã tới giờ uống rượu rồi, hãy cùng nhau nâng li thôi. Nàng hồ li xinh đẹp này uống nhiều lắm đấy, vì vậy hãy cẩn thận tửu lượng của mình nhé.
SP: 165
Phòng trưng bày huy hiệu
Kitsune Nagi Sanzenin Nagi Sanzenin Sakura Kyouko 
Miki Sayaka Nekomimi Neko-chan Neko-chan 
Tổng số huy hiệu: 10
Tham gia ngày: 14-08-2008
Bài gửi: 1,554
Cấp Độ: 116
Rep: 5623
sakurakitty has a reputation beyond reputesakurakitty has a reputation beyond reputesakurakitty has a reputation beyond reputesakurakitty has a reputation beyond reputesakurakitty has a reputation beyond reputesakurakitty has a reputation beyond reputesakurakitty has a reputation beyond reputesakurakitty has a reputation beyond reputesakurakitty has a reputation beyond reputesakurakitty has a reputation beyond reputesakurakitty has a reputation beyond reputesakurakitty has a reputation beyond repute

Kịch Noh

Trường phái Kita (Kita Ryu) trong kịch Noh được nghệ sĩ Sichida sáng lập vào thời đại Edo (đầu thế kỷ 17). Được thiên hoàng ưa chuộng, Sichida đã lập kỷ lục biểu diễn Noh trên 1.000 lần.

Với những nghệ nhân xứ mặt trời mọc, sáng tác và thưởng thức kịch Noh là để thử nghiệm cái khoảnh khắc đạt ngộ khi ta thấy mình là một với vũ trụ, vạn vật bình đẳng và có Phật tính. Bởi vậy, các hình thức Noh được nâng lên thành nghệ thuật tinh tế và trở thành những con đường tu tâm " kiến tánh". Diễn viên Noh thường là nam giới, kể cả các vai nữ. Trên sân khấu, nhân vật chính thường chết ngay từ màn mở đầu. Tiếp đó, oan hồn bắt đầu kể lể, than khóc về cuộc đời trước đây...Từ tháng 5/2001, kịch Noh được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Trong kịch Noh, tất cả các diễn viên đều đeo mặt nạ khi diễn xuất. Mỗi một kiểu mặt nạ đều biểu lộ tính cách của từng nhân vật. Việc vẽ mặt nạ cho kịch Noh cũng được coi là một loại hình nghệ thuật tại Nhật Bản. Đặc biệt, mặt nạ của các nhân vật nữ còn được coi là biểu trưng cho vẻ đẹp lý tưởng của người phụ nữ Nhật Bản. Mặt nạ của nhân vật nữ có 4 loại : Tăng nữ,Ban Nhược,Tôn Thứ Lang, Tiểu Diện, trong đó Tiểu Diện là loại mặt nạ của nhận vật trẻ tuổi nhất, tượng trưng cho vẻ đẹp của các Đồng Nữ hoặc Trinh Nữ. Ngược lại, Tôn Thứ Lang biểu hiện vẻ mặt của một người vợ lăng loàn. Tăng Nữ là loại mặt nạ của các nữ thần, còn Ban Nhược là loại mặt nạ của các ma nữ.





google
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #2  
Old 08-09-2008, 20:31
Thỏ Bông's Avatar
Thỏ Bông Thỏ Bông is offline
Fangirl, and Proud!
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Tham gia ngày: 10-05-2008
Bài gửi: 1,584
Cấp Độ: 81
Rep: 3875
Thỏ Bông has a reputation beyond reputeThỏ Bông has a reputation beyond reputeThỏ Bông has a reputation beyond reputeThỏ Bông has a reputation beyond reputeThỏ Bông has a reputation beyond reputeThỏ Bông has a reputation beyond reputeThỏ Bông has a reputation beyond reputeThỏ Bông has a reputation beyond reputeThỏ Bông has a reputation beyond reputeThỏ Bông has a reputation beyond repute

Gửi tin nhắn qua Yahoo chat tới Thỏ Bông
Mình sẽ bổ sung thêm về kịch Noh cho bạn ha!
Sân khấu kịch Noh.
Ở giữa: shite; phía gần bên phải: waki; phải: tám người jiutai (hợp xướng); rìa trung tâm: bốn hayashi-kata (nhạc công); rìa trái: hai kohken (người giúp việc sân khấu).Có bốn thể loại người biểu diễn kịch Noh chính là: shite, waki, kyōgen, và hayashi:
Phân vai:
- Shite (仕手, シテ, sĩ thủ), nghĩa đen là "người thực hiện" là vai trò thường thấy nhất trong kịch Nō.
- Shite (diễn viên chính). Trong các vở kịch mà shite xuất hiện ban đầu dưới lốt người rồi sau hiện thân thành quỷ, vai ban đầu được gọi là maeshite và vai sau gọi là nochishite.
- Shitezure (仕手連れ, シテヅレ) bạn diễn của shite. (Đôi khi được viết tắt là "tsure" (連れ, ツレ), mặc dù cụm này được dùng để chỉ cả shitezure và wakizure.)
- Waki (脇, ワキ, hiếp) diễn vai phù trợ hay làm nền cho shite.
- Wakizure (脇連れ, ワキヅレ) là bạn diễn với waki.
- Kyōgen (狂言, cuồng ngôn) diễn aikyogen giải lao giữa các màn kịch. Diễn viên kyōgen cũng diễn trong những màn kịch riêng giữa hai vở kịch Noh.
- Hayashi (囃子) hay hayashi-kata (囃子方) là các nhạc công chơi bốn loại nhạc cụ trong nhà hát kịch Nō: sáo fue, trống okawa hay ōtsuzumi, trống kotsuzumi, và trống cái taiko.
- Jiutai (地謡, địa dao) là dàn hợp xướng, thường có từ 6 đến 8 người
- Koken (後見, hậu kiến) là người giúp việc sân khấu, thường gồm 1 đến 3 người
Một vở kịch Nō thông thường gồm 4 hay 5 loại diễn viên và kéo dài khoảng 30-120 phút.
Vở kịch
Có khoảng 250 vở kịch Noh trong kịch mục hiện nay, có thể được phân chia theo nhiều tiêu chí. Nhưng tiêu chí phổ biến nhất là dựa vào nội dung, nhưng cũng lại có đến vài phương pháp sắp xếp.
Thể loại
Kami mono (神物, thần vật) hay Waki Noh (脇能, hiếp năng) có đặc điểm là để shite dưới vai người trong màn thứ nhất và vai một vị thần trong màn hai, và kể lại một câu chuyện thần thoại về một ngôi đền hay ca ngợi một linh hồn đặc biệt.
Shura mono (修羅物, tu la vật) hay asura noh (阿修羅能, Atula năng) với shite thường xuất hiện với vai quỷ trong màn một và một trận chiến tượng trưng trong màn hai, kết thúc với cái chết của vai này.
Katsura mono (鬘物, man vật) hay onna mono (女物, nữ vật) với shite đóng vai nữ và là loại có nhiều bài hát và điệu múa tinh tế nhất trong các thể loại kịch Noh.
Có khoảng 94 vở kịch hỗn hợp, bao gồm kyoran mono (狂乱物) hay cuồng loạn vật, onryō mono (怨霊物) hay kịch ma báo thù, và genzai mono (現在物, hiện tại vật), kịch lấy chủ đề đương thời, và không được xếp vào các thể loại khác.
Nokyo Kiri noh(切り能, kịch cuối cùng) hay oni mono (鬼物, quỷ năng) thường có “shite” đóng vai ma, quỷ, yêu tinh, và thường có màu sáng và tiết tấu nhanh, căng thẳng trong các động tác cuối.

Tâm trạng
Mugen noh (夢幻能, mộng ảo năng) thường về linh hồn, ma, ảo ảnh, và thế giới siêu nhiên. Thời gian thường được mô tả là đang trôi đi bằng các trang phục không có kẻ sọc dài, và các hành động chuyển giữa hai khoảng thời gian.
Genzai noh (現在能, hiện tại năng), như đã nói ở trên, miêu tả sự kiện bình thường hàng ngày. Tuy nhiên, ngược với mugen, cụm từ này bao hàm các thể loại kịch trên một diện rộng hơn.

Phong cách
Geki noh (劇能, kịch năng) hay các vở kịch dựa một phần vào phát triển từ kịch bản hay thuật lại hành động.
Furyū noh (風流能, phong lưu năng) hay kịch múa tập trung vào chất lượng thẩm mỹ của các điệu múa và bài hát được diễn.
Okina (hay Kamiuta) là một thể loại đặc biệt kết hợp các điệu múa lễ nghi của Shintō. Nó được coi là thể loại kịch Noh cổ nhất, và cũng là loại hay được diễn nhất. Nói chung là nó hay mở đầu bất kỳ một chương trình hay lễ hội nào.

Nguồn gốc
Truyện kể Heike, một câu chuyện thời trung cổ về sự hưng vượng và sụp đổ của gia tộc Taira, bắt nguồn từ bài hát của những nhà sư mù chơi đàn biwa, là một nguồn quan trọng trong các chất liệu của kịch Noh (và các thể loại kịch sau này), đặc biệt là kịch chiến binh. Một nguồn quan trọng khác là Truyện kể Genji, tác phẩm văn học vào thế kỷ thứ 11 có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển tiếp theo của văn hóa Nhật Bản. Các tác giả cũng lấy cảm hứng từ thời kỳ Nara, thời kỳ Heian, và các nguồn từ Trung Quốc.

Một vài vở kịch nổi tiếng
Dưới đây là một số vở kịch Nō nổi tiếng theo đánh giá của trường kịch Noh Kanze:
- Tên Kanji Nghĩa Số màn
- Aoi no Ue 葵上 (Quỳ thượng) Phu nhân Aoi 4
- Aya no Tsuzumi 綾鼓 (Lăng cổ) Chiếc trống đỏ tươi 4
- Dōjōji 道成寺 (Đạo Thành tự) Dōjōji 4
- Hagoromo 羽衣 (Vũ y) Áo khoác lông chim 3
- Izutsu 井筒 (Tỉnh đồng) The Well Cradle 3
- Kagekiyo 景清 (Cảnh thanh) Kagekiyo 4
- Kanawa 鉄輪 Thiết luân 4
- Kumasaka 熊坂 (Phản hùng) Kumasaka/Kẻ cướp 5
- Matsukaze 松風 (Tùng Phong) Gió rừng thông 3
- Nonomiya 野宮 Dã cung 3
- Sekidera Komachi 関寺小町 (Quan Tự Tiểu Đinh) Komachi ở Sekidera 3
- Semimaru 蝉丸 (Thiền Hoàn) Semimaru 4
- Shakkyō 石橋 (Thạch kiều) Cầu đá 5
- Shōjō 猩々 Vị tiên nghiện rượu 5
- Sotoba Komachi 卒都婆小町 (Tốt Đô Bà Tiểu Đinh) Komachi ở thế giới bên kia 3
- Takasago 高砂 (Cao Sa) Ở Takasago 1
- Tsunemasa 経政 Tsunemasa 2
- Yorimasa 頼政 Yorimasa 2
- Yuya 熊野 (Hùng Dã) Yuya 3

Yếu tố biểu diễn
Biểu diễn Noh bao gồm rất nhiều các yếu tố hợp thành phong cách chung, với mỗi yếu tố bắt nguồn từ văn hóa Phật giáo, Shino, và các khía cạnh nhỏ nữa trong các quan điểm mỹ học của kịch Noh.

Sân khấu
Sân khấu kịch Noh trước buổi diễn
1:hashigakari.
2:vị trí kyogen.
3:chỗ ngồi khán giả.
4:trống.
5:trống hông.
6:trống vai.
7:sáo.
8:dàn hợp xướng.
9:chỗ ngồi của waki.
10:vị trí waki.
11:vị trí shite.
12:shite-bashira.
13:metsuke-bashira.
14:waki-bashira.
15:fue-bashira.
Sân khấu kịch Nō truyền thống bao gồm một sảnh theo lối kiến trúc sân khấu kagura truyền thống của những ngôi đền Shintō, và thường được làm từ gỗ hinoki (cây bách Nhật Bản). Bốn cột được đặt tên theo hướng của nó trong vở diễn: waki-bashira ở trước, góc phải gần vị trí đứng và ngồi của waki; cột shite-bashira ở rìa, góc trái, ở gần vị trị ‘'shite thường biểu diễn; cột fue-bashira ở rìa góc phải, gần người thổi sáo; và cột metsuke-bashira, hay "cột nhìn", gọi vậy là vì “shite” thường đối mặt và ở gần cột này.

Sàn được đánh bóng để diễn viên có thể diễn cá pha trượt, và dưới sàn được chôn các bình lớn bằng hay các kết cấu rỗng nhưng chắc chắn để tăng độ vang của sàn gỗ khi diễn viên dậm mạnh lên sàn. Và để làm điều đó, sàn được nâng lên khoảng ba foot so với khán giả.

Sự trang trí duy nhất trên sân khấu là kagami-ita, bức tranh cây thông ở phía cuối sân khấu. Người ta tin rằng nó đại diện cho cây thông nổi tiếng ở đền Kasuga ở Nara, hoặc là biểu hiện của cho các bậc tiền bối đã đặt nền móng cho nghệ thuật Nō.

Một đặc điểm độc đáo khác của sân khấu là hashigakari, một cây cầu hẹp ở bên phải (từ phía khán đài nhìn tới là bên trái) mà diễn viên chính thường dùng để đi lên sân khấu. Đường này sau được phát triển thành hanamichi ở kabuki.

Tất cả các sàn diễn đều dành cho kịch Nō một cái móc hay cái thòng lọng ở trên trần để treo và đánh chuông cho vở kịch Dōjōji. Khi vở kịch đó được biểu diễn ở nơi khác, cái móc này sẽ được lắp thêm vào tạm thời.


Phục trang
Quần áo của diễn viên được trang trí bằng nhiều nhiều loại biểu tượng cho loại diễn viên. Ví dụ thần sấm sét sẽ có hình lục giác trên áo, trong khi rắn sẽ có hình tam giác tượng trưng cho vảy. Phục trang cho “shite” được đặc biệt cường điệu hóa, với kim tuyến lấp lánh, nhưng còn ít lộng lẫy hơn so với tsure, wakizure, và aikyōgen.

Nhạc công và hát bè thường mặc montsuki kimono (đen và được trang trí bằng gia huy của năm gia đình) cùng với hakama (một loại áo vải) hay kami-shimo, hòa trộn giữa hakama và áo thắt eo với vai phồng. Cuối cùng, những người phục vụ sân khấu mặc vải đen không được trang trí, giống như cách họ mặc ở các sân khấu phương Tây hiện nay.


Mặt nạ
Mặt nạ trong kịch Noh (能面 nohmen (năng diện) hay 面 omote (diện)) đều có tên riêng.
Thường chỉ có shite, diễn viên chính, mới đeo mặt nạ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tsure cũng có thể đeo mặt nạ, đặc biệt là với vai nữ. Mặt nạ kịch Noh vẽ chân dung của phụ nữ hay những nhân vật không phải người (thần thánh, quỷ, hay động vật). Cũng có vài mặt nạ kịch Nō để diễn tả trẻ con hay người già. Mặc khác, diễn viên không đeo mặt nạ đóng vai đàn ông trưởng thành ở 20, 30 hay 40 tuổi. Diễn viên phụ waki không đeo mặt nạ.

Vài loại mặt nạ, đặc việt là cho vai nữ, được thiết kế để chỉ cần một sự điều chỉnh nhẹ ở vị trí đầu cũng có thể biểu lộ nhiều cảm xúc như sợ hãi hay đau buồn nhờ vào ánh sáng và góc độ hướng đến khán giả. Với những mặt nạ lộng lẫy cho thần thánh hay quỷ, thường không thể thể hiện cảm xúc. Tuy vậy, thông thường, những nhân vật này không được yêu cầu phải thay đổi biểu lộ cảm xúc trong toàn buổi diễn, hay thể hiện cảm xúc thông qua ngôn ngữ cơ thể.

Những mặt nạ Noh hiếm nhất và giá trị nhất thậm chí không được lưu giữ ở các bảo tàng Nhật Bản, mà trong các bộ sưu tập cá nhân của hiệu trưởng (iemoto) các trường dạy kịch Noh; những báu vật này chỉ được trưng bày cho một thiểu số người xem và hiếm khi được mang ra biểu diễn. Nó không làm hư hại gì khi đem ra nghiên cứu và đánh giá mặt nạ kịch Noh, vì truyền thống đã để lại vài trăm tiêu chuẩn thiết kế mặt nạ khác nhau, có thể phân thành một một tá các thể loại.
Đạo cụ sân khấu
Đạo cụ hay được sử dụng nhất trong kịch Noh là chiếc quạt, được mọi người biểu diễn mang theo cho dù vai trò của họ có là gì. Ca sỹ hát bè và nhạc công cầm quạt khi tiến vào sân khấu, hay nhét nó vào khăn obi. Dù trong trường hợp nào, quạt cũng thường được đặt ở bên cạnh người diễn khi anh ta ngồi vào vị trí của mình, và thường được mang theo khi họ rời sân khấu.

Vài vở kịch có những nhân vật cầm cái vồ, thanh kiếm hay các đạo cụ khác. Tuy nhiên, trong cảnh múa, cây quạt được dùng để thể hiện bất kỳ một loại đạo cụ cầm tay nào khác, ví dụ như thanh kiếm mà diễn viên có thể gài vào khăn hay cầm sẵn ở tay kia.

Khi các đạo cụ cầm tay ngoài chiếc quạt được sử dụng, nó thường được giới thiệu hay được phục vụ sân khấu đưa cho. Giống như đối tác trên sân khấu phương Tây, nhân viên sân khấu kịch Nō mặc áo đen theo truyền thống, nhưng khống giống phương Tây ở chỗ họ xuất hiện trên sân khấu trong các cảnh, và có thể cứ ở trên sân khấu trong suốt buổi biểu diễn, trong cả hai trường hợp đều ở trước mắt khán giả.

Đạo cụ sân khấu kịch Noh còn có thuyền, giếng nước, bệ thờ, và cái chuôn đã nói ở trên cho Dōjōji, thường được mang lên sân khấu từ trước buổi diễn khi cần. Những đạo cụ này thể hiện bằng những nét chính để gợi ra vật thật, mặc dù chiếc chuông lớn, một trường hợp đặc biệt tồn tại lâu dài đối với các luật tục của kịch Noh, được thiết kế để giấu các diễn viên và cho phép thay đổi trnag phục trong các màn biểu diễn aikyogen xen giữa.

Bài hát và âm nhạc (Nōgaku 能楽, năng lạc)
Hayashi-kata (nhạc công kịch Noh). Từ trái sang phải: taiko, otsuzumi, kotsuzumi, fue.Nhà hát Nō đi cùng với dàn hợp xướng hay đồng ca hayashi (Nō-bayashi 能囃子). Nō là một loại kịch hát, và một vài nhà bình luận đã gọi đây là opera Nhật Bản. Tuy nhiên, giọng hát trong kịch Nō có một số giới hạn về âm, với độ ngân, độ vang trong một diện hẹp. Rõ ràng là giai điệu không phải là trung tâm của ca hát trong kịch Nō. Hơn nữa, lời ca là những câu thơ, phụ thuộc chặt chẽ vào thể loại thơ thất-ngũ quen thuộc trong thơ ca Nhật Bản, ít câu chữ nhưng nhiều ẩn ý.

Một lưu ý quan trọng là ca hát không phải luôn luôn đi liền với nhân vật; đôi khi, cách nói của diễn viên hay miêu tả sự kiện từ cái nhìn của một nhân vật khác hay thậm chí một người kể chuyện vô tư. Không hề phá vỡ nhịp điệu của vở diễn, điều đó thực sự đã giúp cho nhiều người từ những nền văn minh khác hiểu hơn về kịch Nō, đặc biệt là những nhân vật thuộc thể loại mugen (không lời).

Đồng ca Noh hayashi bao gồm bốn nhạc công, còn được gọi là "hayashi-kata". Có ba người đánh trống, chơi shime-daiko, ōtsuzumi, và kotsuzumi, và một người thổi sáo shinobue.

Jo, Ha, Kyū
Một trong những yếu tố biểu diễn huyền ảo nhất của kịch Nō là Jo-ha-kyū, bắt nguồn từ gagaku (nhã nhạc). Tuy nhiên, thay vì đơn giản chỉ chia một vở kịch thành ba phần, trong kịch Nō không chỉ diễn một mình kịch, mà cả hát và múa trong vở diễn, và thậm chí những bước đi, cử chỉ, âm thanh mà diễn viên hay nhạc công tạo ra. Hơn nữa, từ tầm nhìn cao, cả chương trình truyền thống của kịch Nō gồm năm vở diễn chứng minh ý niệm chung này, vở thứ nhất chơi jo, vở thứ hai, thú ba, và thứ tư là ha (vở thứ hai được gọi là jo trong số ha, vở thứ ba gọi là ha trong phần ha, và vở thú ba gọi là kyū trong phần ha), và vở thứ năm gọi là kyū. Nói chung, phần jo chậm và gợi nhiều liên tưởng, phần ha hay phần đi vào chi tiết hay không tuân theo quy luật tự nhiền và thế giới tự nhiên, và kyū giải quyết mọi vấn đề nhanh chóng và bất ngờ (tuy vậy, lưu ý là, điều này chỉ có nghĩa là kyū nhanh so với những các phần trước đó, và những người không quen với các quy tắc của kịch Nō có thể không nhận ra việc đẩy nhanh tốc độ).

Diễn viên
Có khoảng 1500 diễn viên kịch Nō chuyên nghiệp ở Nhật Bản hiện nay, và loại hình nghệ thuật này vẫn tiếp tục phát triển. Các diễn viên bắt đầu việc rèn luyện từ tấm bé, theo truyền thống là từ lúc ba tuổi.

Năm trường dạy diễn xuất shite của kịch Noh hiện nay là Kanze (観世, Quán Thế), Hōshō (宝生, Bảo Sinh), Komparu (金春, Kim Xuân), Kita (喜多, Hỉ Đa), và Kongō (金剛, Kim Cương). Mỗi trường đo một gia đình đứng đầu gọi là sōke, và người đứng đầu mỗi gia đình được quyền sáng tác những vở kịch mới hay hiệu đính lại các bài hát.

Xã hội kịch Noh bảo vệ nghiêm ngặt truyền thống truyền lại từ tổ tiên (xem iemoto). Tuy vậy, vài tàng thư bí mật của trường Kanze do Zeami viết, và của trường Komparu do Komparu Zenchiku viết đã được lan truyền trong cộng đồng các nhà hát Nhật Bản.

Các diễn viên thường tuân theo một sự tiến triển nghiêm khắc thông qua sự phấn đấu cả đời từ những vai cơ bản cho đến những vai phức tạp nhất; vai Yoshitsune trong Funa Benkei là một trong những vai nỏi bật mà các diễn viên trẻ con thường biểu diễn trong kịch Noh.

Ảnh hưởng với phương Tây
Các nghệ sỹ phương Tây tiêu biểu chịu ảnh hưởng từ kịch Noh là:
- Benjamin Britten
- William Butler Yeats

Thuật ngữ mỹ học
Zeami và Zenchiku miêu tả một loạt các quan điểm thẩm mỹ riêng biệt rất cần thiết để hiểu được thể loại kịch Noh.
Hana (花, hoa): người biểu diễn kịch Noh chân chính chăm chút cho mối quan hệ tinh tế với khán giả của mình giống như cách chăm sóc hoa. Điều đáng chú ý là hana, giống như hoa, nghĩa là được mọi khán giả mến mộ, bất chấp việc dạy dỗ anh ta cao quý hay tầm thường. “Hana” có hai dạng. “Hana” theo cá nhân là vẻ đẹp của một bông hoa hàm tiếu, truyền qua thời gian, trong khi “hana” thực sự là bông hoa bằng cách tạo ra và chia sẻ sự hoàn hảo trên sân khâu.
Yūgen (幽玄, u huyền): thuật ngữ mỹ học được dùng để miêu tả nghệ thuật thế kỷ 13, 14 ở Nhật Bản, nhưng được sử dụng trong kịch Nō để thể hiện vẻ đẹp sâu sắc của thế giới trừu tượng, bao gồm vẻ đẹp thê lương của mất mát và nỗi buồn.
Kokoro hay shin (cả hay đều viết là 心 – tâm) “Tâm” của kịch Nō theo lời dạy của Zeami, để phát triển “hana” diễn viên phải ở vào trạng thái vô thức (vô tâm).
Rōjaku (老弱. lão nhược): bước cuối cùng trong việc phát triển diễn xuất của một diễn viên kịch Nō, theo đó một người cao tuổi đã bỏ đi mọi hành động hay âm thanh không cần thiết khi diễn.
Myō (妙, diệu): “vẻ đẹp” của diễn viên trình diễn hoàn mỹ không một tỳ vết và không chút giả tạo; ông thực sự đã hóa thân vào vai diễn.
Monomane (物真似, vật chân tự): mục đích của diễn viên kịch Nō là thể hiện chính xác diễn xuất của vài mình, tương phản với lý do thẩm mỹ của sự trừu tượng hóa và đẹp một cách hoàn thiện. Monomane đôi khi trái nghịch với yūgen, mặc dù cả hai đều thể hiện điểm kết thúc của một thể liên tục thay vì hoàn toàn tách biệt.
Kabu-isshin (歌舞一心, "Ca vũ nhất tâm"): thuyết cho rằng bài hát (bao gồm cả thơ) và điệu múa là hai phần của một tổng thể, và diễn viên kịch Nō cố gắng diễn tốt cả hai loại với tất cả trái tim và khối óc.
Wikipedia
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #3  
Old 13-09-2008, 10:34
Loveless_210's Avatar
Loveless_210 Loveless_210 is offline
Bishop
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Đá cấp 2: Garnet God Angel Angel Classic Kaze no fukiya (Dart of Wind) 
Kaze no fukiya (Dart of Wind) Sukiru no Sensu (Folding Fan of Skill) Sukiru no Sensu (Folding Fan of Skill) Crystal 
Tổng số huy hiệu: 12
Tham gia ngày: 19-07-2008
Bài gửi: 707
Cấp Độ: 133
Rep: 6556
Loveless_210 has a reputation beyond reputeLoveless_210 has a reputation beyond reputeLoveless_210 has a reputation beyond reputeLoveless_210 has a reputation beyond reputeLoveless_210 has a reputation beyond reputeLoveless_210 has a reputation beyond reputeLoveless_210 has a reputation beyond reputeLoveless_210 has a reputation beyond reputeLoveless_210 has a reputation beyond reputeLoveless_210 has a reputation beyond reputeLoveless_210 has a reputation beyond reputeLoveless_210 has a reputation beyond repute

Gửi tin nhắn qua Yahoo chat tới Loveless_210
Hớ hớ!!! tớ cũng biết sơ sơ đấy!!! cho góp chung nha!!!!
Rạp hát Noh dùng để nhảy và biểu diễn ca nhạc được gọi là Utai. Noh được dựa trên một bài hát và điệu nhảy lấy từ sangaku (một hình thức giải trí được giới thiệu khắp châu lục trong thời kì Nara bao gồm xiếc, ảo thuật, nhảy-và-hát. Bài hát và điệu nhảy này được phát triển theo cách độc đáo của Nhật Bản, và đến nửa cuối của thời kì Kamakura (1192-1333), phong cách Noh đã được hoàn thiện. Năm 1374, dưới triều đại Mạc phủ, tướng quân Ashikaga Yoshimitsu, đã có ấn tượng rất sâu sắc với buổi trình diễn Noh, và sau đó Noh đã được phát triển dưới sự cai quản của ông. Kan’ami và con trai của ông – Zeami – phát triển nghệ thuật của loại hình nghệ thuật Noh, và thành lập cơ sở lí thuyết vững chắc của nó. Ngày nay, có 3 trường phái của rạp hát Noh: Kanze, Hosho, Komparu, Kongo và Kita.
Noh là một loại hình nghệ thuật sân khấu cổ điển của Nhật Bản, kết hợp các yếu tố vũ đạo, nhạc kịch, và thơ ca thành một loại hình nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao. Loại kịch này chủ yếu được biểu diễn ở các thành phố như Tokyo, Osaka, và Kyoto, ngoài ra còn được phổ biến khắp đất nước bởi những nghệ sĩ chuyên nghiệp, những người có công trong việc đưa thứ nghệ thuật cao quý, thường chỉ giới hạn trong các gia đình quý tộc này đến đông đảo quần chúng nhân dân, ở mọi tầng lớp. Cũng có một số lượng lớn những diễn viên nam nữ nghiệp dư đã luyện tập và biểu diễn Noh bằng thánh ca, vũ đạo và nhạc khí.
ịch Noh phát triển đến hình thái như ngày này vào khoảng thế kỉ XIV-XV, dưới sự lãnh đạo của diễn viên - nhà soạn kịch lỗi lạc Kannami và con trai của ông là Zeami. Riêng Zeami đã viết rất nhiều vở kịch, và còn được công diễn cho tới tận ngày nay, trong số khoảng 250 vở kịch truyền thống. Ông cũng viết nhiều vở không công khai, và được coi là những vở nền tảng của tư tưởng mỹ quan trong kịch Noh, và đưa thêm chi tiết về cách thức môn nghệ thuật này được sáng tác, diễn tấu, chỉ đạo, truyền bá và sản xuất.

Kịch Noh đạt được sự hưng thịnh trong thời của Zeami dưới sự bảo trợ của Shogun Ashikaga Yoshimitsu. Sau đó, trong thời Edo (1603-1838), kịch Noh trở thành loại hình biểu diễn chính thức của chính quyền quân chủ. Các lãnh chúa quân chủ phong kiến trong khắp cả nước đều ủng hộ các đoàn kịch, và tạo điều kiện cho họ học hỏi, luyện tập và biểu diễn.

Cùng với cuộc cách tân vào thời Meiji (1868-1912), kịch Noh không còn nhận được sự ưu ái từ chính quyền, và tự nó phải chống chọi. Mặc dù có lúc loại hình này gần như bị biến mất, thì lại có những diễn viên tập hợp nhau lại, tự tìm cho mình những người bảo trợ riêng, và bắt đầu dạy cho dân nghiệp dư, dần dần kịch Noh lại trở lại thời kì hoàng kim của mình.

Ngày nay, cũng như rất nhiều loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống trên khắp thế giới, kịch Noh không còn được coi như một môn nghệ thuật phổ biến trong cộng đồng người Nhật như xưa nữa. Nhưng những nhà tài trợ của nó thì rất nhiệt tình, những diễn viên chuyên nghiệp luyện tập với cường độ cao, và lịch biểu diễn cũng như dạy học trên cả nước của họ kín đặc. Hiện nay có xấp xỉ 1.500 diễn viên chuyên nghiệp, họ sống chủ yếu dựa vào việc biểu diễn và dạy kịch Noh.

Trong kịch Noh có 5 phạm trù, đó là những nhân vật đặc trưng: quỷ thần, chiến binh, phụ nữ đẹp, dạng pha tạp (đặc biệt là đàn bà điên), và các thế lực siêu nhiên. Trong thời Edo, một chương trình trọn ngày gồm có mảng nghi thức Okina-Sanbaso gói gọn trong một vở, được diễn bởi từng nhân vật như ở trên. Một vở kịch Kyogen có thể được diễn xen giữa hai vở Noh. Trong năm nhân vật, vai nữ diễn với nhịp độ chậm nhất, nhưng lại là vai thi vị nhất, và ở trình độ cao nhất trong việc thể hiện yugen, một cảnh giới về mĩ học để thể hiện sự duyên dáng và tính tao nhã kín đáo, vẻ đẹp phảng phất, huyền ảo.

Nhân vật chính của một vở kịch Noh được gọi là Shite, đôi khi Shite xuất hiện cùng với 1 hoặc nhiều bạn diễn khác được gọi là Tsure. Trong hầu hết các vở, Shite xuất hiện ở nửa đầu như một người bình thường, sau đó xuất hiện ở nửa sau trong dạng thật của mình, là hồn ma của một người nổi tiếng từ xa xưa. Vai trước được gọi là Maejite, và vai sau là Nochijite. Theo truyền thống, cả hai vai được diễn bởi một người.

Nhân vật thứ hai, Waki, thường là một tu sĩ hành khất, người hỏi han nhân vật chính, tạo bước tiến triển quan trọng của mạch truyện. Vai này cũng thường xuất hiện với các bạn diễn được gọi là Waki-Tsure. Một nhân vật phụ được gọi là Ai hoặc Ai-kyogen, thường xuất hiện như một cư dân địa phương, người làm nền cho Waki, và nhờ đó, khán giả có thể hiểu được vị trí của Shite.
!!!!Hợp xướng

Đoạn hợp xướng được gọi là Jiutai, thường gồm 8 người, ngồi về một phía của sân khấu và có nhiệm vụ là thuật lại các cảnh và cốt truyện. Đôi khi hợp xướng cũng diễn tả suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật, thậm chí đôi khi còn hát lời của các nhân vật.
Tiếp nè:

Noh là một dạng nghệ thuật biểu diễn cổ điển Nhật Bản kết hợp những yếu tố của múa, tuồng, âm nhạc và thơ ca vào thành một bộ môn nghệ thuật sân khấu thẩm mĩ cao. Có cơ sở với quy mô rộng lớn tại các thành phố như Tokyo, Osaka và Kyoto, kịch Noh được trình diễn khắp nơi trên đất nước Nhật Bản bởi các nghệ sĩ chuyên nghiệp, chủ yếu là đàn ông, những người đã được kế tục bộ môn nghệ thuật cổ truyền này qua nhiều thế hệ. Thêm vào đó là một lượng lớn các nghệ sĩ không chuyên cả nam lẫn nữ đảm trách nhiệm vụ hát, múa và đàn.



Kịch Noh phát triển đến mô hình nghệ thuật như ngày nay từ thế kỉ XIV và XV, dưới sự lãnh đạo của người biểu diễn, nhà soạn kịch thiên tài Kannami (1333-1384) và con trai của ông, Zeami (1363-1443).



Kịch Noh bao gồm 2 yếu tố chủ chốt của bộ môn nghệ thuật biểu diễn: múa và diễn kịch bằng điệu bộ. Kanami và Zeami đã hợp nhất hai yếu tố này. Vai trò của Kanami là khởi xướng sự hợp nhất và Zeami là người thể hiện nó thành lý thuyết và nghệ thuật biểu diễn. Đặc biệt, Zeami đã viết hơn 250 vở mà cho đến nay vẫn còn được trình diễn trong các nhà hát cổ điển. Ông còn viết một số tác phẩm giải thích những nguyên tắc thẩm mĩ của kịch Noh và đưa ra những chi tiết cụ thể về sáng tác, chỉ đạo, đào tạo và trình diễn bộ môn nghệ thuật này. Kịch Noh rất thịnh hành vào thời kỳ Zeami, dưới sự bảo trợ của tướng quân Ashikaga Yoshinitsu. Sau này, vào thời kỳ Edo (1603-1868), kịch Noh trở thành một bộ môn nghệ thuật biểu diễn chính thức của chính phủ quân sự. Các quan chức cao cấp quân đội phong kiến trên khắp đất nước Nhật Bản đã ủng hộ cho những đoàn kịch và nhiều người đã học và tham gia biểu diễn bộ môn nghệ thuật này.



Với những cải cách về xã hội thời kỳ Meiji (1868-1912), kịch Noh mất sự bảo trợ về tinh thần và buộc phải tự chèo chống. Kịch Noh gần như lụi tàn, chỉ còn một số diễn viên tái hợp thành những nhóm mới, tìm các nhà tài trợ tư và bắt đầu dạy bộ môn nghệ thuật này cho những nghệ sĩ không chuyên. Kịch Noh đã dần dần được củng cố và lại bắt đầu trở nên thịnh vượng. Ngày nay, giống như rất nhiều dạng nghệ thuật biểu diễn cổ điển khác trên thế giới, kịch Noh không được coi như là một bộ môn nghệ thuật phổ biến của người dân Nhật Bản nói chung. Tuy vậy, những người cổ vũ cho bộ môn nghệ thuật này rất nhiệt tình, hăng hái, các diễn viên chuyên nghiệp được đào tạo cao và rất bận rộn trong việc biểu diễn, đào tạo trên khắp đất nước Nhật Bản. Hiện nay có khoảng 1.500 diễn viên chuyên nghiệp kiếm sống bằng nghề biểu diễn và dạy bộ môn kịch Noh.



Có 5 típ kịch Noh. Theo trật tự đó là các vị thần, các chiến binh, những người phụ nữ xinh đẹp, các nhân vật hỗn hợp (đặc biệt là những người đàn bà điên loạn) và các sinh vật siêu nhiên. Vào thời đại Edo, một chương trình đầy đủ cho một buổi biểu diễn bao gồm một vở nghi lễ Okina Sanbaso, tiếp đó là một vở từ mỗi loại kịch theo trật tự trên.



Nhân vật kịch Noh chia làm 3 nhóm: Shite, Waki, Kyogen. Nhóm Shite gồm có Shite (nhân vật chính) và các nhân vật khác. Họ thường đeo mặt nạ, đặc biệt trong những vai nhân vật phụ nữ. Shite là nhân vật chính của vở kịch, đôi khi xuất hiện với một hoặc vài nhân vật đi kèm được gọi là "Tsure".. Trong nhiều vở kịch, "Shite" xuất hiện nửa đầu vở kịch như người bình thường, được gọi là "maejite", chết đi, sau đó lại xuất hiện trở lại vào phần hai của vở kịch dưới dạng hồn ma "nochijite" của một người nổi tiếng đã qua đời từ lâu lắm rồi... Cả hai nhân vật thường đều do một diễn viên đảm trách và anh ta thay trang phục giữa hai màn để phù hợp với sự biến hoá (người thành hồn ma, nông dân thành quý tộc...). Nhóm Waki không bao giờ mang mặt nạ. Họ là người làm nền cho Shite, thường là một thầy tu hành khất, có vai trò chất vấn nhân vật chính, và đây là chi tiết quan trọng trong tiến trình phát triển câu chuyện. Thầy tu cũng thường xuất hiện cùng với nhân vật "Wakitsure". Nhóm Kyogen thể hiện những vở hài kịch nhỏ trong thời gian nghỉ giữa hai màn, giúp cho Shite có thời gian để thay quần áo.



Tầm quan trọng của âm nhạc là nhịp điệu. Nhịp điệu trong âm nhạc kịch Noh giống như tiếng mưa rơi từ mái hiên xuống. Sự phân chia của 7 âm tiết được gọi là “yo”, sự phân chia của 5 âm tiết là “in”, chiếc trống lớn được gọi là “yo”, và trống nhỏ gọi là “in”. 7 âm tiết là một phần diễn tấu của chiếc trống lớn, 5 âm tiết là một phần diễn tấu của trống nhỏ, nhưng nếu diễn tấu nối tiếp nhau, thì vai trò của chúng đôi khi lại đảo ngược. Dàn nhạc bao gồm những nhạc cụ sau: sáo (nohkan), trống hình đồng hồ cát đeo trên vai của nhạc công (kotsuzumi), trống lớn hơn một chút (okawa) được đặt trong lòng nhạc công, trống hình thùng đặt trên sàn và gõ bằng hai dùi (taiko). Nhịp điệu và giai điệu của những nhạc cụ này phải được thể hiện theo những quy định nghiêm ngặt. Dàn hợp xướng thường bao gồm 8 người, được gọi là “kimi” hay “vua”, và “những chú mèo” hay những nhạc công, được gọi là “thần dân”.

Dàn hợp xướng phụ thuộc vào “Shite”. Truyền thống của dàn hợp xướng ngày nay cũng có một số thay đổi, không còn quá máy móc, các “chú mèo”, dàn hợp xướng, và nhân vật chính “cảm nhận được tính sáng tạo của mình”, và đáp lại những xúc cảm của chính mình. Thậm chí trong 15 năm sau này, một số thay đổi đã diễn ra một cách vô thức. Mỗi “một chú mèo” của một trường phái có những truyền thống riêng của mình. Khi anh ta bắt đầu học, anh ta viết vào sổ tay của mình những ghi chú cho từng âm tiết trong 12 âm tiết. Mỗi người có lời chú giải riêng để học. Những chi tiết này không bao giờ được truyền cho bất cứ ai. Những diễn viên và những người hát trong dàn hợp xướng bình thường cũng không biết đến chúng.



Việc biểu diễn kịch Noh không giống như việc biểu diễn một vở kịch hiện thực. Động tác của nó được cách điệu hoá và mang tính chất miêu tả cao. Một số động tác có ý nghĩa cụ thể, số khác lại như sự thể hiện thẩm mĩ trừu tượng, truyền tải cảm xúc của nhân vật chính. Có thể miêu tả Noh như một điệu múa, đôi khi có rất ít động tác, vì sự căng thẳng kịch tính được xây dựng thông qua việc thuật lại. Có lúc những động tác lại rất mạnh mẽ, đầy sinh lực. Nhìn chung, sự khoan thai, tính khúc chiết, sự kìm nén và tính trừu tượng là những nét quan trọng của động tác kịch Noh.



Trong kịch Noh, diễn viên không trang điểm mà sử dụng mặt nạ được làm rất công phu. Những chiếc mặt nạ này được nhìn nhận như những vật thể tuyệt đẹp và là phương tiện diễn cảm tuyệt vời. Bất cứ nhân vật được miêu tả nào không phải là đàn ông trung niên sống trong thời hiện tại, đều đeo mặt nạ. Do đó, tất cả các nhân vật: phụ nữ, đàn ông già cả cũng như bóng ma, các vị thần, quỷ sứ và các sinh vật siêu phàm, đều đeo mặt nạ. Nhìn chung, nhiều hay ít, mặt nạ có sự biểu cảm trung tính hay mối xúc cảm mạnh mẽ. Thực tế, việc biểu cảm trung tính cho phép mặt nạ có thể thay đổi các hình thức biểu cảm khác nhau với tác động của ánh sáng và bóng tối trên mặt nạ khi diễn viên nghiêng mặt nạ một chút theo nhiều góc độ khác nhau.



Trang phục kịch Noh phỏng theo trang phục của thế kỷ XV. Chúng được làm bằng lụa lộng lẫy đủ màu sắc. Những bộ trang phục này biểu lộ típ nhân vật được miêu tả và tuân theo những quy định bắt buộc về việc sử dụng. Một số trang phục, đặc biệt là những bộ của những nhân vật đại diện cho tầng lớp quý tộc, rất lộng lẫy, được may bằng chỉ vàng và bạc. Trang phục trong kịch Noh vô cùng đa dạng. Chi tiết thiết kế, sự phối kết hợp màu sắc, chất liệu vải quý hiếm, và sức mạnh của hình thức mang đến cho khán giả kịch Noh một ấn tượng thật độc đáo, mạnh mẽ. Tất cả các nhân vật, giàu hay nghèo, trẻ hay già, đàn ông hay đàn bà, đều phục trang rất đẹp. Quy trình phục trang cũng rất phức tạp. Người diễn viên không thể tự phục trang được mà phải nhờ 2 đến 3 người khác giúp. Một bộ trang phục không nhất thiết chỉ phục vụ cho một nhân vật cụ thể trong một vở kịch nhất định. Một số bộ trang phục đã được sử dụng cho nhiều nhân vật khác nhau, một số bộ là duy nhất, và mặt nạ dùng cho kịch Noh cũng theo nguyên tắc đó.



Màu sắc và ảnh hưởng màu sắc chung của trang phục không thể thay đổi: ví dụ, những hình tròn nhỏ trên nền đen phải giữ nguyên, còn những họa tiết bên trong hình tròn đó như hoa hay những trang trí khác có thể thay đổi. Chiều dài không thể thay đổi, ngoại trừ những chi tiết nhỏ và kích cỡ của trang phục là có thể thay đổi chút xíu.



Kịch Noh sử dụng sân khấu không rèm, hình vuông với chiếc cầu nhỏ từ đằng sau sân khấu dẫn lên được dùng cho diễn viên ra vào sân khấu. Sân khấu kịch Noh, theo truyền thống, là ở ngoài trời và được che bằng mái che nghiêng dài. Vào thế kỉ trước, sân khấu đã được chuyển vào trong nhà. Vào thời Ashikaga (thế kỉ XIV), sân khấu được mở về các phía và có hình vuông như hình dạng ngày nay với 4 cột. Khán giả vây quanh sân khấu theo một vòng tròn lớn như sàn đấu Sumo. Dưới gầm sân khấu là 5 chiếc bình đất, được đặt trong vòng bao của các cột với mục đích cộng hưởng âm thanh. Còn có thêm 2 chiếc bình nữa dưới chỗ ngồi của các nhạc công và 3 chiếc nữa dưới chiếc cầu. Việc sắp đặt như thế này đã có từ thời Tokugawa. Mặt đất dưới sân khấu được đào xuống sâu 5 feet. Những chiếc bình không được để thẳng đứng, vì như thế có thể làm nghẽn âm thanh, mà được đặt nghiêng 45 độ. Đôi khi chúng được treo trên những sợi dây và đôi khi đặt trên các cột trụ. Những chiếc bảng được để đằng sau để đẩy âm thanh về phía trước. Sàn sân khấu rất phẳng, nhưng hơi dốc về phía trước một chút. Xây dựng một sân khấu cũng khó như xây dựng đền của đạo Thần Nhật Bản vậy. Cây thông được vẽ trên bức tường phía sau sân khấu mang tính biểu tượng, thể hiện truyền thuyết về kịch Noh đã được truyền từ trên trời xuống cho loài người thông qua cây thông này. Trong văn hoá Nhật Bản, cây thông mãi mãi xanh tươi đã trở thành biểu tượng của sự trường thọ và tính kiên định không gì lay chuyển nổi. Và dọc theo cầu là 3 cây thông nhỏ, cố định, là biểu tượng cho trời, đất và con người. Cây thông biểu tượng cho trời đứng gần sân khấu nhất, tiếp theo là cây biểu tượng cho con người và cuối cùng là cây biểu tượng cho đất.



Nhìn chung, việc sử dụng không gian và thời gian không được miêu tả một cách thực tế. Trong kịch Noh có sự tự do miêu tả về không gian và thời gian, đòi hỏi khán giả phải vận đến trí tưởng tượng của mình. Các nhân vật chỉ đi có vài bước và thông qua bài hát của họ hay của dàn hợp xướng, khán giả biết rằng họ đã đi một chặng đường dài. Hai nhân vật có thể xuất hiện trên sân khấu gần như sát bên nhau, nhưng khán giả phải hiểu là họ vẫn chưa nhìn thấy nhau. Trong khi điều này có thể gây bối rối cho những người xem lần đầu, thì đối với nhiều người đã hiểu được những quy ước nhất định, Noh đã tạo ra một bộ môn kịch nghệ truyền cảm và có tác động mạnh hơn rất nhiều kịch nghệ sân khấu hiện thực.



Tài liệu tham khảo



1. Shigetoshi K., Yoshio Y. and Takeskoshi K. (1963), Theatre in Japan (Nhà hát Nhật Bản), Japanese Ministry of Finance, Tokyo.



Kusano E.(1978), Stories Behind Noh and Kabuki Plays (Những câu chuyện đằng sau những vở kịch Noh và Kabuki), Tokyo News Service.
chỉ´ viết dc thế!!! mong các bạn ủng hộ!!!
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #4  
Old 13-09-2008, 17:36
Infernus9's Avatar
Infernus9 Infernus9 is offline
 
Panzer Railgun
Trải qua bao năm tháng cùng sự nỗ lực cố gắng không ngừng, từ một bé mèo nhút nhát level 0 nay Misaka đã là người đứng thứ 3 trong 7 siêu năng lực gia level 5 duy nhất của Academy City, danh hiệu Railgun - Electric Princess của nàng giờ đây không có ai là không biết đến. Dù đã trở thành thần tượng của biết bao chàng trai cô gái, ánh mắt của nàng mãi chỉ hướng về bạn mà thôi.
SP: 131
Phòng trưng bày huy hiệu
Overlord Overlord Grand Lord Grand Lord 
Zero Saber Girl Panzer VI Tiger 
Tổng số huy hiệu: 6
Tham gia ngày: 16-09-2007
Bài gửi: 4,312
Cấp Độ: 386
Rep: 18868
Infernus9 has a reputation beyond repute
Infernus9 has a reputation beyond reputeInfernus9 has a reputation beyond reputeInfernus9 has a reputation beyond reputeInfernus9 has a reputation beyond reputeInfernus9 has a reputation beyond reputeInfernus9 has a reputation beyond reputeInfernus9 has a reputation beyond reputeInfernus9 has a reputation beyond reputeInfernus9 has a reputation beyond reputeInfernus9 has a reputation beyond reputeInfernus9 has a reputation beyond reputeInfernus9 has a reputation beyond repute

Ở đây cũng có một bài về kịch No .
http://vnsharing.net/forum/showthread.php?t=34484
__________________

thay đổi nội dung bởi: Infernus9, 13-09-2008 lúc 17:38
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #5  
Old 07-04-2011, 20:35
hippoppo's Avatar
hippoppo hippoppo is offline
Citizen
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Tham gia ngày: 18-02-2011
Bài gửi: 8
Cấp Độ: 0
Rep: 110
hippoppo có một sức hút ghê gớm

Gửi tin nhắn qua Skype™ tới hippoppo
Chick 2

đây là 1 bài về nghệ nhân kịch Noh ^^
Nghệ nhân chơi trống Kotsuzumi của sân khấu kịch Noh Kyoto: Naoyasu Sowa 曽和尚靖


Ngày 13 tháng 6 năm 2009 bởi Miwa


Nghệ thuật của sân khấu Noh là sự pha trộn phức tạp những yếu tố múa, tuồng, âm nhạc và thơ ca được sáng lập vào giữa những năm 1300. Có thể nói, kịch Noh khởi nguồn gần như cùng lúc với sự ra đời của vương quốc Inca và đế chế Ottoman. Được phát triển đa dạng qua nhiều thế kỉ, kịch Noh ngày nay là bộ môn truyền tải nghệ thuật Nhật Bản một cách toàn diện. Những cử động, phục trang, âm nhạc và không khí của sân khấu là những gì bạn có thể thưởng thức với tất cả các giác quan mà không cần phải thông thạo tiếng Nhật.

Kịch Noh bao gồm diễn viên, ca sĩ và dàn nhạc công được gọi là hayashikata 囃し方.

Nhạc cụ được chơi chỉ gồm 4 loại:


sáo fue 笛






trống kotsuzumi小鼓(trống nhỏ)




trống otsuzumi大鼓 (trống lớn)




trống taiko太鼓 (trống lớn hơn)




Trong đó, kotsuzumi小鼓 là loại trống duy nhất có sự đối trọng và nhạc công không nhìn thấy được điểm gõ trống.






Ở Nhật, việc học và hoàn thiện 1 lĩnh vực nào đó là rất quan trọng, đặc biệt với một người khi đạt đến trình độ chuyên nghiệp. Vì vậy, mỗi nhạc công trong dàn hayashikata chỉ đảm nhiệm một nhạc cụ duy nhất.



Naoyasu Sowa曽和尚靖

Vào mùa hè năm ngoái, tôi đã gặp 1 nghệ nhân chơi trống rất thú vị tên là Naoyasu Sowa, tập trống từ năm lên 6 tuổi và đến giờ anh đã chơi kotsuzumi được 30 năm. Anh sinh trưởng trong một gia đình nổi tiếng có truyền thống về kotsuzumi. Ông của anh là một quốc bảo sống về kotsuzumi, được ca ngợi là Ningen Kokuho 人間国宝. Anh đã thừa hưởng tài năng xuất chúng ấy và cùng với sự khổ luyện, giờ đây, anh được biết đến với thanh âm kotsuzumi tao nhã nhưng đầy sinh lực. Anh nổi tiếng là một nhạc sĩ có cảm quan tinh tế. Những xúc cảm mà anh ấy dành cho kotsuzumi rất sâu sắc, đến mức đôi khi không có trống nhưng anh vẫn thể hiện những động tác như đang biểu diễn kotsuzumi thực sự.

Vì sao chúng tôi lại chọn giới thiệu Naoyasu Sowa trong Open Kyoto? Vì anh ấy đang sống tại Kyoto, 1 cố đô cổ kính nhưng lại rất thân thiện, năng động và cởi mở. Nếu như mọi người dân Kyoto đều mến phục anh ấy, chắc chắn Kyoto sẽ dễ được thấu cảm hơn và mọi người đều được hưởng phúc lợi từ những di sản văn hóa của Kyoto. Điều đó thực sự phụ thuộc vào mỗi người dân nơi đây. Thêm 1 điều nữa, đó là Sowa mặc kimono mỗi ngày! Mà tôi thì cực thích kimono! Anh ấy đã góp phần trong việc duy trì nét truyền thống Nhật Bản cho những con người của đất nước.

Sowa truyền tải kotsuzumi đến mọi vùng miền Nhật Bản, từ Hokkaido cho đến Shikoku, và anh ấy rất đam mê việc bồi dưỡng cho những thế hệ nhạc công sau này. Tình yêu đối với Nhật Bản đã thôi thúc anh tổ chức nhiều hoạt động cho mọi người như mở các lớp học truyền đạt văn hóa kịch Noh. Anh cũng tổ chức nhiều đợt hòa nhạc chỉ bao gồm những nhạc cụ dùng cho kịch Noh, gọi là hayashido 囃子度.

Các nhạc cụ kịch Noh truyền tải đến khán giả mọi tình huống và cảnh quan bằng sự kết hợp các âm hưởng với nhau. Vì vậy, bạn có thể thưởng thức Noh ngay cả khi không biết tiếng Nhật.



Một vài hình ảnh từ lớp học “Petite Noh” của Naoyasu Sowa vào mùa hạ năm 2008.
















Tham khảo:
http://www.p-kodou.com/english.php (Trang web bằng tiếng Anh về Naoyasu Sowa)

http://www.the-noh.com


Nguồn:
http://openkyoto.com/artist/noh-thea...yasu-sowa.html

thay đổi nội dung bởi: hippoppo, 01-05-2011 lúc 21:19
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Bookmarks & Social Networks


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 13:40.

Bản quyền oOo VnSharing Group oOo © 2007 - 2012
Vui lòng ghi nguồn VnSharing.net khi bạn dùng các bài viết của site. LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: 0945255655. Mail: qc.vnsharing@gmail.com
Powered by: vBulletin Copyright © by 2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.


Sửa chữa laptop Đà Lạt | linh kiện laptop đà lạt | sửa chữa máy tính đà lạt | thiết kế website đà lạt | lắp đặt mạng camera đà lạt