oOo VnSharing oOo

Chào mừng đã đến với forum oOo VnSharing oOo.

Bạn chưa đăng kí (hoặc chưa đăng nhập) nên quyền lợi của bạn sẽ bị hạn chế. Việc đăng kí làm thành viên hoàn toàn miễn phí, sau khi đăng kí bạn có thể post bài, tham gia thảo luận, liên lạc với các thành viên khác qua hệ thống tin nhắn riêng, yêu cầu manga/anime... và rất nhiều quyền lợi khác. Thủ tục đăng kí rất nhanh chóng và đơn giản, hãy Đăng Kí Làm Thành Viên!

Nếu bạn quên mật khẩu, xin nhấn vào đây.

Nếu bạn gặp trục trặc trong vấn đề đăng kí hoặc không thể đăng nhập, hãy liên hệ với chúng tôi.
Go Back   oOo VnSharing oOo > VnSharing School > Khoa Học - Xã Hội > Lịch Sử - Văn Hóa > Lịch sử - Kỹ thuật Cận Hiện Đại

HD cho người mới | ĐĂNG KÍ VIP MEMBER: KHÔNG QUẢNG CÁO, KHÔNG CẦN POST BÀI ĐỂ DOWNLOAD!
Mua sắm bằng Rep! | VnSharing Shop   Facebook

Torrent Big Event lần 5 ~ Mừng sự kiện đứt cáp quang biển tháng 9/2014


Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 18-09-2008, 13:39
nghoqu's Avatar
nghoqu nghoqu is offline
Gấu điên
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Phoenix The Engineer Moogle The Cleric 
The Bard The Magician The Cleric Globalmeter 
Tổng số huy hiệu: 8
Tham gia ngày: 21-04-2008
Bài gửi: 232
Cấp Độ: 23
Rep: 1147
nghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond repute

Nhà Nguyễn - 9 Chúa 13 Vua

Đây là tài liệu nghoqu tổng hợp lại từ 1 số nguồn trên mạng lẫn trong các sách.

Khi kể về cuộc đời của các vua chúa, không thể không nhắc đến người mà nhà Nguyễn tôn là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế. Theo Đại Nam Quốc sử cũng như theo Nguyễn Phúc tộc thế phả thì thân sinh của Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng tên là Nguyễn Kim

Nguyễn Kim là con trai trưởng của Trừng Quốc Công Nguyễn Văn Lựu, một vị quan trong thời nhà Hậu Lê. Nguyễn Kim sinh năm Mậu Tý(1468), lúc còn thơ ấu đã có những biểu hiện thông minh khác thường, lớn lên tài kiêm văn võ. Đời Lê Chiêu Tông(1516-1524) ông được vua Lê ban tước An Thanh hầu, chức Tả vệ điện tần tướng quân, trấn nhậm tỉnh Thanh Ba

Năm Đinh Hợi(1527) Mạc Đăng Dung giết vua Lê Cung Hoàng cùng 1 số quan lại nhà Lê tự xưng là làm vua, mở ra triều đại nhà Mạc. Được tin Mạc Đăng Dung tiếm vị, Nguyễn Kim đang trấn thủ ở Thanh Ba vội dẫn binh tướng tùy tùng chạy sang Ai Lao. Ở đây ông khôi chiêu mộ nghĩa binh mưa khôi phục nhà Lê. Khi thực lực đã mạnh ông dẫn binh về đánh họ Mạc. Vì quân ít nên thất bại, ông lại cùng thuộc hạ chạy sang Ai Lao 1 lần nữa. Để danh chánh ngôn thuận, năm Quý Tỵ(1533) ông cùng 1 số cựu thần nhà Lê tôn Lê Ninh con vua Chiếu Tông lên ngôi lấy hiệu là Lê Trang Tông. Từ đó hào kiệt khắp nơi theo về càng đông. Lê Trang Tông biến tỉnh Thanh Ba thành căn cứ địa, chiêu tập binh chờ ngày khôi phục.

Mùa xuân năm Quý Mão(1543) từ Thanh Hóa, vua Lê Trang Tông tiến quân ra Bắc đồng thời cho người sang Ailao gọi ông về để điều khiển binh tướng, tổng chỉ huy toàn bộ thủy lục quân. Ông được vua Lê phong chức Tái Tể Đô Tướng Tiết Chế tướng sĩ tư dinh thủy bộ. Với chức vụ này, ông tỏ ra là vị tướng tài, quân của ông tiến đâu thắng đó, thế mạnh như chẻ tre; binh tướng của nhà Mạc phải rút lui dần để cố thủ.

Năm Ất Tỵ ( 1545) ông tâu vua cho tiến binh ra lấy Đông Đô, nhưng ngày xuất phát gặp phải lụt lớn nên phải đình lại, bộ Tham mưu của ông phải quay về Thanh Hóa. Sau đó, ông bị hàng tướng của nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc hại chết. Ông mất ngày 20 tháng 5 năm Ất Tỵ khi sự khôi phục kinh đô Thăng Long trong tầm tay. Việc ông mất đột ngột là cho vua Lê Trang Tông sững sờ, vô cùng thương tiếc. Ông được truy tặng tước Chiêu Huân Tổng Công, thụy là Trung Hiếu. Mộ ông táng tại núi thiên tôn, huyện Tống Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Lúc sinh thời ông có 3 vợ nhưng chỉ sinh được 3 người con : 2 con trai là Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng cùng môt gái là Nguyễn Thị Ngọc Bảo về sau gả cho Trịnh Kiểm
__________________

thay đổi nội dung bởi: nghoqu, 16-10-2008 lúc 14:02
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #2  
Old 18-09-2008, 15:09
nghoqu's Avatar
nghoqu nghoqu is offline
Gấu điên
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Phoenix The Engineer Moogle The Cleric 
The Bard The Magician The Cleric Globalmeter 
Tổng số huy hiệu: 8
Tham gia ngày: 21-04-2008
Bài gửi: 232
Cấp Độ: 23
Rep: 1147
nghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond repute

Nguyễn Hoàng
Chúa Tiên
(1558-1613)


Con người chí lớn

Nguyễn Hoàng là con trai út của Nguyễn Kim và bà Nguyễn Thị Mai. Ông là em của Nguyễn Uông và Nguyễn Thị Ngọc Bảo. Theo gia phả thì ông sinh nhằm ngày 10/6 năm Ất Dậu . Từ ngày còn bé ông đã được giao cho người cậu ruột là Nguyễn Ư Kỹ nuôi dạy. Theo Đại Nam thực lục chính biên, ông có tướng tốt " vai lân, lưng hổ, mắt phượng trán rồng" đúng là người phi thường. Về tính tình thì khảng khái buồn vui ít lộ ra mặt , làm việc gì cũng nghiêm cẩn. Ông vốn thông minh mẫn tiệp, học rộng biết nhiều văn võ tinh thông. Khi thân phụ được Lê Trang Tông mời về cho giữ binh quyền, ông xin cậu theo cha lập công. Ông được chiến sĩ dưới quyền tin phục và mến mộ nên đã gặt hái được nhiều công trạng trong " diệt Mạc phù Lê" Tuy còn còn trẻ nhưng ông tỏ ra là người có chí lớn.

Những ngày ẫn nhẫn

Năm Ất tỵ ( 1545) , thân phụ ông bị Dương Chấp Nhất ám hại ,binh quyền lọt vào tay anh rể là Trịnh Kiểm là một người nham hiểm, ngoài mặt lúc nào cũng tỏ ra quý mến anh em ông, nhưng bên trong thì rất căm ghét nhất là Nguyễn Uông. Trịnh Kiểm lo gây bè kết phái, gây mâu thuẫn trong nội bộ quân Nguyễn Uông và sau đó hại Uông chết. Giết xong Uông, Trịnh Kiểm bắt đầu củng cố địa vị, đưa tay chân của mình vào nắm giữ những việc then chốt. Khi đã biết chắc không ai làm gì được, Trịnh Kiểm bắt đầu có những biểu hiện chuyên quyền. Nguyễn Hoàng bấy giờ là cái gai trước mắt, Trịnh Kiểm tìm mọi cách hãm hại nhưng chưa có dịp. Lúc bấy giờ ông đang giữ chức Thái bảo, tước Đoan Quốc Công mà Trịnh Kiểm lúc nào cũng để ý đến ông, ông suy nghĩ mãi vẫn không tìm được kế thoát thân. Một hôm ông đến thăm câu là thái phó Nguyễn Ư Kĩ, cho cậu biết dã tâm cua Kiễm. Thái phó bảo với ông rằng:”Kiểm đã hại anh cháu , giờ đang tìm cách hại cháu để dứt hậu họa vậy nên cháu hãy mau mau tránh xa. Đất Thuận Hoá vốn là chốn xa xôi hiểm trở có thể giữ yên thân được, cháu nên nhờ chị cháu nói với Trịnh Kiểm cho khéo để xin vào trấn nhậm đất đó, mới có thể mưu đồ việc lớn về sau” Nghe cậu nói thế Nguyễn Hoàng rất mừng nhưng vẫn không để lộ ra mặt. Nhân ngày đầu năm vào thăm chị, rồi khi không có Trịnh Kiểm, ông xin chị giúp để bảo tồn nòi giống về sau. Ngọc Bảo khóc và hứa tìm cách giúp. Được chị hứa ông trở về bí mật chuẩn bị. Nghe nói có Nguyễn Bỉnh Khiêm là người tài giỏi có thể được việc quá khứ vị lai, ông bí mật đến xin vấn kế và đoán giùm vận mạng của mình. Cảm tấm long thành và thương cho hoàn cảnh của ông, Trạng Trình lấy giấy và viết cho ông 8 chữ: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Hiểu được thâm ý trong câu sấm trùng hơp với lời dạy của cậu nên ông rất mừng. Trịnh Kiểm vố đa nghi song nghe Ngọc Bảo xin cho Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm đất Thanh Hóa thì nghĩ rằng Thuận Hóa là đất mới cò lam sơn chướng khí, nghĩ rằng Hoàng chẳng làm gì được, lại muốn mượn tay quan quân họ Mạc giết Hoàng để tránh tiếng cho mình, nên đồng ý và tâu lên vua Lê xin cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa.

Thoát khỏi lao lung

Đầu năm Mậu Ngọ(1558) Nguyễn Hoàng dẫn con em và những người thân tín vào Thuận Hóa. Sợ Trỉnh Kiểm đổi ý cho quan quân theo bắt, nên ông ngày đêm cướp đường đi gấp. Cuộc hành trình vào Nam của ông và tùy tùng thật gian lao vất vả. Vài ngày sau ông đế Ái Tử, huyện Đăng Xương. Vừa đến nơi theo như người xưa kể lại, thì dân đem đến tặng ông và đoàn tùy tùng 7 ghe nước trong. Cậu ông tức thái phó Uy Quốc Công Nguyễn Ư Kĩ bảo với ông rằng: “ Trời đã ban cho tất có điềm trước, nay cháu mới đến mà dân đã đem biếu nước là điềm được nước đó”. Nguyễn Hoàng rất mừng, ông vỗ về dân quân và quyết định lập dinh tại Ái Tử. Tại đây Nguyễn Hoàng bắt đầu mở 1 chiến dịch thu phục lòng người, ban bố hiệu lệnh nghiêm minh, thong cáo chiêu hiền đãi sĩ, bước đầu giảm sưu thuế cho dân, nên toàn dân khắp vùng mến mộ, những bậc hiền tài tìm tới giúp rất đông. Ái Tử trở thành một nơi đô hội, dân sống ấm no hạnh phúc, xưng tụng ông là Chúa Tiên. Sau những ngày tháng lao đao vất vả, sống trong cảnh lo âu hãi hùng, giờ đây Nguyễn Hoàng như con rồng đủ vây cánh đã thoát khỏi cảnh lao lung, bay vút lên trời xanh , lộ diện là 1 con người phi thường.

Những ngày xây dựng

Sau 1 thời gian đóng cơ dinh tại Ái Tử, thấy vùng này chật hẹp, trống trải nên năm Canh Ngọ ( 1570), Chúa Tiên mới dời dinh đến làng Trà Bát cũng thuộc huyện Võ Xương. Dinh mới ở Trà Bát kiên cố và lớn hơn nhiều so với dinh ở Ái Tử. Cũng vào năm này chúa Tiên được vua Lê phong làm Tổng trấn tướng quân kiêm nhiệm 2 xứ Thuân Quảng. Nhận được sắc phong chúa Tiên càng ra sức củng cố lực lượng, lập đồn trại ở những nơi hiểm yếu để phòng giữ, mở mang các trục lộ giao thong, đặt các trạm để tiện việc lien lạc và đi lại. Ông cho tổ chức lại quân đội , tuyển mộ quân sĩ và tập luyện kĩ càng, nhờ vậy ông có 1 đội quân hùng hậu. Để tăng them của cải vật chất, ông thi hành chính sách khai hoang phục hóa, đưa dân đi lập những ấp mới, cung cấp lương thực thực phẩm cho họ những năm đầu. Đồng thời, miễn thuế trong 1 thời gian. Nhờ vậy diện tích canh tác tăng nhanh, lúa gạo dồi dào, ông lại khuyến khích buôn bán trao đổi vật phẩm giữa các miền, nhờ thế 1 vài nơi đã trở nên trù phú hơn trước.
NĂm 1573 tức năm Quí Dâu, Lê Trang Tông băng hà, Lê Thế Tông lên ngôi sai người vào Thanh Hóa sắc phong chúa chức Thái phó.

Trở lại đất Bắc


Ở Đàng Ngoài, Trịnh Kiểm mất , con là Trịnh Tùng lên nối ngôi Chúa. Họ Trịnh bây giờ nắm hết quyền uy trong nước. Nất nhất việc gì cũng do họ Trịnh định đoạt rồi mới tâu lên vua Lê rõ. Khi thay Trịnh Kiểm ,Trịnh Tùng tiến quân ra lấy Thăng Long, đưa vua Lê về rồi thừa thắng đuổi tàn quân họ Mạc lên Cao Bằng. Với chiến công này Tùng càng vênh vênh tự đắc và càng coi vua không ra gì. Được tin vua Lê trỡ về kinh đô, Nguyễn Hoàng đem quân ra yết kiến. Chúa được vua Lê phong Trung quân đô đốc phủ, tả đô đốc chương phủ sự, Thái úy đoan quận công và bắt ở lại kinh đô để lo quốc chính. Trong suốt 8 năm sống trên đất Bắc, Chúa thường đem quân đánh họ Mạc lập nhiều chiến công.

Năm Kỉ Hợi(1599), vua Lê Thế Tông băng hà, vua Kính Tông phong cho Chúa chức Hữu thừa tướng. Tuy được trọng vọng ở kinh đô, nhưng nghĩ lại âm mưu họ Trịnh trước đây, Chúa vẫn nơm nớp lo sơ, ngày đêm mong thoát ra nanh vuốt họ Trịnh. Trịnh Tùng tuy gọi ông bằng cậu nhưng không muốn” thả hổ về rừng” nên lần nữa tìm cách bắt ông ở lại kinh đô, giam lỏng tại đây.

Thoát cũi sổ lồng


Năm Canh Tý ( 1600), nhân có bọ Phan Ngan và Bùi Văn Khuê khởi loạn ở Đàng Trong, ông tâu xin với vua Lê và chúa Trịnh Tùng cho ông đem quân vào phủ dụ. Để Trịnh Tùng khỏi nghi ngờ, ông phải để con là Nguyễn Hải và cháu là Nguyễn Hắc làm con tin. Nghĩ rằng Hoàng khó mà làm phản được, lại thêm bọn phản loạn ở Đàng Trong, ngoài Hoàng ra không ai đánh dẹp được nên vua Lê và Trịnh Tùng thuận cho ông mang quân đi. Lần này ra đi là nhất định không trở về nữa nên ông huy động toàn bộ binh tướng thuộc hạ dưới quyền nhắm Thuận Hóa tiến phát. Cũng như lần trước cuộc hành quân thật gian nan vất vả vì ông hiểu rằng cách xa đất Bắc chừng nào thì tính mạng càn an toàn chừng đó, nên bất kể ngày đêm ông cho quân cướp đường tiến bước mãi cho đến khi đặt chân lên đất Ái Tử ông mới thở phào nhẹ nhõm. Phủ dụ xong bọn Phan Ngan, ông chú tâm kiện toàn và củng cố đất đai mới. Một mặt cho người dò song dò núi để vẽ họa đồ nơi hiểm yếu, một mặt vẫn tiếp tục chính sách di dân lập ấp, khai hoang phục hóa. Với ý đồ bấy lâu là tách khỏi miền Bắc, Chúa thường đi đây đi đó để xem phong thổ, tìm chỗ đóng đô lâu dài .

Tương truyền rằng, một ngày nọ ông đi vào địa phận xã Hà Khê, nay là làng An Ninh, huyện Hương Trà, Thừa Thiên thấy một gò cao, trông xa giống như một đầu một con rồng đang ngoái đầu nhìn lại, phía trước mặt là một con sông xanh biếc nước trong leo lẻo, phía sau gò là một hồ rộng được thông với 1 con sông nhỏ. Cảnh trí quá đẹp nên Chúa và đoàn tùy tùng dừng chân nghỉ ngơi đồng thời cho gọi dân địa phương đến để hỏi hang. Chúa được dân làng cho biết cách đây ít lâu, mỗi khi đi qua gò đồi này, mọi người đều gặp một bà già đầu tóc bạc phơ, mình mặc áo đỏ vận quần xanh và nói với họ rằng chẳng bao lâu sẽ có 1 vị chân chúa đi ngang qua đây và sẽ xây trên đỉnh đồi này một ngôi chùa để tụ không khí, bền long mạch. Vừa rồi ai trong làng cũng thấy bà già báo mộng mau mau đi đón vị chân chúa. Nghe dân làng kể lại chúa rất mừng nên ra lệnh xây dựng 1 ngôi chùa thật đẹp. Để ghi nhớ chú đặt tên chùa là Thiên Mụ . Chùa được khởi công xây năm 1601. Sau khi xây xong , chúa tổ chức lễ khánh thành rất trọng thể, nhân dân được vui chơi mấy ngày trời.

Dưới thờ chúa trị vì nhân dân Đàng Trong sống 1 cuộc đời ấm no và thanh bình. Chí có 1 cuộc đánh nhau phía Nam vào năm Tân Hợi ( 1611), quân Chiêm Thành từ Đồ Bàn kéo ra xâm phạm Thuận Quảng. Chúa sai quân đánh dẹp đẩy quân Chiêm thành vào tận Diên Ninh, chiếm lấy đất rồi lập thành phủ Phú Yên. Đây cũng là bước đầu chúa Tiên mở rộng bờ cõi về phía Nam.

Ngày 3/6 năm Quý Sửu (1613), Chúa lâm bệnh sai gọi thế tử Nguyên về dặn dò xong việc nhà việc nước thì băng, thọ 89 tuổi.

Lúc đầu mộ chúa tang tại Thạch Hãn, sau cải tang về vùng núi La Khê thuộc huyện Hương Trà.

Có thể nói , Chúa Tiên là vị chúa đầu tiên khai sang ra triều Nguyễn.

thay đổi nội dung bởi: nghoqu, 18-09-2008 lúc 20:37
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #3  
Old 21-09-2008, 15:53
nghoqu's Avatar
nghoqu nghoqu is offline
Gấu điên
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Phoenix The Engineer Moogle The Cleric 
The Bard The Magician The Cleric Globalmeter 
Tổng số huy hiệu: 8
Tham gia ngày: 21-04-2008
Bài gửi: 232
Cấp Độ: 23
Rep: 1147
nghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond repute

NGUYỄN PHÚC NGUYÊN
CHÚA SÃI
( 1613- 1635)


CHỮ PHÚC

Năm Quí Sửu 1613, chúa Tiên tuổi già sức yếu, biết mình không thể sống bao lâu nữa mới cho triệu thế tử Nguyên, người con thứ sáu của ngài, hiện đang tr6a1n thủ tại Quảng Nam và gọi đến bên giường dạy rằng: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, an hem trong nhà phải thuận hòa, con mà giữ được lời dặn đó thì ta nhắm mắt cũng không ân hận gì”, lại bảo:”Đất Thuận Quảng địa linh nhân kiệt, phía Bắc có Hoành Sơn và Linh Giang, đại thế hiểm trở, phía Nam có Hải Vân sơn và Thạch Bi sơn bền vững. Phía Đông biển rộng mênh mông. Núi nhiều sản vật muông thú quý hiếm, biển lắm cá tôm, thật đúng là đất địa linh cho người hung dụng võ. Nếu muốn làm nên sự nghiệp lớn phải biết dạy dân, biết thương yêu dân,, chăm lo tập luyện sĩ tốt, có như thế mới chống được họ Trịnh xây dựng sự nghiệp muôn đời. Nếu thế và còn yếu thì nên ẩn nhẫn chờ đợi thời cơ thuận lợi chứ không nên vọng động, nên nhớ lấy lời ta dặn”. Thế tử Nguyên khóc dập đầu bái lạy tạ vâng mệnh. Ngày 3 tháng 6 năm đó, Chúa Tiên băng. Thế tử Nguyên lên kế vị, lúc đó đã 51 tuổi , quần thần tôn xưng là Sãi Vương.

Theo sử sách ghi lại, thì trước khi thế tử Nguyên ra đời có nhiều điềm lạ báo trước. Tương truyền rằng lúc mẹ ngài có thai, chime bao thấy thần nhân đưa cho 1 tờ giấy có đề chữ “ Phúc”. Lúc thức tỉnh thấy điềm lạ, bà đem kể cho mọi người hay và đoán là mộng gì. Mọi người đều chúc mừng bà vì chắc chắn sinh ra 1 quý tử và đề nghị bà đặt tên cho đứa trẻ là Phúc. Bà ngầm nghĩ một lúc rồi nói rằng nếu đặt tên nó là Phúc thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họ cùng hưởng, bà đề nghị lấy chữ này là chữ lót. Và khi thế tử ra đời bà đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên. Họ Nguyễn về sau đều lấy chữ Phúc là tên lót. Cho nên năm Quý Hợi (1563) là năm khởi đầu của chữ Phúc trong dòng họ Nguyễn tộc.

SỬA SANG NỘI TRỊ, TUYỂN CHỌN HIỀN TÀI

Lên ngôi chúa xong, thấy dinh cũ đóng ở Vũ Xương chật hẹp, địa thế lại trống trải, nên chúa truyền lệnh dời vào xã Phước Yên, huyện Quảng Điền lập dinh mới. Dinh mới xây dựng xong thật kiên cố bề thế, thành cao hào sâu , bên trong bố trí rất hợp lí, nếu có giặc tấn công cũng có thể phòng thủ trong 1 thời gian dài. Về mặt nộpi trị, chú Sãi vẫn tiếp tục đường lối của Chúa Tiên để lại, dung đức vỗ về dân chứng, chiêu hiền đãi sĩ, tiếng lành đồn xa, những bậc hào kiệt khắp nơi đều tìm về với chúa. Chúa còn ra lệnh cho các quan lại phải tiến cử người hiền và xem đó là 1 tiêu cuẩn để đánh giá khả năng và sự hiểu biết của các quan. Nhờ chính sách này mà chúa Sãi gặp 1 hào kiệt bậc nhất đương thời đó là Đào Duy Từ.

Theo sử sách ghi lại thì Đào Duy Từ vốn là con nhà xướng ca, mà đã là con nhà xướng ca thì dẫu tài giỏi bậc nào cũng không được đi thi để ra làm quan. Cũng chính vì luật lệ vô lí đó mà Đào Duy Từ ở Đàng Ngoài không được đi thi

Khi vào Nam, đế kiếm kế sinh nhai, Đào Duy Từ đã chăn trâu cho quan khám lý Trần Đức Hòa. Tác phong và hành trang của Đào Duy Từ đã làm cho quan khám lý chú ý. Sau nhiều lần thử tài ,ông biết Đào Duy Từ là một bậc kì tài nên đã nhận làm con.. Đào Duy Từ thường tự ví mình với Khổng Minh, ông có làm tập thơ Ngọa Long Cương để nói lên cái chí của mình. Nhân có lệnh của chúa bắt các quan phải tiến cử người hiền, Trần Duy Hòa quyết định tiến cử Đào Duy Từ cho chúa. Trước đó, Trần Đức Hòa đã đến phủ chúa để ca ngợi tài kinh bang tế thế của Đào Duy Từ . Chúa rất bằng long và hẹn ngày tiếp kiến.
Được chúa nhận lời, Trần Đức Hòa vui sướng báo cho Đào Duy Từ biết và sắm sửa mọi thứ đế Đào Duy Từ tiếp kiến chúa.

CHÚA SÁNG GẶP TÔI TÀI

Đúng ngày hẹn với chúa, quan khám lí Trần Đức Hòa sắm sửa áo xiêm mũ mão cho Từ, Đào Duy Từ từ chối không chịu ăn mặc và đội mảo do Trần Đức Hòa sắm sửa cho, ông bảo:
-Thưa cha, con vốn chỉ là người dân bình thường chưa có chức tước gì nên không giám mạo phạm mang áo đội mão.

Mặc cho quan khám lí nói, Đào Duy Từ vẫn mặc đồ thường để đầu trần vào diện kiến chúa.

Chúa Sãi cũng được báo trước nên ra ngồi sẵn ở nội điện chờ ca con Đào Duy Từ đến. Chúa cũng tìm các để thử tài Từ. Hôm đó, chúa mặc áo trắng, đi hia xanh, tay cầm long trượng vai đeo túi vải, ngồi vào ghế giữ điện để chờ đợi Từ. Khi biết cha con Từ đến, chúa tay cầm long trượng, vai mang túi vải ra cửa đón. Từ bước vào ,ngước mặt lên thấy một người phương phi oai vệ, mắt sang mặt tươi, đang nhìn mình, Từ quay lại hỏ cha:

-Thưa cha, người đang đứng trên bục cửa là ai thế?

Quan khám lý đáp rất khẻ vào tai Từ:

-Đó là vương thượng con mau cúi xuống lạy chào đi.

Đào Duy Từ nghe cha nói cỉ nhếch mép cười, rồi bỗng nhiên quay gót trở ra. Quan khám lí thấy vậy chạy theo níu Từ và quở rằng:

-Chúa thượng nghe cha tâu rất trọng con mới ngự ra đón, sao con có cử chỉ vô lễ thế.

Đào Duy Từ lễ phép đáp:

-Thưa cha, người mà chan ói đúng là chúa thượng rồi, nhưng với cách phục sức như một người sắp đi chơ với cung tần mĩ nữ như ngài, nếu con đến lạy chào, vô tình con đã mang tội phạm thượng vì chào không đúng lúc làm mất thì giờ của ngài, vì thế con không dám lạy chứ con có tội tình gì đâu mà cha quở con?

Nghe Từ biện bạch, quan khám lí càng tức giận và lớn tiếng quát mắng. Đào Duy Từ chỉ cười chứ không chịu lạy chào. Chúa Sãi vốn là người rất thông minh, vả lại ngài cũng chỉ định thử tài Từ nên khi nghe thấy 2 cha con cãi nhau, Chúa vội vã trở vào trong thay đổi y phục rồi mới trở ra, sai quan đem mũ áo cho Đào Duy Từ rồi mời vào diện kiến. Vừa gặp nhau, chúa tôi chuyện vãn thật tương đắc khác nào cá gặp nước. Từ đó, chúa giữ Đào Duy Từ lại để tham mưu cho ngài. Từ đem hết sở học của mình để giúp chúa thực hiện ý lớn.

ĐỌ CHÍ VỚI CHÚA TRỊNH

Dưới sự trị vì của chúa Sãi, Đàng Trong ngày càng hung mạnh, các nước lân bang như Chân Lạp, Chiêm Thành đều thần phục và hàng năm tế cống.

Nhờ bản thân Chúa tài giỏi, biết người biết việc, nhờ chính sách chiêu hiền đãi sĩ nên dưới thời chúa ngoài Đào Duy Từ còn tập trung được nhiều hiền tài như Phúc Kiều, Đ2inh Hùng, Nguyễn Hữu Dực, Nguyễn Hữu Tiến

Việc miền nam hung mạnh là 1 nỗi lo của chúa trịnh ở đàng ngoài. Năm Canh Thân ( 1620) họ Trịnh lấy cớ cống nạp trễ đem quân quấy phá mặt Bắc. Chúa đích thân đem binh chống cự và từ đó đạon tuyệt với đàng ngoài. Họ Trịnh căm hận vô cùng.

Năm Đinh Mão, Trịnh Tráng lại cứ quân tiến đánh phía bắc nhưng bị thua kéo quân về. Đến năm Kỉ Tị, họ trịnh lại muốn xâm lấn đàng trong. Để có cớ, họ sai sớ giả bộ phụng chỉ vua Lê sắc phong cho chúa, nhưng mưu đó bị Đào Duy Từ phát hiện. Nghe lời Từ chúa hứa sẽ hang năm tuế cống như trước. Sau khi phái đoàn sứ giả họ Trịnh đi về, theo lời khuyên của Đào Duy Từ chúa cho huấn luyện sĩ tốt , đóng giữ nơi hiểm yếu. Chúa còn ra lệnh co Đào Duy Từ xây lủy Trường Dục, Nhật Lệ và Trường Sa vô cùng kiên có, tạo thế vững chắc cho Đàng Trong. Sau khi thấy thực lực của mình đã hung hậu, theo mưu Đào Duy Từ năm Canh ngọ(1630). Chúa sai làm 1 chiếc mâm 2 đáy, trên để vật phẩm cò dưới để sắc phong của vua Lê. Chúa sai Lại Văn Khuông làm trưởng đoàn , ra Bắc tiến cống. Khi khởi hành, Đào Duy Từ gọi Khuông lại và và dặn kế thi hành. Đến Thăng Long phái đoàn được vua Lê và chúa Trịnh tiếp đón nồng hậu. Lại Văn Khuông khéo léo trả lời các câu mang tính chất dò hỏi của vua Lê chúa Trịnh và các quần thần. Để khoe sự giàu có hung mạnh của mình, Khuông được chúa Trịnh cho đi thăm kinh đô cùng các nơi luyện quân khác. Khuông và chúa Trịnh ngày ngày đi thăm kinh đô cũng giả bô khen đang ngoài làm chúa Trịnh rất vừa ý, nên không để ý gì cả.Một ngày nọ, Khuôn giả vờ dẫn phái đoàn đi thăm kinh đô, rồi vội vã lên thuyền bất thần trốn về Nam. Đến chiều không thấy Khuông về, quan phụ trách quán dịch sinh nghi mới bẩm lên chúa Trịnh. Chúa Trịnh thấy có gì mờ ám nên mới ra lệnh lấy các vật tuế cống để kiểm soát. Khi kiểm mới phát hiện chiếc mâm đồng 2 đáy. Chúa cho phá ra thì thấy bên trong là 1 sắc phong của vua Lê và 1 bài thơ như sau:

Mâu nhi vô địch
Mịch phi kến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch


Chúa Trịnh cùng cả triều thần chuyền tay nhau đọc bài thơ nhưng chẳng ai hiểu ý gì cả. Cuối cùng chúa Trịnh phải mời Phùng Khắc Khoan đến để đọc và giải.

Đọc xong 4 câu thơ, Phùng Khắc Khoan tâu với chúa:
-Khải bẩm câu này chẳng có ý nghĩa gì hết hết, chẳng qua đây là lối chơi chữ của Đào Duy Từ thôi.

Chúa hỏi:

-Thế 4 câu đó và sắc phong này có liên quan gì.?

Phùng Khắc Khoan đáp:

- Thần xin giải thích từng câu để chúa rõ. Thế rồi Phùng liền giải thích như sau:

Câu đầu: “Mâu nhi vô địch

“Mâu” này là chữ mâu, địch là dấu phẩy, mâu mà không có dấu phẩy dấu móc là chữ Dư có nghĩa là tôi, ta.

Câu 2: “Mịch phi kiến tích”

Mịch trên chữ bất, dưới chữ kiến. Như vậy nếu chữ Mịch bay hết dấu tích của chữ kiến thì còn lại chữ Bất

Câu 3: "Ái lạc tâm trường"

Chữ Ái có chữ tâm ở giữa, nếu để lạc mất chữ tâm đi thì còn lại chữ Thụ

Câu 4 : "Lực lai tương địch"

Chữ Lực cùng đối chọi với chữ Lai tức là chữ Sắc.

Như vậy cả 4 câu có nghĩa là “ Dư Bất Thụ Sắc” tức là ý của chúa Nguyễn bảo không nhận sắc phong nên đem trả lại. Nghe xong chúa Trịnh giận tím mặt vì thua trí Đào Duy Từ nên ra lệnh đuổi bắt Khuông nhưng Khuông đã cao chạy xa bay. Trịnh Tráng chuẩn bị binh mã quyết san bằng miền nam để rửa nhục. Năm Quí Dậu ( 1633) Trịnh Tráng rước vua Lê nam tiến nhưng bị quân nam đánh bại phải tháo chạy về bờ bắc song Linh Giang (sông Gianh).Hai bên lấy sông làm ranh giới đào hào đắp lũy chứ không tấn công nhau nữa.

Tháng 10 năm Ất hợi (1635), thấy trong người không khỏe, chúa cho gọi thế tử Nguyễn Phúc Lan và Nguyễn Phúc Khê về vào chầu. Ngài dặn dò Phúc Lan, gởi gắm việc nước cho Phúc Khê rồi mất, thọ 73 tuổi

Lúc đầu mộ ngài tang tại huyện Quảng Điền sau cải tang về làng Hải Cát, huyện Hương Trà. Lăng ngài có tên là Trương Diễn.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #4  
Old 25-09-2008, 14:12
nghoqu's Avatar
nghoqu nghoqu is offline
Gấu điên
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Phoenix The Engineer Moogle The Cleric 
The Bard The Magician The Cleric Globalmeter 
Tổng số huy hiệu: 8
Tham gia ngày: 21-04-2008
Bài gửi: 232
Cấp Độ: 23
Rep: 1147
nghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond repute

NGUYỄN PHÚC LAN
CHÚA THƯỢNG
(1635-1648)

Nguyễn Phúc Lan sinh ngày 5/7 năm Tân Sửu là con thứ 2 của chúa Sãi và bà Nguyễn Thị Giai

Năm 1631, Thế tử Nguyễn Phúc Kì con chú Sãi qua đời nên Nguyễn Phúc Lan được lập làm thế tử.

Năm Ất Hợi (1635), Chúa Sãi băng hà, thể theo di chiếu của, Ngài được quần thần tôn lên kế vị, gọi là chúa Thượng, để giúp đỡ ngài buổi đầu, thúc phụ của chúa là Nguyễn Phúc Khê làm cố vấn.

Được tin chúa Sãi băng, người em của chúa Thượng là Nguyễn Phúc Anh, tức Dương Nghĩa hầu đang trấn thủ Quảng Nam, kéo quân ra mưu toan phản nghịch. Để thực hiện mưu đồ đó, Nguyễn Phúc Anh phái người tâm phúc ra Bắc, thần phục chúa Trịnh và yêu cầu chúa Trịnh vượt song Linh Giang đem quân kéo vào, còn y sẽ dàn quân từ Quảng Nam đánh ra, buộc quân chúa phải phân tán mỏng 2 đầu, rồi sai quân lính ngày đêm đắp lũy câu đê kiên cố để cố thủ nếu mặt Bắc thất bại.

Được tin báo, chúa Thượng cho triệu vời thúc phụ Nguyễn Phúc Khê vào để bàn bạc.Chúa vốn là người hiền lành, khoan nhượng, nhân ái nên khi thấy em làm loạn 1 bên tình riêng, 1 bên việc nước, chúa trù trừ không quyết. Chúa khóc nói với Nguyễn Phúc Khê rằng:

- Thưa chú, em cháu nổi loạn muốn chiếm ngôi, chẳng lẽ chỉ vì quyền lợi cá nhân của 1 người mà gây nên cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt làm khổ muôn dân. Xin chú thuận cho cháu nhường ngôi cho hắn, không biết ý chú thế nào?

Nghe chúa nói xong, Tường quận công Nguyễn Phúc Khê cả giận nói:

- Anh em là tình riêng, phép nước là nghĩa lớn.Hắn là đồ súc vật chẳng nghĩ đến cha mẹ anh em. Nay hắn đã làm loạn, lại cấu kết với quân thù, tội hắn đáng chết, xin chúa cứ yên tâm, thần nguyện bắt hắn về trị tội.

Thế rồi, Nguyễn Phúc Khê cùng Nguyễn Phúc Yên kéo quân chia 2 cánh thủy bộ tiến vào Đà Nẵng. Lúc đầu cánh thủy quân theo đường biển tiến vào trước, Phúc Anh dànquân đối trận, hai bên đánh nhau ác liệt nhưng bất phân thắng bại. Bất thần bộ binh vượt Hải Vân Sơn đốc thúc binh linh tập kích trại. Phúc Anh bỏ trại kéo quân ra cửa biển Đại Chiêm nhưng bị tập kích ráo riết. Phúc Anh bị bắt giữa trận tiền và giải về kinh đô trị tội. Chúa Thượng thấy em như vậy thì đinh tha nhưng Nguyễn Phúc Khê cương quyết trị tội. Phúc Anh bị giết ngay tại chỗ.

Cùng năm đó thấy dinh cũ xảy ra quá nhiều việc bất như ý nên chúa Thượng quyết định dời dình từ Phước Yên- Quảng Điền sang làng Kim Long huyện Hương Trà. Đất Kim Long thật là nơi lí tưởng để xây phủ Chúa.Trước mặt là sông Hương thuyền bè dễ dàng đi lại cảnh trí tao nhã. Theo thư từ của các thương buôn nước ngoài thì đất Kim Long quả là 1 nơi rất tráng lệ, phồn hoa đô hội

Chúa Thượng được sử sách ghi rất roõ, bởi trong đời ngài có nhiều sự việc xảy ra, nhiều lúc làm lung lay cả cơ nghiệp Chúa ở Đàng Trong.

1 trong những sự kiện nổi bật nhất là chuyện chúa say mê Tống Thị. Tống Thị nguyên là vợ của Khánh Quận công Nguyễn Phúc Kì, anh cả của chúa, làm quan trấn thủ ở Quảng Nam. Năm 1631, Phúc Kì mất, Tống Thị đang còn trẻ tuy đã có 3 con nhưng vẫn còn tuyệt đẹp. Tống Thị vốn đa tình lẳng lơ và ăn nói có duyên. Tống Thị tìm mọi cách để chúa để ý. Tiếp xúc 1 vài lần với Tống Thị , chúa Thượng say mê nàng đến độ mù quáng. Cho nên kể từ năm Kỉ Mão (1639), Tống Thị lợi dụng chúa sủng ái mặc sức thao túng, không chừa bất kì thủ đoạn nào miễn sao thủ đoạn đó đem lại lợi lộc của cải là được. Nên chẳng mấy chốc, Tống Thị có gia tài to bậc nhất nhì ở đế đô. Triều thần dung lời lẽ can gián nhưng Tống Thị dung lời lẽ ngon ngọt quyến rũ nên chúa làm ngơ. Thậm chí thúc pụ ngài là Nguyễn Phúc Khê can gián vẫn không lọt vào tai ngài, đã thế chúa còn định xây dựng cung thất nguy nga để chung sống với Tống Thị nữa. Mãi về sau, nhờ sự can gián vừa khéo léo vừa mềm mỏng cứng rắn kiên quyết của viên hiền hầu họ Phạm, chúa mới lần hồi tỉnh ngộ, xa lánh dần tống Thị.

Tống Thị biết toàn bộ gia tộc họ Nguyễn và triều thần căm ghét mình nên sai người tâm phúc ra Bắc xin với Trịnh Tráng đem quân đánh vào, còn mình đem của cải tài sản ra cung đốn việc quân. Do âm mưu và những ý đồ xấu xa của Tống Thị đã dẫn đến cuộc chiến lớn giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong năm Mậu Tý (1648)

Quân chúa Trịnh dước sự chỉ huy của đo đốc Lê Văn Hiển theo đường biển bất thần tấn công. Quan của chúa Nguyễn do Trương Quốc Phấn chỉ huy đại bại phải rút về ải Trường Dục, cho người phi báo khẩn cấp về Kim Long. Chúa thượng vội sai con mình là Nguyễn Phúc Tần cũng Nguyễn Hữu Tiến tức tối dẫn 100 thớt voi ra Nam Bố Chính. 2 bên đánh nhau 1 trận rất lớn. Nguyễn Hữu Tiến xua 100 thớt voi ập ra tấn công. Quân Trịnh thấy voi hoảng hốt tháo chạy. Bao nhiêu lương thực khí giới của chúa Trịnh đều bị quân Nguyễn lấy hết. Chúa Thượng rất mừng ban thưởng cho tướng sĩ rồi theo thuyền lớn trở về Kim Long. Khi đến phá Tam giang thì mất, nhằm ngày 26/2 năm Mậu Tí ( 1648)

Có thể nói trận chiến năm Mậu Tí là 1 trong 2 chiến công hiển hách của chúa Thượng

1 chiến công nữa trong đời chúa Thượng là chiến công xảy ra trươc đó vào năm Giáp Thân ( 1644)

Theo sử sách kể lại thì năm 1644, người Hòa Lan theo yêu cầu của chúa Trịnh đem 3 chiếc tàu chiến bằng đồng rất lớn, tang bị vũ khí tối tân tiến vào cửa Eo ( Thuận An) nhưng có lẽ bấy giờ cửa biển cạn nên mới đổi hướng tiến vào cửa Hàn nổ sung uy hiếp quân ta. Đây là lần đầu tiên phải đối đầu với tàu chiến ngoại nên chúa Thượng triệu tập quần thần tìm cách xử lí. Cả triều đình chưa biết giải quyết ra sao vì thực chất thủy quân ta như trứng chọi đá so với giặc. Chúa Thượng cho gọi 1 người Hòa Lan tới để hỏi. Tên này nói rằng lực lượng hải quân của hòa lan là 1 trong những lực lượng hung hậu nhất thế giới, bách chiến bách thắng. Lòi nói đầy hàm ý khoe khoang kiêu ngạo của hắn làm long tự ái chúa Thượng bị tổ thương, không cần bàn bạc nữa, chúa ra lệnh chuẩn bị tấn công. Chúa sai thế tử Dũng Lê hầu Nguyễn Phúc Tần chỉnh đốn thủy quân nhắm cửa Hàn tiến phát và dặn bất cứ giá nào cũng phải đánh cho kì được. Chúa đích thân tiến ra cửa biển Thuận An trợ chiến. Dũng Lê hầu điều động 200 chiến thuyền của ta xuất phản còn bản thân thì cầm trống thúc chiến. Chiến thuyền của ta nhỏ, nhẹ cơ động nhanh nên tỏa ra 4 phía vây hãm chiến thuyền giặc. Mặc cho súng đại bác trên tàu bắn xối xả, thuyền ta vẫn bám lấy thuyền giặc tấn công như vũ bão. Bọn chỉ huy và lính trên 3 chiến hạm kinh hoàng trước sự anh dũng gan dạ của quân ta nên bắt đầu nao núng. 1 chiếc nhỏ nhất trong 3 chiếc liệu thế không xong liền quay đầu bỏ chạy thoát ra biển. Chiếc thứ 2 cũng hốt hoảng chạy theo đâm sầm vào đá ngầm chìm nghỉm. Chiếc thứ 3 ngoan cố chống trả dữ dội. Súng lớn sung nhỏ bắn như mưa. Nhiều chiến thuyền của ta trúng đạn vỡ tan. Dũng Lê hầu đốc thúc binh sĩ luồn lách bám sát mạn tàu địc, 1 số nhảy lên đánh bánh lái, chem. gãy cột buồm, đánh xáp lá cà. Tên thuyền trưởng ra lệnh đốt kho súng trên tàu. Tàu vỡ tann, có vài tên nhảy xuống bị quân ta bắt được. Chiến công hiển hách làm nức long binh sĩ. Đây là chiến công oanh liệt nhất của thủy quân nhà Nguyễn

Chúa Thượng băng hà khi ở ngôi 13 năm , lăng chúa táng tại xã An Bằng, Hương Trà, Thừa Thiên, Lăng chúa về sau gọi là lăng Trường Diên.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #5  
Old 25-09-2008, 14:59
nghoqu's Avatar
nghoqu nghoqu is offline
Gấu điên
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Phoenix The Engineer Moogle The Cleric 
The Bard The Magician The Cleric Globalmeter 
Tổng số huy hiệu: 8
Tham gia ngày: 21-04-2008
Bài gửi: 232
Cấp Độ: 23
Rep: 1147
nghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond repute

NGUYỄN PHÚC TẦN

CHÚA HIỀN
(1648-1687)


Năm Mâu Tý ( 1648) sau kh iđi đánh họ Trịnh thắng lợi trở về, ngang qua phá Tam giang thì chúa Thượng mất, thế tử Nguyễn Phúc Tần lên thay, được triều thần tôn xưng là Hiền Vương hay chúa Hiền

Chúa Hiền là con thứ 2 của chúa Thượng với bà phi họ Đoàn. Chúa sinh ngày 19 tháng 6 năm Canh Thân ( 1620).

Ngay từ nhỏ chúa tỏ ra là 1 người vũ dũng, có tài thao lược, am hiểu binh pháp, thiện nghệ về thủy chiến. Khi còn là thế tử, ông từng cầm thủy quân đánh tan 3 chiến hạm của giặc Ô Lan vào năm 1644 và 1648 từng cầm quân đánh đuổi quân Trịnh sang bờ bắc song Linh Giang.

Trong thời gian 39 năm ở ngôi, ngoài việc lo xây dựng mở mang xứ Đàng Trong còn lại chúa cầm quân chống họ Trịnh ở Đàng Ngoài.

Đại Nam thực lục ghi rằng, năm Giáp Ngọ ( 1654) chú của chúa là Nguyễn Phúc Trung nghe lời Tống Thị mưu dấy loạn định cướp ngôi. Việc bại lộ, Nguyễn Phúc Trung bị bắt giam còn Tống Thị bị xử tử hình và tịch biên gia sản cấp phát hết cho nhân dân. Việc làm chúa làm cho ai cũng mến phục và ghi nhớ.

Đến năm Ất Mùi ( 1655), để dẹp tan ý đồ xâm lấn của chúa Trịnh, chúa đích thân dẫn đại binh vượt song Linh Giang tấn công phía Bắc Bố Chính, Sở dĩ chúa phải tấn công trước vì năm 1655, Phạm Tất Đồng 1 bộ tướng của chúa Trịnh đem quân vượt Linh Giang cướp bóc Nam Bố Chính. Do đó chúa quyết định tấn công miền bắc. Việc tiến quân ra bắc làm chúa lo nghĩ nhiều. Chúa đích thân đem quân đi nhưng sợ triều chính không ai coi. Nhiều đêm chúa ngồi bên án thư suy nghĩ, không biết phó thác việc lớn cho ai. Tương truyền 1 đêm nọ, chúa ngồi bên án thư thiu thiu ngủ. Trong mơ chúa thấy 1 cụ già râu tóc bạc phơ từ phía nam đi lại một mình mặc áo đó, tay cầm 1 tờ giấy vẫy chúa lại và nói: “ Bấy lâu nay ta thấy nhà ngươi đêm nào cũng trằn trọc băn khoăn không biết chọn ai để giao trọng trách, nay ta có bài thơ này, ngươi hãy xem kỹ tất sẽ chọn được người mong ước chứ đừng lo nghĩ mà hao tổn tinh thần”. Chúa nhận lấy mở ra coi thì nhận thấy 1 bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt như sau:

Tiên kết nhân tâm thuận
Hậu thi đức hóa chiêu
Chi diệp kham tồi lạc
Căn bản dã nan điêu.

Tạm dịch là:

Trước hết lòng người thuận
Sau thì đức hóa hay
Cành lá tuy rơi ụng
Cội gốc thật khó lay.
Đọc xong chúa hỏi:

- Lão trượng là ai mà đem bài thơ này trêu ta?

Cụ già không trả lời mà chỉ nõi khẻ: “ tốt, tốt”. Nói rồi phất tay áo mà đi, Chúa tức giân cầm gươm đuổi theo thì vấp bực cửa, kêu thét 1 tiếng, sực tỉnh mới biết nằm mộng. Chúa ghi lại bài thơ trong mộng và suy nghĩ mãi cho đến khi trời sang hẳn mới hiểu đôi chút về ý nghĩa 2 câu đầu.
2 chữ ssau của 2 câu đầu ứng vào 2 người trong dinh chúa: 1 văn 1 võ. Cả 2 đều có tài đó là Thuận Nghĩa Hầu trì dũng song toàn đời nay hiếm có và 1 người nữa là Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật có cơ mưu tài trí sánh với Đào Duy Từ . Chúa nghĩ chắc hần báo mộng cho mình biết muốn tấn công Đàng Ngoài, nên chúa cho vời 2 người ấy đến để bàn kế hoạch xuất quân.

Tháng 11 năm 1655, chúa phong Nguyễn Hữu Tiến làm Tiết chế, Nguyễn Hữu Dật làm Đốc chiến, dẫn đại quân ồ ạt vượt Linh Giang tấn công vào Bắc Bố Chính. Đây là lần tấn công duy nhất của chúa Nguyễn vào đất Bắc. Quân của chúa đánh rất hăng chỉ trong thời gian ngắn chiếm được 7 huyện phía nam song Linh Giang. Chúa Trịnh vội vã củng cố lực lượng, sai Trịnh Trương thống lĩnh quân sĩ, kinh lược Nghệ An, lập phòng tuyến chống giữ.

Kể từ năm 1655 đến 1661, quân 2 bên đào hào đắp lũy để thừa cơ tấn công nhau, 2 bên đều ở thế giằng co. Nhưng vào năm 1661, do có sự bất hòa giữa Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến cũng như do quyết tâm lấy lại đất của chúa Trịnh, cuối cùng quân chúa phải bỏ 7 huyện đã chiếm được rút về bờ Nam song Linh Giang như trước. Từ đó cả 2 bên ngầm lấy song Linh Giang làm ranh giới và không bên nào tấn công bên nào nữa.

Về mặt nam, năm Quý Tị (1653) vua Chiêm là Bà Tấm đem quân xâm phạm phủ Phú Yên, Chúa phái 2 tướng là Hùng Lộc và Minh Vũ vào đánh dẹp. Bà Tấm thua xin cắt đất thuần phục, chúa cho thành lập 2 phủ mới là Thái Khang ( Ninh Hòa) và Diên Ninh( DIên Khánh). Như thế địa giới của chúa đã đến tận Phan Rang như thời nay.

Ngày 19 tháng 3 năm Đinh Mão(1687) Chúa yếu cho triệu hoàng tử thứ 2 là Nguyễn Phúc Thái đến và dặn rằng:

- “Ta bình sinh vào ra nguy hiểm để giữ nước, giữ nhà, nối ngôi phải sửa thêm nhân chính giữ yên bờ cõi . Các quan văn võ đều do ta cất dùng mưu toan việc lớn, đừng để bọn tiểu nhân lẻn vào”. Dặn xong hoàng tử và triều thần thì ngài băng, thọ 68 tuổi.

Có thể nói Chúa Hiền là người trí dũng, trong suốt 39 năm ở ngôi, ngài thực hiện nhiều việc lớn như mở rộng bờ cõi về phía nam, chấm dứt cuộc chiến tranh giữa 2 họ kéo dài xuốt 45 năm , thực hiện nhiều cuộc khai hoang lập hóa di dân trên quy mô lớn. Nhờ vậy Đàng Trong ngày càng giàu mạnh hơn trước.

Chúa mất, lăng được tang tại Hải Cát, Hương Trà, về sau lăng được gọi là lăng Trường Hưng.

thay đổi nội dung bởi: nghoqu, 25-09-2008 lúc 15:13
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #6  
Old 25-09-2008, 15:12
nghoqu's Avatar
nghoqu nghoqu is offline
Gấu điên
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Phoenix The Engineer Moogle The Cleric 
The Bard The Magician The Cleric Globalmeter 
Tổng số huy hiệu: 8
Tham gia ngày: 21-04-2008
Bài gửi: 232
Cấp Độ: 23
Rep: 1147
nghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond repute

NGUYỄN PHÚC THÁI
CHÚA NGHĨA
(1687-1691)

Chúa Hiền băng hà, con thứ 2 của chúa với bà Tống Thị Đôi là Nguyễn Phúc Thái sinh ngày 28 tháng chạp năm Kỷ Sửu ( 1650) lên nối ngôi Chúa

Lên kế vị xong, tân chúa cho thi hành 1 chính sách nhân nghĩa, một mặt giảm sưu thuế cho dân, khuyến khích các ngành nghề phát triển, tạo sự dễ dàng đối với nhân dân sinh sống, một mặt đối với những người có tội, Chúa ra lệnh xem xét thật kỉ lưỡng để định tội cho đúng. Nếu xét thấy có thể khoan thứ thì nên giảm nhẹ hình án,chế độ nhà tù được cải thiện để tù nhân bớt khổ hơn, chúa lại là người tính tình khoan hòa, khiêm cung luôn luôn tôn trọng hiền tài nên được nhân dân mến mộ, xưng tụng là Nghĩa Vương, tức chúa Nghĩa

Trong đời của chúa việc quan trọng nhất là việc đời đô về Phú Xuân. Tháng 7 năm Đinh Mão ( 1687) thấy phủ chúa ở Kim Long chật, sau khi hỏi ý kiến quần thần và khải sát vùng Phú Xuân, chúa quyết định dời phủ về làng Phú Xuân. Tại đây chúa cho xây dựng lại cung điện đền đài, thành quách vừa nguy nga vừa tráng lệ hơn trước. Phía Nam phủ chúa lấy Bằng Sơn- tức núi ngự làm bình phong tạo phủ chúa vừa uy nghiêm bề thế, có khí tượng chốn đế đô. Chúa cho gọi phủ mới là Chính Dinh còn phủ củ ở Kim Long thì dùng để thờ chúa Hiền. Mùa Xuân năm Tân Mùi (1691) ngài băng, thọ 43 tuổi. Mộ táng tại xã Đình Môn, núi Kim Ngọc, Hương Trà. Sau đặt tên lăng là Trường Mậu.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #7  
Old 27-09-2008, 10:38
nghoqu's Avatar
nghoqu nghoqu is offline
Gấu điên
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Phoenix The Engineer Moogle The Cleric 
The Bard The Magician The Cleric Globalmeter 
Tổng số huy hiệu: 8
Tham gia ngày: 21-04-2008
Bài gửi: 232
Cấp Độ: 23
Rep: 1147
nghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond repute

NGUYỄN PHÚC CHU
QUỐC CHÚA
(1691-1725)

Mùa xuân năm Tân Mùi ( 1691), Chúa Nghĩa đau nặng cho gọi thế tử Nguyễn Phúc Chu vào và bảo rằng:” Ta nối nghiệp tổ trước để lại, thường lấy làm lo, bấy giờ con phải nối theo giữ thánh đức tổ tông, đó là hiếu” Dặn dò xong, Chúa Nghĩa băng. Theo di mệnh thế tử Nguyễn Phúc Chu , con trưởng của chúa Nghĩa với bà chính phi Tống Thị Lĩnh, sinh ngày 18 tháng 5 năm nhuận lên nối ngôi năm Ất Mão(1675), lúc bấy giờ mới có 16 tuổi.
Chúa là 1 người ham học, thông minh , văn hay, chữ tốt, võ giỏi nên còn nhỏ mà đã được phong chức Tả binh đinh Phó Tướng Tô Trường hầu. Khi lên kế vị ngôi chúa lại được xưng tụng là Minh Vương, sau đó lại tôn xưng là Quốc Chúa.

TIẾN VỀ PHƯƠNG NAM

Chúa vừa nối ngôi được 1 năm thì tháng 8 năm năm Nhâm Thân ( 1692), vua Chiêm thành là Bà Tranh đem quân xâm phạm pủ Diên Ninh, chúa sai tướng Nguyễn Hữu Kính đem quân chống cự đánh tan quân xâm lược bắt được Bà Tranh, đặt quan cai trị đổi phủ Diên Ninh thành trấn Thuận Thành sau lại đổi thành phủ Bình Thuận. Từ đó Chiêm Thành trở thành 1 săc tộc thiểu số của người Việt

Trong đời quốc chúa cò 1 sự việc đáng ghi nhớ nữa là vào năm Mậu Tí ( 1708), Mạc Cửu người Quảng Đông không chịu sống với nhà Thanh đã kéo thân bằng quyến thuộc vào sống ở Hà Tiên, biến vùng này trở thành 1 nơi khá trù phú. Thấy triều Chúa hùng mạnh nên đã dân thư lên Quốc Chúa xin dâng đất Hà Tiên. Quốc Chúa hoan hỉ nhận lời và phong Mạc Cửu làm Tổng binh trấn giữ Hà Tiên.

MỘNG TỰ CHỦ

Quốc Chúa thấy Đàng Trong đã hùng mạnh, đất rộng dân đông, sản vật dồi dào, dân cư trù phú sung túc mặt nam đã cơ bản hoàn toàn sát nhập vào nước ta rồi còn mặt bắc khi lo sợ họ Trịnh tấn công nữa. Tuy thế để đề phòng phương bắc, năm Tân Tỵ (1701), Quốc chúa sai tướng Nguyễn Phúc Diêu, Nguyễn Khoa Chiêm, Tống Phúc Tài sửa sang lũy từ Trường Dục từ núi Đâu Mâu đến cửa biển Nhật Lệ, cho quân đóng ở những nơi quan yếu và ra lệnh quân sĩ phải thường xuyên luyện tập phòng khi có biến, nhờ thế quân Trịnh không dám tấn công.

Quốc Chúa muốn tách Đàng Trong thành 1 nước độc lập nên ngài sai 1 sứ đoàn sang nhà Thanh xin thụ phong. Nhưng nhà Thanh 1 mặt thấy nhà Lê vẫn còn, 1 mặt thấy để Đàng Trong danh chính ngôn thuận trở thành 1 nước lớn thì khó bề đối xử nên không thuận. Tuy thế Quốc chúa với niềm mong muốn trở thành 1 nước độc lập luôn luôn cải cách phát triển nội trị, ngoại giao , giáo dục võ bị theo 1 quy mô riêng mang tính cách miền nam.

TRỪ HẠI CỨU DÂN

Việc giao thông đường bộ và đường thủy tuy được mở rộng nhưng việc đi lại của dân chúng từ Nam Bố Chính vào Phú Xuân vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Đi đường bộ dân chúng muốn vào Phú Xuân phải đi qua 1 trảng cát rộng lớn vắng vẻ ở địa phận Hồ Xá , Quảng Trị. Đây là 1 cánh rừng thưa, bọn trộm cướp thường tụ tập để cướp đoạt tài sản của khách thương, vì thế việc đi lại nhiều lúc rất khó khăn, không ai dám đi qua đây. Địa danh truông nhà Hồ đã trở thành 1 ám ảnh kinh hoàng đối với mọi người. Để trừ hại cho dân, Quốc Chúa sai Nguyễn Khoa Đăng đem quân quét tan lũ cướp ỡ truông này. Từ đó về sau nhân dân mới an tâm đi lại. Trở ngại thứ 2 là thuyền bè qua phá Tam giang thường bị sóng thần nổi lên đánh đắm. Để sự đi lại được bình an, chúa sai nguyên nhân tạo nên sóng dữ rồi tìm cách phá tan chúng nhờ thế nạn sóng thần cũng biến mất trên phá. Chính 2 việc này làm nhân dân biết ơn vô cùng. Mỗi khi đọc 2 câu ca dao:

Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang

Và:

Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
Truông nhà Hồ, Nội Tán cấm nghiêm

Ta mới thấy lòng thương dân giúp dân của Chúa.

34 năm trị vì, với tài năng vốn có và lòng yêu dân mến nước, quốc chúa đã làm cho nhân dân dưới thời ngài sống 1 cuộc sống thanh bình ấm no. Ngoài việc sửa sang nội trị tăng cường quân đội, nài còn mở mang thêm bờ cõi về phía nam, làm các nước lân bang phải nể sợ thần phục.

Ngày 21 tháng 4 năm Ất Tỵ (1725) ngài băng thọ 51 tuổi. Lăng ngài được táng tại tại núi Kim Ngọc, huyện Hương Trà, Thừa Thiên, được đặt tên là lăng Trường Thanh.

thay đổi nội dung bởi: nghoqu, 27-09-2008 lúc 10:43
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #8  
Old 27-09-2008, 10:56
nghoqu's Avatar
nghoqu nghoqu is offline
Gấu điên
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Phoenix The Engineer Moogle The Cleric 
The Bard The Magician The Cleric Globalmeter 
Tổng số huy hiệu: 8
Tham gia ngày: 21-04-2008
Bài gửi: 232
Cấp Độ: 23
Rep: 1147
nghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond repute

NGUYỄN PHÚC THỤ
CHÚA NINH
(1725-1739)
Khi Quốc chúa băng hà, con trưởng cua ngài là thế tử Nguyễn Phúc Thụ sinh ngày 23 tháng Chạp năm Bính Tỵ ( 1697) lên nối ngôi, được triều thần tôn là: “ Tiết chế thủy bộ chư dinh kiêm Tổng nội ngọai quân quốc trọng sự Thái phó Đinh Quốc Công”, đương thời xưng tụng là Ninh Vương hay còn gọi là chúa Ninh.

Ninh vương lên ngôi lúc 30 tuổi nên đã quen việc triều chính. Chúa là 1 người kiêm tài văn võ, lại mộ đạo Phật, tính tình hoà nhã đơn cung, nhu thuận, tự xưng là Vân Tuyền đạo nhân. Kế thừa công lao của tiên tổ, chúa vẫn dùng chính sách cũ thi ân bố đức nghiêm trị các tê nạn xã hội, xuyễn dương thuần phong mĩ tục. Nhờ thế nhân dân sống ấm no hạnh phúc và vô cùng biết ơn chúa.

Trong đời chúa, năm Tân Hợi(1731) quân Chân lạp đánh vào Gia Định, chúa lệnh cho Thống suất Trương Phúc Vĩnh cùng Nguyễn Cửu Triêm chia quân làm 2 mặt tiến đánh, quân Chân lạp thua chạy. Năm Nhâm Tý (1732) sai tiến quân vây Nam Vang rồi lấy đất Gia Định Sài Côn, mở châu Định Viễn và dựng dinh Long Hồ ( Vĩnh Long). Từ đó đất Gia Định, Sài Côn thuộc hẳn về Việt Nam. Đây là 1 vùng đất màu mở trù phú, Chúa cho di dân đến canh tác. Đó cũng chính là công lao của Chúa Ninh.

Chúa Ninh ở ngôi được 13 năm thì băng hà. Chúa mất ngày 20 tháng 4 năm Mậu Ngọ ( 1738) thọ 43 tuổi. Lăng mộ ngài táng tại llàng Đinh Môn, Hương Trà. Tên lăng là Trường Phong
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #9  
Old 28-09-2008, 10:39
nghoqu's Avatar
nghoqu nghoqu is offline
Gấu điên
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Phoenix The Engineer Moogle The Cleric 
The Bard The Magician The Cleric Globalmeter 
Tổng số huy hiệu: 8
Tham gia ngày: 21-04-2008
Bài gửi: 232
Cấp Độ: 23
Rep: 1147
nghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond repute

NGUYỄN PHÚC KHOÁT

CHÚA VŨ
(1739-1765)

Hiền Chính hầu Nguyễn Phúc Khoát sinh ngày 18 tháng 8 năm Giáp Ngọ(1714) con trưởng của chúa Ninh và Chính phi Nguyễn Thị THơ. Năm Mậu Ngọ ( 1738) Chúa Ninh băng hà, ngài lên thang nối nghiệp Chúa, lấy đạo hiệu là Tử Tế đạo nhân. Đương thời gọi là Vũ Vương.

PHÚ XUÂN HOA LỆ

Lên ngôi xong tân chúa cho sửa sang cung cũ, xây dựng cung mới về phía bên trái. Chính công cuộc xây dựng này đã làm cho Phú Xuân trở nên môt nơi hoa vĩ hơn trước. Cung điện đền đài được xây dựng nguy nga tráng lệ, vượt cao lên trên là 3 lớp vòng thành hình vuông bao bọc. Cung điện thông với bên ngoài bằng 7 ngôi cửa chính, bề thế, vững chãi. Trên mặt thành chúa cho bố trí các súng thần công. Bên ngoài phủ là phố xá nhà cửu san sát, đường xá rộng rãi. Dưới sông Hương ghe thuyền qua lại không ngớt. Phú Xuân bây giờ đã trở nên một chốn đô hội giàu có, đông đúc, náo nhiệt bậc nhất ở Đàng Trong. Khách thương nước ngoài ghé lại buôn bán không ngớt ca ngợi.

Trong” Phủ biên tạp lục”Lê Quí Đôn đã mô tả Thuận Hóa như 1 nơi giàu cò và hoa lệ. “ Nhà cửa các quan đều chạm trỗ tinh vi, tường gạch vách đá. Đồ đạc thì toàn dùng đồ quý giá, màn the trướng đoạn, gỗ đàn gỗ trắc, chén sứ bình hoa, y phục toàn gấm vóc, phú quý phong lưu rất mực. Từ binh sĩ cho đến người dân ăn chơi xa xỉ, coi vàng bạc như thóc, thóc gạo tựa bùn. Khắp đô thành đâu đâu cũng thấy khoe giàu khoe sang. Trên bến dưới thuyền người qua lại tấp nập náo nhiệt, sản vật quý thì được mọi người mua sắm, các cửa hiệu của khách thương ngoại quốc trưng bày những hàng lạ mắt, cảnh sinh hoạt từ sáng tới tối mới dứt. Cảnh sắc thật là huy hòang, rực rỡ.”

CẢI CÁCH Y PHỤC

Tháng 4 năm Giáp Tý ( 1744), một hiện tượng lạ đã xảy ra ở Phú Xuân: một cây sung tự nhiên nở hoa. Mọi người cho đó là điềm tốt nên các quan lại dâng biểu xin Chúa chính thức lên ngôi Vương vị. Lúc đầu chúa từ chối, về sau Trương Phúc Loan và triều thần nói mãi lại lý rằng Quốc chúa đã cho đúc sẵn quốc tỷ nên cuối cùng chúa phải thuận. Lễ đăng quang chúa được tổ chức vô cùng trọng thể. Khắp nơi đăng đèn kết hoa vô cùng rực rỡ. Ngày lễ đăng quang, súng thần công bắn rền trời. Chúa và đoàn tùy tùng ngự kiệu hoa có voi dân hầu đi diễu khắp đô thành cho dân chúng chiêm ngưỡng, xong xuống thuyền rồng về điện Trường Lạc. Tức vị Vương xong ngài ban lễ đại xá và tổ chức vui chơi suốt cả tháng.

Lên ngôi Vương, ngài cải cách triều chính cho hợp với Vương vị.

Một trong những cải cách quan trọng nhất có ảnh hưởng về lâu dài là cuộc cải cách y phục. Vũ vương chú trọng ra lệnjh cho các quan dựa vào Tam tài đô hội để làm kiểu. Quan chức lớn thì dùng thái đoạn, mũ đội giát vàng bạc, còn gấm vó thêu rồng hoa phượng không dùng đến. Đối với dân, y phục thường ngày dùng áo cổ đứng tay ngắn. Lễ phục dùng cổ đứng tay dài, dùng 3 màu trắng xanh và đen. Vậy lối ăn mặc đã ít nhiều khác so với người Đàng Ngoài, áo thì tương đối gống áo bà ba bây giờ nhưng được khâu kín từ trên xuống. Còn áo lễ phục tương tự như áo dài 2 thân ngày nay. Ngày nay, từ Đèo Ngang trở vào, ta không còn thấy phụ nữ mặc váy như từ Hà Tĩnh trở ra là ảnh hưởng của cải cách này.

MẦM MỐNG SUY ĐỒI.

Những năm Vũ Vương cai trị Đàng Trong, noại việc cải cách ngoại giao, nội trị và phong tục tập quán, Vũ Vương còn tìm cách mở rộng bờ cõi về phía Nam. Nhân Chân Lạp có nội chiến và các vua Chân Lạp thường sang cầu cứu Vũ Vương sang giúp. Để nhớ ơn, các vua thường căt đất hiến cho ngài. Nặc Ông Nguyên hiến vùng Tân An, Gò Công ; Nặc Ông Thuận hiến Sóc Trăng , Bạc Liêu; Nặc Ông Tôn hiến vùng một dải đất dài từ Thất Sơn cho đến tận Sa Đéc và các vùng Kiên Giang, Long Xuyên cũng được hiến cho ta. Như vậy cho đến năm Quí Sửu (1757), lãnh thổ đã được mở rộng như hiện nay.

Sống trong cảnh thái bình thịnh trị, đời sống lại quá sung sướng đầy đủ, phủ chúa ngày đêm không ngớt tiệc tùng ca hát, nên vương ngày càng sa vào con đường tửu sắc, bỏ bê triều chính. Cái mầm suy đồi đã dấy lên từ đó. Bên cạnh Vương là Trương Phúc Loan với nhiều tham vọng. Chính Loan đã đưa vương vào con đường tửu sắc để dễ bề thao túng về sau, một mặt Phúc Loan đưa thân tín vào phủ, một mặt dùng công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Cầu để lung lạc tình cảm Vũ Vương. Vũ Vương say mê Ngọc Câu nên để Phúc Loan muốn làm gì thì làm. Càng ngày Phúc Loan càng chuyên quyền nhưng Vũ Vương chẳng biết gì.

Mùa hạ năm Ất Dậu(1765) Vũ vương băng hà, thọ 52 tuổi. Lăng mộ Vũ Vương được táng tại làng La Khê, Hương Trà, về sau gọi là lăng Trường Thái.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #10  
Old 28-09-2008, 12:28
nghoqu's Avatar
nghoqu nghoqu is offline
Gấu điên
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Phoenix The Engineer Moogle The Cleric 
The Bard The Magician The Cleric Globalmeter 
Tổng số huy hiệu: 8
Tham gia ngày: 21-04-2008
Bài gửi: 232
Cấp Độ: 23
Rep: 1147
nghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond reputenghoqu has a reputation beyond repute

NGUYỄN PHÚC THUẦN
CHÚA ĐỊNH
(1765-1777)

BIÊN LOẠN

Vũ vương có cả thảy 18 hoàng tử. Lúc còn tại vị, Vũ vương đã lập Nguyễn Phúc Hạo làm thế tử. Chẳng may Hạo chết sớm, vũ vương định lập Nguyễn Phúc Côn làm thế tử nên giao Thế Côn cho Ý Đức hầu Trương Văn Hạnh và Thị giảng Nguyễn Cao Kĩ lo việc dạydỗ. Vũ Vương mất trong triều sinh biến loạn, quyền thần Trương Phúc Loan đổi di chiếu rồi phế Côn, bắt Côn giam vào ngục rồi lập hoàng tử thứ 16 của vương là Nguyễn Phúc Thuần lên thế vị lúc bây giờ mới có 12 tuổi xưng là Định Vương.

Nguyễn Phúc Thuần là con của Vũ Vương với Nguyễn Phúc Ngọc Cầu vì cả 2 cùng tộc nên Thuần chỉ được nuôi ở hậu cung. Hoàng tử Nguyễn Phúc Thuần sinh ngày 18 tháng 11 năm Giáp Tuất (1754) lê ngôi xong, mọi việc đều giao cho Quốc phó Trương Phúc Loan định đoạt. Phúc Loan đưa cả gia đình vào nắm giữ binh quyền. Có quyền trong tay, Phúc Loan mặc sức lộng hành, bày nên cảnh mua quan bán tước chẳng coi kỉ cương phép nước ra gì. Ra vào, Phúc Loan dùng nghi lễ như chúa, ai có ý chống đối tìm cách vu oan rồi tiêu diệt. Để làm giàu, Phúc Loan mặc sức vơ vét bóc lột của cải của dân, sưu cao thuế nặng, nơi nơi đều ta thán. Người ta nói rằng vàng bạc tiền của Phúc Loan chất cao như núi, trong khi đó thì kho lẫm của chúa trống rỗng.

Trước sự bóc lột quá tàn bạo của Phúc Loan nên vào năm Quí Tị ( 1773), 3 anh em Tây Sơn là Nguyễn Nhạc , Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ nổi lên khỡi nghĩa đưa quân chiếm thành Quy Nhơn với khẩu hiệu ban đầu là “ Phù Nguyễn diệt Trương”. Nguyễn Nhạc dùng kế li gián để chia rẽ nội bô quân Nguyễn, viết 1 bức thư giả mạo chữ của Phúc Loan gửi cho tham mưu Tá ngầm sai Tá làm một nội công, Tá đem thư trình co Chưởng Văn, Chưởng Văn tâu lên chúa, chúa cho người tra xét, Loan một mặt chối, một mặt cho người bắt Tá đánh chết, 1 mặt tố cáo Chưởng Văn thông đồng với Tây Sơn, rồi hạ lệnh tống ngục. Chưởng Văn vượt ngục, Phúc Loan cho người theo bắt, khi về đến phá Tam giang thì dìm chết.

Riêng Chúa Định ngay từ nhỏ đã bị Phúc Loan đầu độc. xung quanh chúa là 1 bọn vô lại hám danh hám sắc, lúc nào cũng tìm cách đẩy chúa vào ăn chơi trụy lạc, nên chúa cũng rơi vào vòng tửu sắc chẳng màng gì đến triều chính, suốt ngày chỉ biết hưởng lạc, bỏ tiền của ra lập ban du xuân, cho tiền ban này làm trò vui. Chúa thì hoang dâm xa xỉ, Phúc Loan thì vơ vét của cải vun vén cho mình, làm cho dân sống vô cùng cực khổ. Đó chính là cớ cho anh em Tây Sơn nổi lên diệt nhà Trịnh.

Lợi dụng thời cơ, chúa Trịnh xua quân vào chiếm Phú Xuân. Chúa Định phải cùng gia tộc chạy ào Gia Định. Thế là sự nghiệp các chúa dày công xây dựng tiêu tan, lịch sử bước sang 1 trang mới.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Bookmarks & Social Networks


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 08:40.

Bản quyền oOo VnSharing Group oOo © 2007 - 2012
Vui lòng ghi nguồn VnSharing.net khi bạn dùng các bài viết của site. LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: qc.vnsharing@gmail.com
Powered by: vBulletin Copyright © by 2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.


Sửa chữa laptop Đà Lạt | linh kiện laptop đà lạt | sửa chữa máy tính đà lạt | thiết kế website đà lạt | lắp đặt mạng camera đà lạt