Bạn chưa đăng kí (hoặc chưa đăng nhập) nên quyền lợi của bạn sẽ bị hạn chế. Việc đăng kí làm thành viên hoàn toàn miễn phí, sau khi đăng kí bạn có thể post bài, tham gia thảo luận, liên lạc với các thành viên khác qua hệ thống tin nhắn riêng, yêu cầu manga/anime... và rất nhiều quyền lợi khác. Thủ tục đăng kí rất nhanh chóng và đơn giản, hãy Đăng Kí Làm Thành Viên!
Sông Fraser là con sông lớn nhất tại British Columbia, Canada, bắt nguồn từ đèo Fraser gần đỉnh Robson tại núi Rocky và kéo dài 1,375 km tới vịnh Georgia tại thành phố Vancouver. Đây là con sông dài thứ 10 ở Canada. Lưu lượng chảy hàng năm tại cửa sông là 112km3, và nó xả 20 triệu tấn trầm tích vào đại dương. Con sông được đặt tên theo Simon Fraser, người dẫn đầu một đoàn thám hiểm đại diện cho công ty North West bắt đầu từ nơi mà ngày nay gọi là Prince George ra tới cửa sông.
Địa lý
Lưu vực sông Fraser có diện tích 220,000 km2. Nguồn của nó là một con suối chảy nhỏ giọt tại hẻm Fraser. Con sông sau đó chảy về phía bắc tới quốc lộ Yellowhead và phía tây qua đỉnh Robson tới núi Rocky và thung lũng Robson gần Valemount. Sau khi chạy về phía tây bắc qua bắc, nó chuyển hướng sang phía nam tại đường chuyển tải Giscome, gặp sông Nechako tại thành phố Prince Geogre, sau đó tiếp tục đi về hướng nam, dần dần cắt sâu vào cao nguyên Fraser tạo nên hẻm núi Fraser từ hợp lưu của sông Chilcotin, gần thành phố William Lake, ở phía nam. Nó được nhập vào bởi sông Bridge và Seton tại thị trấn Lillooet, và sông Thompson ở Lytton, nơi mà nó tiếp tục chảy về phía nam tới khi được khoảng 40 dặm (64km) về phía bắc của vĩ tuyến 49, vị trí biên giới của Canada với Hoa Kì.
Từ phía nam Lytton, nó chảy qua một hẻm núi sâu hơn giữa dãy Lillooet của núi Coast ở phía tây và núi Cascade ở phía đông. Hell’s Gate nằm ở vùng hạ lưu của thành phố Boston Bar, một phần cắt nổi tiếng của hẻm núi nơi những vách núi thu hẹp lại đáng kể, làm cho khu vực nước sông chảy qua chỉ rộng 35m. Hệ thống cáp treo đưa khách tham quan qua sông, một điều đặc trưng không thể thấy tại tuyến đường cao tốc chính. Simon Fraser đã buộc phải vượt qua những khe hẹp trong chuyến đi của mình tại hẻm núi vào tháng 7 năm 1808. Tại Yale, ở phần đầu tiên của cuộc khảo sát, hẻm núi mở ra và con sông rộng hơn, dù không có nhiều vùng đất thấp ở xung quanh cho tới Hope, nơi mà con sông chuyển hướng về phía tây và tây nam tới một thung lũng đất thấp màu mỡ, hay còn được biết đến là thung lũng Valley. Nó chảy qua Chilliwack, hợp lưu của sông Harrison và Sumas, rẽ về hướng tây bắc tại Abbotsford và Mission, một lần nữa trở về hướng tây nam về phía tây của New Westminster, tách ra thành nhánh sông phía bắc, ranh giới phía tây nam của thành phố Vancouver, và nhánh sông phía nam, nơi phân định ra thành phố Richmond từ thành phố tự trị Delta.
Thành phố Richmond nằm trên hòn đảo lớn nhất tại Fraser, đảo Lulu và đồng thời nằm trên đảo Sea, nơi có sân bay Vancouver; điểm tận cùng phía đông của đảo Lulu nằm trong thành phố New Westminster được gọi là Queensborough. Nằm ở nơi thấp nhất Fraser, trong những hòn đảo nhỏ khác, đó là đảo Annacis, khu vực cảng và công nghiệp quan trọng, liền kề về phía đông nam với nơi tận cùng phía đông của đảo Lulu (đảo Sea, Lulu và Annacis nằm ở giữa nhánh sông phía bắc và phía nam. Các đảo đáng chú ý khác ở vùng hạ lưu Fraser là đảo Barnston, Matsqui, Nicomen và Sea Bird. Một số đảo còn lại nằm về phía ngoài cửa sông, đáng chú ý nhất là đảo Westham, nơi bảo tồn các loài chim bị săn bắn, và đảo Iona, nơi đặt nhà máy nước thải chính cho thành phố Vancouver.
Sau 100km, một vùng đồng bằng được hình thành nơi mà đổ vào eo biển Georgia nằm giữa đất liền và đảo Vancouver. Vùng đất phía nam thành phố Vancouver gồm thành phố Richmond và Delta, nằm trên vùng đồng bằng ngập lũ. Các hòn đảo của đồng bằng gồm Iona, Sea, Lulu, Annacis, và vô số các đảo nhỏ khác. Trong khi đa số các lưu vực thoát nước nằm trong British Columbia, một phần nhỏ lại nằm ở bên kia biên giới quốc tế tại Washington của Hoa Kỳ, cụ thể là thượng nguồn nhánh sông Chilliwack và Sumas. Phần lớn vùng đất thấp Whatcom County, Washington là một phần của vùng đất thấp Fraser và được hình thành bởi lớp trầm tích lắng đọng từ sông Fraser, mặc dù phần lớn thành phố không nằm trong lưu vực thoát nước Fraser.
Giống với hẻm núi sông Columbia ở phía đông của Portland, Oregon, sông Fraser khai thác địa hình hở ở giữa hai dãy núi tách khí hậu lục địa (trong trường hợp này là của lục địa British Columbia) ra từ khí hậu ôn hòa gần bờ biển. Khi một vùng áp cao từ Bắc cực di chuyển tới nội địa British Columbia và một vùng áp thấp tương đối gặp nhau tại khu vực Puget Sound và eo biển Georgia, khối không khí lạnh Bắc cực tăng tốc về phía tây nam qua hẻm núi Fraser. Những luồng gió này có thể lên tới vận tốc 60 tới 80 dặm một giờ (97 tới 130km/h) và có lúc vượt quá 100 dặm một giờ (160 km/h). Nó thường thổi tới Bellingham và đảo San Juan, được làm mạnh thêm bởi dòng hải lưu nóng tại eo biển Juan de Fuca.
Cửa sông là một địa điểm quan trọng trong trọng mạng lưới bảo tồn chim biển Tây bán cầu.
Dòng chảy
Với lượng chảy trung bình ở cửa sông là 3,475 m3 trên giây, sông Fraser là con sông có lượng nước đổ ra Thái Bình Dương lớn nhất tại Canada và lớn thứ 5 tại quốc gia này. Lượng chảy trung bình thay đổi theo mùa, vào mùa hè nó có thể lớn gấp 10 lần so với trong mùa đông.
Lượng chảy lớn nhất được ghi lại vào tháng 6 năm 1894, ước tính khoảng 17,000 m3 trên giây tại Hope. Nó được tính bởi mức nước cao nhất gần trạm đo tỷ trọng nước tại Hope và các phương thức thống kê khác. Vào năm 1948, Ủy ban sông Fraser đã thông qua bản đánh giá về trận lụt năm 1894. Nó vẫn giữ giá trị theo quy định của cơ quan quản lý cho việc kiểm soát tất cả các trận lũ lụt tại dòng sông. Nghiên cứu kĩ hơn và các mẫu nước đánh giá được lượng chảy tối đa của sông Fraser, tại Hope trong trận lụt năm 1894, ở trong khoảng từ 16,000 đến 18,000 m3 trên giây.
Lịch sử
Vào này 14 tháng 6 năm 1792, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Dionisio Alcalá Galiano và Cayetano Valdés đã tới và neo lại tại nhánh phía Bắc của sông Fraser, trở thành những người Châu Âu đầu tiên tìm thấy và đặt chân tới đây. Sự tồn tại của con sông, không phải vị trí của nó, đã được phát hiện qua chuyến đi của José María Narváez, dưới sự chỉ huy của Fancisco de Eliza.
Thượng nguồn sông Fraser phát hiện lần đầu bởi Sir Alexander Mackenzie vào năm 1793, và được phát hiện hoàn toàn vào năm 1808 bởi Simon Fraser, người khẳng định rằng nó không liên kết với sông Columbia.
Năm 1828, George Simpson tới thăm con sông, chủ yếu là để khảo sát Fort Langley và xác định xem liệu nó có phù hợp để làm nhà kho chính cho công ty hay không. Simpson tin rằng chiều dài của sông Fraser thuận tiện cho việc di chuyển của tàu bè, mặc dù Simon Fraser miêu tả điều ngược lại. Simpson di chuyển xuôi theo dòng sông, đi qua hẻm Fraser và đã viết lời bạt “Tôi cân nhắc rằng con lạch nhỏ đi xuống, mười phần thì hết chín, chắc chắn là đường chết. Vì thế từ bây giờ tôi sẽ không coi nó là con đường đi được nữa.” Chuyến đi xuôi dòng sông đã cho ông thấy rằng Fort Langley không thể thay thế Fort Vancouver để trở thành kho chính cho công ty ở vùng bờ biển Thái Bình Dương.
Phần lớn lịch sử của British Columbia gắn với sông Fraser, một phần bởi nó là tuyến đường thiết yếu giữa nội địa và bờ biển sau khi vùng đất ở phía Nam tại vĩ tuyến 49 bị mất qua hiệp định Oregon vào năm 1846. Nó được ghi nhận là khu vực định cư của thổ dân, tuyến đường của vô số những người đi tìm vàng tại hẻm núi Fraser và phương tiện chính của ngành thương nghiệp và công nghiệp sớm của tỉnh.
Nó đã được chọn làm con sông di sản của Canada bởi những di sản về thiên nhiên và con người của mình.
Sử dụng
Sông Fraser đang bị khai thác nghiêm trọng bởi con người, đặc biệt là tại hạ nguồn của nó. Bờ sông là khu đất nông nghiệp màu mỡ, nước của nó được sử dụng trong các nhà máy làm bột giấy và một vài con đập ở một số nhánh sông phụ được sử dụng để làm thủy điện. Dòng chảy chính của sông Fraser chảy liên tục một phần bởi lượng lớn trầm tích làm tuổi thọ của con đập ngắn đi, nhưng chủ yếu là bởi sự phản đối mạnh mẽ từ ngành thủy sản và những mối quan tâm khác về môi trường. Năm 1858, sông Fraser và khu vực lân cận bị chiếm bởi cơn sốt tìm vàng tại hẻm Fraser và sông Fraser.
Vùng đồng bằng của con sông, đặc biệt là tại khu vực vịnh Boundary, là điểm dừng chân quan trọng của các loài chim nước di cư.
Tước sĩ Fraser, một vị trí ở trong cơ quan chuyên phụ trách tước hiệu của Canada đã được đặt theo tên dòng sông.
Đánh bắt cá
Sông Fraser được biết đến với việc đánh bắt cá tầm. Một con cá tầm thông thường cân nặng khoảng từ 30 đến 100 pounds (~ 13.62 - 45.4kg). Một con cá tầm lớn cân nặng vào khoảng 1,100 pounds (~ 499.4kg) và dài 12 feet, 4 inches được bắt và thả tại sông Fraser vào tháng 7 năm 2012. Nó là con cá nước ngọt lớn nhất từng được bắt bằng cần câu tại Bắc Mĩ và có thể có tuổi thọ cao nhất.
Lũ lụt
Sau khi người châu Âu tới định cư, trận lũ thảm khốc đầu tiên diễn ra tại thung lũng Fraser vào năm 1894. Do không có sự ngăn chặn nào trước việc nước sông Fraser dâng cao, thung lũng Valley từ vùng hạ lưu Chilliwack bị ngập trong nước. Ở trận lụt năm 1894, mức nước tại Mission chạm ngưỡng 25.75ft (7.85m)
Sau trận lụt năm 1894, hệ thống đê điều được xây dựng khắp thung lũng Valley. Đê điều và dự án thoát nước cải thiện đáng kể vấn đề ngập lụt, nhưng qua thời gian điều không may là đê điều ở trong tình trạng ọp ẹp và che kín bởi cây. Đối với những con đê có cấu trúc làm bằng gỗ, chúng đã bị đổ nát vào năm 1948 ở vài nơi, đánh dấu trận lũ thảm khốc thứ hai. Các trận lũ sau năm 1948 không còn khủng khiếp như các năm trước đó.
Trận lụt năm 1948
Năm 1948 chứng kiến trận lụt khủng khiếp tại Chilliwack và các nơi khác thuộc khu vực sông Fraser. Mực nước cao nhất tại Mission cao tới 24.7 ft (7.5m).
Mốc thời gian: • Trong suốt ngày 24 tháng 5, mực nước của sông Fraser tăng đều, nhưng chỉ có số ít nghĩ rằng nguy hiểm đang cận kề.
• Ngày 28 tháng 5 năm 1948, đê ở nhánh sông Semiault bị vỡ.
• Ngày 29 tháng 5 năm 1948, đê gần Glendale (giờ là Cottonwood Corners) bị sụp và trong 4 ngày, 12000 mẫu Anh (49km2) đất hoa màu bị ngập trong nước.
• Ngày 1 tháng 6, 1948, đê Cannor (phía đông của kênh Vedder gần đường cao tốc Trans Canada) vỡ và lượng lớn nước sông Fraser đổ vào khu vực Greendale, phá hủy nhà cửa và đồng ruộng.
• Ngày 3 tháng 6, 1948, tàu hơi nước Gladys hỗ trợ cho vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của trận lụt Chilliwack lều bạt và thực phẩm cũng như sơ tán người dân và hàng hóa lên vùng đất cao.
Nguyên nhân của trận lụt năm 1948
Nhiệt độ mát mẻ vào tháng Ba, tháng 4 và đầu tháng 5 đã làm chậm lại sự tan của lớp băng được hình thành trong mùa đông. Khí hậu nóng kèm theo mưa trong dịp cuối tuần vào cuối tháng đã đẩy nhanh sự tan ra của lớp băng. Nước ở sông suối được tăng lên nhanh chóng với dòng chảy của mùa xuân, đạt mức cao nhất hơn cả năm 1894. Rốt cuộc, hệ thống đê điều kém đảm bảo đã không thể chặn được dòng nước.
Tại thời điểm cao nhất của trận lụt năm 1948, 50,000 mẫu Anh (200km2) ngập trong nước. Đê vỡ tại Agassiz, Chillwack, đảo Nicomen, thung lũng Glen và Matsqui. Vào thời điểm nước rút một tháng sau đó, 16,00 người đã được sơ tán, tổng thiệt hại lên tới 20 triệu đôla.
Trận lụt sau đó
Do sự tan ra của lớp băng tại những ngọn núi vùng lưu vực sông Fraser, cộng với những cơn mưa lớn, mực nước sông Fraser vào năm 2007 tăng lên tới mức cao nhất kể từ năm 1972. Vùng đất thấp ở khu vực thượng nguồn con sông như Prince Geogre chịu những trận lụt nhỏ. Báo động sơ tán được đưa ra cho các vùng đất không có sự che chắn của đê điều tại Lục địa thấp. Tuy nhiên, nước đã không thể làm vỡ đê và trận lụt lớn đã được ngăn chặn.