oOo VnSharing oOo

Chào mừng đã đến với forum oOo VnSharing oOo.

Bạn chưa đăng kí (hoặc chưa đăng nhập) nên quyền lợi của bạn sẽ bị hạn chế. Việc đăng kí làm thành viên hoàn toàn miễn phí, sau khi đăng kí bạn có thể post bài, tham gia thảo luận, liên lạc với các thành viên khác qua hệ thống tin nhắn riêng, yêu cầu manga/anime... và rất nhiều quyền lợi khác. Thủ tục đăng kí rất nhanh chóng và đơn giản, hãy Đăng Kí Làm Thành Viên!

Nếu bạn quên mật khẩu, xin nhấn vào đây.

Nếu bạn gặp trục trặc trong vấn đề đăng kí hoặc không thể đăng nhập, hãy liên hệ với chúng tôi.
Go Back   oOo VnSharing oOo > Những lĩnh vực khác > Thế giới ngòi bút > Thư viện

HD cho người mới | ĐĂNG KÍ VIP MEMBER: KHÔNG QUẢNG CÁO, KHÔNG CẦN POST BÀI ĐỂ DOWNLOAD!
Mua sắm bằng Rep! | VnSharing Shop   Facebook

EVENT RE-UP CTD HÈ 2014

[EVENT] Reup Anime trên CAV


Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 27-05-2013, 11:35
Genchin Midoriko's Avatar
Genchin Midoriko Genchin Midoriko is offline
Bishop
 
Phòng trưng bày huy hiệu
Crystal Takuhara Ayumi Student mushroom Student mushroom 
Jaian Takeshi Beli Huy hiệu cấp 1: Queen of blood Ring of Luck 
Tổng số huy hiệu: 25
Tham gia ngày: 18-02-2013
Bài gửi: 607
Cấp Độ: 128
Rep: 6329
Genchin Midoriko has a reputation beyond reputeGenchin Midoriko has a reputation beyond reputeGenchin Midoriko has a reputation beyond reputeGenchin Midoriko has a reputation beyond reputeGenchin Midoriko has a reputation beyond reputeGenchin Midoriko has a reputation beyond reputeGenchin Midoriko has a reputation beyond reputeGenchin Midoriko has a reputation beyond reputeGenchin Midoriko has a reputation beyond reputeGenchin Midoriko has a reputation beyond reputeGenchin Midoriko has a reputation beyond reputeGenchin Midoriko has a reputation beyond repute

Gửi tin nhắn qua Yahoo chat tới Genchin Midoriko Gửi tin nhắn qua Skype™ tới Genchin Midoriko
[Sưu tầm][Khác] Văn học Việt Nam - Phần 2: Văn học viết Việt Nam thời kì Trung đại



Văn hc viết thi Trung đi










Văn hc Vit Nam thi Lý


Văn học đời Lý là thời kỳ đầu của nền văn học Việt Nam được hình thành trong giai đoạn lịch sử của nhà Lý (1009-1225).


Đc đim chính

Thời Lý, sự ảnh hưởng của đạo Phật (đã có căn bản từ triều Đinh-Lê) đến chính trị, văn hóa và văn học trở thành một đặc điểm nổi bật trong thời kỳ lịch sử này. Sách Việt Nam cổ Văn học sử của Nguyễn Đổng Chi ghi lại Trong thế kỷ 10, cửa chùa đã đóng một vai trò quan trọng về văn học. Cũng vì thế mà Đạo Phật ở Việt Nam từ đó càng lắm tín đồ và được chính phủ vị nể.

Các tăng sĩ đời Lý học hiểu rất rộng, uyên thâm Hán học, họ là những người tài giỏi và hay chữ nhất trong xã hội. Khi lực lượng nhà Nho chưa đủ nhiều để tham gia chính sự thì triều đình thường vời đến các bậc cao tăng trưởng lão. Cũng do tính chất độc tôn của đạo Phật trong đời sống tinh thần dân tộc đã dẫn đến nhu cầu rộng rãi trong nhân dân muốn tìm hiểu, học tập những vấn đề triết lý của đạo Phật. Để đáp ứng nhu cầu đó, bên cạnh việc thuyết giảng, các nhà sư còn tìm cách truyền phổ đạo Phật bằng cách thể hiện các nội dung triết lý vốn rất trừu tượng khó hiểu qua hình thức các bài kệ ngắn gọn, sinh động, dễ nhớ, dễ hiểu để giúp người học đạo được thuận lợi hơn trong quá trình nghiên cứu, học tập.

Một đặc điểm ngôn ngữ quan trọng là văn tự được viết bằng chữ Hán nên chủ yếu, chỉ có các tầng lớp vua, quan, nhà sư mới có đủ trình độ uyên bác để sử dụng chữ viết và sáng tác thơ văn.


Tình hình văn hc

Các tác phẩm trong Thiền Uyển tập anh [1] được xem những thành tựu ban đầu của văn học thời kỳ này và vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Đặc điểm nổi bật của văn học đời Lý là lực lượng các nhà sư sáng tác chiếm đa số trên văn đàn. Có khoảng hơn 40 nhà sư sáng tác với những tên tuổi tiêu biểu như Mãn Giác, Viên Chiếu, Viên Thông, Không Lộ, Quảng Nghiêm... Các nhà sư đời Lý đã góp phần không nhỏ vào kho tàng văn học cổ Việt Nam. Định hướng sáng tác của các nhà sư tuy tập trung thuyết lý cho đạo Phật nhưng vẫn chứa đựng những yếu tố xã hội tích cực và có giá trị văn học.

Bên cạnh đó, bắt đầu từ thời Lý, truyền thống yêu nước trong văn học hình thành và phát triển trong các giai đoạn sau. Chủ đề yêu nước trong mỗi tác phẩm thể hiện ở những cung bậc trầm hùng khác nhau nhưng ý nghĩa chung nhất vẫn là tiếng nói lạc quan, mang tính thời đại, tiếng nói tự hào của một dân tộc đang vượt qua nhiều thử thách.

Dưới hình thức này hay hình thức khác, sự phong phú của văn học thời kỳ này biểu hiện tính chất dung hòa nhất giữa Phật giáo-Nho giáo và các tín ngưỡng dân gian thuần túy của dân tộc. Tính chất trang trọng trong ngôn ngữ biểu hiện (chữ Hán), tính uyên bác trong chiều sâu tư tưởng... khiến cho văn học đời nhà Lý trở thành một đỉnh cao, ảnh hưởng sâu rộng đến đời Trần mà gần nhiều thế kỷ văn học trung đại nối tiếp khó bề sánh kịp. Tuy mức độ ảnh hưởng và quảng bá văn chương không đi sâu vào tầng lớp bình dân nhưng văn học đời Lý vẫn khẳng định được giá trị bác học độc đáo của mình. Thời kỳ này, văn học dân gian vẫn độc lập phát triển.


Chú thích
  • [1] Tuy Thiền Uyển Tập Anh ra đời vào thời nhà Trần 1337 nhưng hầu hết các tác phẩm trong tuyển tập này đều được sáng tác vào thời nhà Lý.




Văn hc Vit Nam thi Trn


Văn học đời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225-1400).


Tng quan

Nước Việt dưới đời Trần xuất hiện nhiều thiên tài quân sự, tạo nên những chiến công sáng chói trong lịch sử giữ nước. Tuy nhiên, nhân tài đời Trần không chỉ giới hạn trong lãnh vực quân sự, mà còn có nhiều nhân vật kiệt xuất trong lãnh vực văn học.[1] Nếu thi ca và văn chương là nền tảng của tư tưởng Việt, tư tưởng từ đó được hệ thống hóa thành nhân sinh quan và triết lý Việt, thì đóng góp của đời Trần rất quan trọng trong việc phát huy một nền văn hóa thuần túy Việt Nam. Bắt nguồn từ một nhân vật gốc gác ngư dân thuyền chài, không biết gì về văn học, các triều đại nhà Trần đã để lại một nền văn học có phần vượt trội, hơn hẳn đời nhà Lý.[2] Không những thế, dưới các triều đại này việc phổ biến chữ Nôm và Quốc ngữ thi cho ta thấy người Việt đã bắt đầu phát huy một nền văn hóa đầy tự tin và ý thức độc lập, vượt lên khỏi ảnh hưởng sâu đậm của Trung Quốc.[3]


Điu kin phát trin

Một trong những lý do văn học đời Trần có những thành tựu tốt đẹp là do việc học được khuyến khích không ngừng qua suốt các đời vua.[4] Năm Kiến Trung thứ tám (1232), vua Thái Tông đã cải tổ lại việc thi cử của đời Lý, mở kỳ thi Thái học sinh để tuyển mộ người hiền; năm Thiên Ứng Chính Bình thứ năm (1243) vua đặt Phạm Ứng Thần làm chức quan Thượng thư tri Quốc tử giám đề điệu, ra lệnh các con quan văn phải vào trường này học; năm Thiên Ứng Chính Bình thứ mười (1247) Thái Tông lập thêm tam khôi: trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa để khuyến khích thí sinh; năm Nguyên Phong thứ ba (1253) Thái Tông lập Quốc học viện để giảng dạy, truyền chiếu toàn quốc cho các học giả, khuyên nên vào Quốc học viện giảng đọc Tứ thư Ngũ kinh.[5] Đời Nhân Tông năm Thiệu Bảo thứ ba (1281), vua lập nhà học ở phủ Thiên Trường, cử quan về giảng dạy. Đến đời Phế Đế, năm Xương Phù thứ bảy (1384) lập thư viện ở núi Lạn Kha [6], cử Trần Tông làm trưởng viện giảng dạy học trò, và vua Nghệ Tông thường đích thân thăm viếng. Đời Thuận Tông, năm Quang Thái thứ 10 vua ban chiếu cấp ruộng học cho các châu phủ có lợi tức, đặt quan Đốc học dạy dỗ các học trò.[7] Các việc trên đây cho thấy tuy trải qua nhiều tai biến binh đao, các vua nhà Trần không hề xao lãng trong việc khuyến khích sự học.

Lý do thứ hai văn học đời Trần có những thành công tốt đẹp là do từ đời Thuận Tông trở về trước, việc học chú trọng về kinh thuật, đào tạo cho người học có bản lĩnh suy luận cơ bản, không chú trọng lối học từ chương. Do đó, nhà Trần có những học giả kiệt xuất như Chu Văn An, Trương Hán Siêu, và những nhà tư tưởng độc lập như Hồ Quý Ly. Có học giả bình luận rằng nhờ vậy văn học đời Trần "...có khí cốt, không ủy mị non nớt như các đời khác ..."[8]


Sxut hin ca thơ văn chNôm

Hàn Thuyên

Trước đời Trần, văn chương Quốc ngữ nước Việt chỉ có tục ngữ, ca dao, hoặc các loại văn chương bình dân truyền khẩu [9]. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tháng tám, mùa thu năm Thiệu Bảo tứ tư đời Nhân Tông (1282) có con ngạc ngư lớn xuất hiện ở sông Phú Lương, vua sai quan Hình bộ thượng thư Nguyễn Thuyên viết bài văn vất xuống sông đuổi cá. Con cá bỏ đi, vua xem việc nầy giống sự tích Hàn Dũ ở Trung Quốc, nên ban lệnh đổi tên họ ông thành Hàn Thuyên [10]. Ông có biệt tài làm được thơ phú bằng chữ quốc ngữ, đặt ra Hàn luật. Theo Dương Quảng Hàm thì Hàn luật chính là Đường luật ứng dụng vào Việt ngữ, và công Hàn Thuyên rất lớn, vì nhờ có ông áp dụng vào thơ phú chữ Nôm, nhiều người bắt chước theo ông, nên nền văn chương chữ Nôm được khởi đầu từ đây [11]. Tại Bách khoa toàn thư Việt Nam viết: Nguyễn Thuyên là người đầu tiên đưa tiếng Việt vào thơ văn, đặt ra thể thơ Hàn luật (kết hợp thơ Đường luật với các thể thơ dân tộc).

Thơ văn chữ Nôm đời Trần

Sử chép nhiều người đời Trần bắt chước Hàn Thuyên làm thơ phú quốc âm, gây thành phong trào làm thơ phú và viết văn bằng chữ Nôm [12]. Các bài thơ văn này nay đã thất truyền, nhưng sử còn ghi lại tên một số tác giả và tác phẩm:
  • Hàn Thuyên viết Phi sa tập.
  • Nguyễn Sĩ Cố viết một số bài thơ văn chữ Nôm.
  • Chu Văn An viết Quốc ngữ thi tập.
  • Hồ Quý Ly viết Quốc ngữ thi nghĩa.
  • Trong Nghĩa sĩ truyện của Hoàng Trừng có ghi lại năm bài văn nôm đời Trần chép sự việc Nguyễn Biểu đi sứ, ăn cỗ đầu người, bị tướng Trương Phụ chém, như sau:
    • a) Bài thơ nôm vua Trần tặng Nguyễn Biểu lúc đi sứ.
    • b) Bài thơ nôm của Nguyễn Biểu họa lại.
    • c) Bài thơ nôm của Nguyễn Biểu viết lúc ăn cỗ đầu người.
    • d) Bài văn tế Nguyễn Biểu chữ nôm do Trần Trùng Quang viết.
    • e) Bài kệ chữ nôm của vị sư chùa Yên Quốc (nơi Nguyễn Biểu bị hành hình) khen ngợi chí khí của ông. [13]


Các thloi và mt stác phm

Các thể loại văn chương và tác phẩm đời Trần (1225-1400)[14]


Thể loạiTác phẩmSố quyển và lưu bảnTác giả và thời điểm
Chính trịQuốc-triều thông chế20 quyển, nay đã thất truyềnSoạn năm Kiến Trung thứ sáu đời Thái Tông.
Chính trịKiến trung thường lệ10 quyển, nay đã thất truyền.Soạn đời Thái Tông.
Chính trịCông-văn cách thức1 quyển, nay đã thất truyền.Soạn năm Hưng Long thứ bảy đời Anh Tông
Chính trịHoàng Triều Đại điển10 quyển, nay đã thất truyền.Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Nghiện đồng soạn đời Dụ Tông.
Lý thuyếtKim cương kinh chú giải(?) quyển, nay đã thất truyền.Soạn bởi Trần Thái Tông, không rõ năm.
Lý thuyếtKhóa hư lục2 quyểnSoạn bởi Trần Thái Tông, không rõ năm.
Lý thuyếtĐoạn sách lục(?) quyển, nay đã thất truyền.Soạn bởi Pháp Hoa thiền sư, không rõ năm.
Lý thuyếtNgọc tiên tập(?) quyển, nay đã thất truyền.Soạn bởi Huyền Quang thiền sư, không rõ năm.
Lý thuyếtThiền lâm thiết chủy ngữ lục1 quyển, nay đã thất truyền.Soạn bởi Trần Nhân Tông, không rõ năm.
Lý thuyếtThạch thất mỵ ngữ1 quyển, nay đã thất truyền.Soạn bởi Trần Nhân Tông, không rõ năm.
Lý thuyếtTứ thư thuyết ước(?) quyển, nay đã thất truyền.Soạn bởi Chu Văn An, không rõ năm.
Lý thuyếtMinh đạo lục14 thiên, nay đã thất truyền.Soạn bởi Hồ Quý Ly, không rõ năm.
Sử truyệnHoàng triều ngọc diệp1 quyển, nay đã thất truyền.Soạn năm Kiến Trung thứ mười đời Thái Tông.
Sử truyệnĐại Việt sử ký30 quyển.Lê Văn Hưu soạn năm Thiệu Long thứ năm đời Thánh Tông.
Sử truyệnViệt sử cương mục(?) quyển, nay đã thất truyền.Hồ Tông Thốc soạn, không rõ năm.
Sử truyệnTrung hưng thực lục(?) quyển, nay còn vài tập.Soạn đời Nhân Tông, không rõ năm.
Sử truyệnTăng già toái sự1 quyển, nay còn vài tập.Soạn đời Trần Minh Tông, không rõ năm.
Sử truyệnThiền uyển tập anh2 quyển.Thiền sư(?) Kim Sơn, không rõ năm.
Sử truyệnViệt điện u linh tập1 quyển.Lý Tế Xuyên soạn, không rõ năm.
Thi vănThiền tông chỉ nam 1 quyểnTrần Thái Tông soạn sau khi thoái vị, không rõ năm.
Thi vănThái Tông thi tập1 quyển, nay còn vài tập.Trần Thái Tông soạn, không rõ năm.
Thi vănThánh Tông thi tập1 quyển, nay còn 5 bài.Trần Thánh Tông soạn, không rõ năm.
Thi vănNhân Tông thi tập1 quyển, nay còn 20 bài.Trần Nhân Tông soạn, không rõ năm.
Thi vănĐại Hương hải ân thi tập1 quyển, nay còn ?Trần Nhân Tông soạn sau khi xuất gia, không rõ năm.
Thi vănMinh Tông thi tập1 quyển, nay còn 10+ bài.Trần Minh Tông soạn, không rõ năm.
Thi vănThủy vân tùy bút(?) quyển, nay còn 9 bài.Trần Anh Tông soạn, không rõ năm.
Thi vănNghệ Tông thi tập1 quyển, nay còn 7-8 bài.Trần Nghệ Tông soạn, không rõ năm.
Thi vănSầm lâu tập1 quyển, nay đã thất truyền.Trần Quốc Toại soạn, không rõ năm.
Thi vănLạc đạo tập1 quyển.Trần Quang Khải soạn, không rõ năm.
Thi vănBăng Hồ ngọc hác tập2 quyển.Trần Nguyên Đán soạn, không rõ năm.
Thi vănCủng cực ngâm(?) quyển, nay còn vài bài.Trần Ích Tắc soạn, không rõ năm.
Thi vănGiới Hiên thi tập1 quyển, nay còn 80+ bài.Nguyễn Trung Nghiện soạn, không rõ năm.
Thi vănTiểu ẩn thi tập1 quyển, nay còn vài bài.Chu Văn An soạn, không rõ năm.
Thi vănQuốc ngữ thi tập1 quyển, nay không còn.Chu Văn An soạn, không rõ năm.
Thi vănGiáp thạch tập1 quyển.Phạm Sư Mạnh soạn, không rõ năm.
Thi vănCúc đường di cảo2 quyển, nay còn 20 bài.Trần Quang Triều soạn, không rõ năm.
Thi vănThảo nhàn hiệu tần (?) quyển, nay còn vài bài.Hồ Tông Thốc soạn, không rõ năm.
Giáo dụcCơ cừu lục1 quyển, nay không còn.Trần Thánh Tông soạn, không rõ năm.
Giáo dụcDi hận tập1 quyển, nay không còn.Trần Thánh Tông soạn, không rõ năm.
Giáo dụcBảo hòa dư bút8 quyển, nay không còn. Nguyễn Mậu Tiêu và Phan Nghĩa, đồng soạn đời Nghệ Tông, không rõ năm.
Giáo dụcQuốc ngữ thi nghĩa(?) quyển, nay không còn.Hồ Quý Ly soạn, không rõ năm.
Quân sựBinh thư yếu lược1 quyển.Trần Quốc Tuấn soạn, không rõ năm.


Tác givà tác phm tiêu biu

Trần Quốc Tuấn
  • Hịch tướng sĩ Tháng 12 năm Giáp Thân 1284, hiệu Thiệu Bảo năm thứ 6, đời Trần Nhân Tông, đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng, Trần Quốc Tuấn thất thế đưa quân chạy về Vạn Kiếp. Vua Nhân Tông thấy thế giặc mạnh, cho vời ông về Hải Dương mà phán "Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân sự tàn hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?" Vương tâu: "Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn Miếu Xã Tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau hãy hàng!!" Vua nghe thế yên lòng. Hưng Đạo Vương trở về Vạn Kiếp hiệu triệu 20 vạn quân Nam, và thảo bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn ('諭 諸 裨 將 檄 文), thường gọi là Hịch tướng sĩ) để khuyên răn tướng sĩ, đại ý khuyên binh sĩ học tập và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng học tập trận pháp theo sách Binh thư yếu lược, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2. [15]
  • Binh thư yếu lược Do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn soạn, đại ý ghi các điều cốt yếu từ các binh thư về việc dùng binh, giúp các tướng lãnh và quân sĩ trau dồi khả năng quân sự. [16]

Trần Quang Khải
  • Tòng giá hoàn kinh (從 駕 還 京) (còn được biết đến với các tên Tụng giá hoàn kinh sư, Tụng giá hoàn kinh sứ) do Trần Quang Khải viết sau khi quân dân nhà Trần chiến thắng quân Nguyên lần thứ hai. Bài thơ đại ý‎ nói về cảm xúc người tướng khi theo xa giá vua trở về kinh đô khải hoàn. Hiện còn hai bản lưu truyền, một của Trần Trọng Kim [17], một của Ngô Tất Tố.[18]
  • Phúc hưng viên (福 興 園) Sau khi chiến thắng quân Nguyên, Thượng tướng Trần Quang Khải về hưu lúc tuổi già và nghĩ ngơi tại tư dinh của ông, có vườn riêng tên gọi "Phúc hưng viên". Bài thơ này đại ý tả cảnh nhàn nhã thời thanh bình. Hiện còn một bản lưu truyền của Ngô Tất Tố.[19]
  • Lưu gia độ (劉 家 渡) Bài thơ này đại ý tả cảnh khách qua bến đò Lưu gia, nhớ lại ngày xưa từng hộ tống xa giá vua có dừng quân nơi đây, nay non sông thái bình, trở lại chốn cũ đầu đã bạc, thấy hoa mai nở trắng xóa như tuyết bên bờ sông. Hiện còn một bản lưu truyền của Ngô Tất Tố.
  • Xuân nhật hữu cảm (春日有感) gồm hai bài thơ xuân, hiện còn hai bản lưu truyền của Ngô Tất Tố. Bài thứ nhất đại ý nói mùa xuân, một người đóng chặt cửa, ngồi nhìn mưa bụi bay trên hoa mai, nghĩ đến ba phần ngày xuân đà bỏ phí hết hai, nay năm mươi biết sức đã suy, nhưng hào khí ngày nào vẫn còn, dùng vào chi hơn là đè ngọn gió Đông mà làm một bài thơ. Bài thứ hai nói cảnh đêm xuân gần tàn, dưới bóng trăng mờ thấy hơi lành lạnh ngọn gió đưa đến, sáng ra mấy chùm bông liễu trên không bay lạc vào gác, vài cành trúc đập vào hiên như muốn quấy rầy giấc ngủ, xa xa hình như đang mưa, trong gió đưa lại hơi mát làm mọi sự tươi tỉnh. Người sực nhớ giật mình, thấy mình không còn xuân trẻ, nay chỉ có ba chén rượu giải sầu, nhưng khi say cầm vỗ lại thanh gươm thời trẻ, thấy nhớ ngọn núi xưa nơi đã tung hoành một thời.

Trần Thái Tông
  • Tống Bắc sứ Trương Hiển Khanh
  • Ký Thanh phong am Tăng Đức Sơn
  • Ngưu Mã Bạch Cốt Tinh Hoàng Đông Thái
  • Bạch MÃ Sông Toàn Trì Việt Thành Quốc Khà Ái
  • Sông Núi Nước Nam Vua Nam Ở
  • Hãy Nhớ Đến Anh Nguyễn Minh Hải Lớp 7/1

Trần Thánh Tông
  • Đề Huyền thiên động
  • Hạ cảnh

Trần Nhân Tông
  • Xuân hiểu
  • Nguyệt

Chu Văn An
  • Thất trảm sớ (bài sớ xin chém bảy quyền thần) Bài sớ này viết vào đời Dụ Tông, khi Chu Văn An làm quan trong triều và chứng kiến một số quan lại hủ bại, bèn viết sớ xin vua chém các người này. Khi vua không nghe, ông từ quan về hưu và sau đó không còn tham chính [20].

Trương Hán Siêu
  • Bạch Đằng giang phú (phú sông bạch đằng) Bài này Trương Hán Siêu tả cảnh sông Bạch Đằng, nhắc nhở công của quân dân nhà Trần đánh quân Nguyên, và khuyên hậu duệ trong nước đời sau nên biết gìn giữ giang sơn [21].
  • Linh tế tháp ký
  • Quan Nghiêm tự bi văn bài này ghi việc xây dựng trùng tu chùa Quan Nghiêm.

Mạc Đĩnh Chi
  • Ngọc tỉnh liên phú (Phú hoa sen ở giếng ngọc) Năm Hưng Long thứ hai mười hai (1304), đời Trần Anh Tông, Mạc Đĩnh Chi đi thi, đỗ trạng nguyên, khi vào chầu, vua thấy người ông nhỏ bé, lại xấu xí, nên không vui. Ông bèn viết bài phú hoa sen ở giếng ngọc, tự ví mình như loài hoa sen hiếm quí chỉ có người sành điệu mới biết thưởng thức. Vua xem khen hay và bổ ông làm quan [22].

Hồ Quý Ly
  • Quốc ngữ thi nghĩa sách dùng chữ quốc ngữ chua nghĩa Kinh Thi để các giáo sư dạy hậu phi và cung nhân. Sách này Hồ Quý Ly chú giải theo ý mình, không theo lời chú thích trước của Chu Tử [23].
  • Minh đạo lục sách gồm 14 thiên, nay đã thất truyền, nhưng theo sử thì có rất nhiều tư tưởng mới mẻ về học thuật: (a) về đạo thống, Hồ Quý Ly chủ trương nên tôn Chu Công làm tiên thánh, giáng Khổng Tử làm tiên sư; (b) về kinh truyện, ông cho rằng sách Luận ngữ có 4 việc đáng nghi ngờ; (c) về các danh nho người Hán, ông cho Hàn Dũ là hạng đạo nho (ăn cắp văn người khác), Chu Mậu Thúc, Trình Di, Dương Thi, Chu Hy, là hạng học rộng nhưng tài kém, chỉ biết răm rắp theo ý cũ. Ngô Tất Tố khi bàn về hiện tượng này cho rằng "...những điều ông ta nói (trong Minh đạo lục) chẳng những ở ta từ trước đến hồi gần đây chưa ai nghĩ tới, mà đến ở Tàu, trừ bọn Thanh nho sinh sau Quí Ly ba bốn thế kỷ, cũng chưa có ai dám nói..."[24]

Lê Trắc
  • Nội phụ
  • Đô thành

Sử Hy Nhan
  • Trảm xà kiếm phú
  • Đại Việt sử lược


Chú thích
  • [1] Việt Nam Văn Học: Văn Học Đời Trần (VHĐT), Ngô Tất Tố, NXB Đại Nam, Khai Trí, Sàigòn, 1960, trang 6
  • [2] Việt Nam Văn Học Sử-Yếu (VHSY), Dương Quảng Hàm, Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo-dục, Sàigòn, 1968, trang 232-238
  • [3] Việt Điện U Linh Tập, Mạnh Nghị Trần Kinh Hòa, NXB Khai Trí, Sàigòn, 1959, phần dẫn nhập, trang 5
  • [4] VHĐT, sđd., trang 15-16
  • [5] Việt Nam Sử Lược (VNSL), Trần Trọng Kim, Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo-dục, Sàigòn, 1971 trang 124. Có sách chép là năm Thiên-ứng chính-bình thứ nhất (1238) thì mở khoa Thái học sinh (VHĐT, sđd., trang 14)
  • [6] nay gọi núi Phật Tích hay núi non Tiên thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
  • [7] VHĐT, sđd., trang 16
  • [8] VHĐT, sđd., trang 116-17
  • [9] VHĐT, sđd., trang 6-13
  • [10] VHSY, Dương Quảng Hàm, sđd. tr. 235
  • [11] VHSY, Dương Quảng Hàm, sđd. tr. 236.
  • [12] VHSY, Dương Quảng Hàm, sđd. tr. 237-238
  • [13] VNSL, Trần Trọng Kim, sđd. trang 139
  • [14] VHSY, Dương Quảng Hàm, sđd. tr. 235
  • [15] VHĐT, sđd., trang 6
  • [16] VHĐT, sđd., trang 7
  • [17] VNSL, Trần Trọng Kim, sđd. trang 147
  • [18] VHĐT, sđd., trang 85-86
  • [19] VHSY, Dương Quảng hàm, sđd., tr. 2, tr. 292
  • [20] VHSY, Dương Quảng hàm, sđd., tr. 118, dẫn Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 9, chương 7, trang 26a
  • [21] VHSY, Dương Quảng hàm, sđd., tr. 119,
  • [22] VHSY, Dương Quảng hàm, sđd., tr. 293,
  • [23] VHSY, Dương Quảng hàm, sđd., tr. 294




Văn hc Vit Nam thi Lê sơ


Văn học đời Lê Sơ là một giai đoạn văn học Việt Nam dưới thời kỳ đầu nhà Hậu Lê nước Đại Việt từ năm 1428 đến năm 1527.


Khái quát

Các thể loại văn học chính thời kỳ này gồm thơ, phú, chiếu, biểu, văn bia, truyện ký, cáo, chính luận. Lực lượng sáng tác thời Lê sơ khá hùng hậu và thành tựu sáng tác cũng rất lớn, để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử văn học thời phong kiến của Việt Nam[1].

Nội dung văn học thời kỳ này khá phong phú, phản ánh đa dạng đời sống chính trị, xã hội, tinh thần.


Tác gia và tác phm tiêu biu

Thời kỳ đầu
  • Nguyễn Trãi được xem là tác gia quan trọng hàng đầu của văn học thời Lê sơ. Những tác phẩm được truyền tụng nhiều nhất của ông gồm có:
    • Bình Ngô đại cáo: viết tháng 3 năm 1427, thuật lại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn - quá trình đánh đuổi quân Minh, giành lại độc lập cho nước Đại Việt. Tác phẩm này được coi là áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 trong lịch sử Việt Nam.
    • Quân trung từ mệnh tập: Là tác phẩm văn xuôi do Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết trong màn trướng từ năm 1423 đến 1427, phần lớn là thư từ gửi cho tướng lĩnh nhà Minh trong thời gian chiến tranh và các biểu, dụ. Tổng số còn sưu tầm được đến nay là 69 bài.
      Ức Trai thi tập: tập thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, hiện còn lại 99 bài.
    • Quốc âm thi tập: Tập thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi, hiện còn 254 bài[2]. Đây là tập thơ Nôm cổ nhất và cũng là mốc đánh dấu bước phát triển của chữ Nôm thế kỷ 15.

  • Nguyễn Mộng Tuân cũng là nhà văn nổi tiếng đương thời. Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là Hạ thừa chỉ Ức Trai tân cư (Mừng nhà mới của quan thừa chỉ Ức Trai) và Chí Linh sơn phú (Phú núi Chí Linh)

  • Lý Tử Tấn có tập thơ Chuyết Am, trong đó nổi tiếng nhất là Đề Ức Trai bích (đề thơ trên vách nhà Ức Trai).

Thời kỳ sau

Sang nửa sau thời Lê sơ, dưới triều Lê Thánh Tông, văn học Đại Việt có bước phát triển mới. Chính vua Lê Thánh Tông là đại diện tiêu biểu nhất của giai đoạn này.
  • Lê Thánh Tông
    • Các tập thơ chữ Hán: Anh hoa hiếu trị (xướng hoạ với con các đại thần khi về thăm Lam Kinh), Chinh Tây kỷ hành (viết trên đường đánh Chiêm Thành năm 1471), Minh lương cẩm tú (xướng hoạ với các văn thần), Quỳnh uyển cửu ca (xướng hoạ với các văn nhân trong hội Tao Đàn), Xuân Vân thi tập (năm 1496), Châu cơ thắng thưởng, Văn minh cổ suý, Cổ kim cung từ thi tập
    • Lam Sơn Lương thuỷ phú (bài phú miêu tả vẻ đẹp của núi Lam và sông Lương và công trạng của khởi nghĩa Lam Sơn)
    • Thơ chữ Nôm: Hồng Đức quốc âm thi tập, và một số bài trong Lê triều danh nhân thi tập

  • Ngô Chi Lan là nữ nhà thơ, mang bản sắc riêng, không khuôn sáo, gò ép, đẹp cả ý và lời, thường kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp cảnh vật với những chi tiết chân thực của đời sống và có cái nhìn nhân ái trước cuộc đời và con người. Có thể coi bà là nhà thơ nữ đầu tiên có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam.

  • Thái Thuận là nhà thơ trữ tình, có tiếng thời Hồng Đức, tác phẩm được các học trò sưu tầm thành Lã Đường thi tập.

  • Nguyễn Bảo để lại tập thơ Châu Khê tập, cũng do học trò sưu tầm sau khi ông mất.

  • Vũ Quỳnh và Kiều Phú: hai nhà văn có công lớn trong việc sắp xếp hiệu chỉnh lại tác phẩm Lĩnh Nam chích quái ra đời từ thời nhà Trần.

  • Đặng Minh Khiêm để lại tập thơ vịnh sử Việt giám định sử thi - tập thơ vịnh sử lớn đầu tiên trong văn học Việt Nam.

Ngoài các tác gia trên, còn những người có công lao sưu tầm, biên soạn các bộ thi tuyển như Phan Phu Tiên và Chu Xa kế tục nhau làm bộ thi tuyển sớm nhất ở Việt Nam gọi là Việt âm thi tập (thơ các tác giả Trần - Hồ và đầu Lê sơ gồm hơn 700 bài. Sau đó có Dương Đức Nhan soạn bộ Cổ kim chư gia tinh tuyển và Hoàng Đức Lương làm bộ Trích diễm thi tập.


Xem thêm


Tham kho
  • Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, NXB Khoa học xã hội


Chú thích
  • [1] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 356
  • [2] Theo các nhà nghiên cứu, trong số 254 bài này có thể có một số bài của Nguyễn Bỉnh Khiêm lẫn vào





Văn hc Vit Nam thi Mc


Văn học đời Mạc là một giai đoạn của văn học Việt Nam, phản ánh các thành tựu về văn, thơ của nước Đại Việt dưới thời nhà Mạc từ năm 1527 đến năm 1592.


Khái quát

Văn học thời Mạc đóng góp khá nhiều đóng góp đáng kể trong nền văn học Việt Nam. Ngoài những sáng tác mới, các tác gia thời kỳ này còn có công lao thu thập lại những tác phẩm đời trước bị thất lạc do chiến tranh[1].

Lê Quý Đôn chia văn học thời Mạc làm các thể loại:
  • Hiến chương: tiêu biểu là Giáp Hải với Ứng đáp bang giao
  • Thơ ca: tiêu biểu là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nhậm Đại, Nguyễn Giản Thanh, Phạm Thiện, Hoàng Sĩ Khải, Nguyễn Hàng
  • Truyện ký: tiêu biểu là Dương Văn An và Nguyễn Dữ.


Tác gia và tác phm tiêu biu

Trong các tác gia trên, lớn nhất là Nguyễn Bỉnh Khiêm - người được đánh giá là “cây đại thụ của thế kỷ 16". Ông sáng tác hàng ngàn bài thơ, trong đó thơ chữ Nôm chiếm số lượng đáng kể, hiện còn lưu lại hơn 100 bài. Thơ Nôm của ông đánh dấu mốc phát triển vững chắc của tiếng Việt[1]. Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm có nội dung phong phú, phản ánh nhiều khía cạnh đời sống xã hội, phê phán chiến tranh và những thói xấu trong cuộc đời.

Thể loại thơ vịnh thời Mạc khá phát triển với những chủ đề mới. Thay cho thể loại ca tụng triều đình phổ biến dưới triều Lê Thánh Tông là mảng thơ phú điền viên, ẩn dật với thiên nhiên. Đại diện cho khuynh hướng này là Nguyễn Hàng với Đại Đồng phong cảnh phú, Tịnh cư minh thể phú; Hoàng Sĩ Khải với Tứ thời khúc vịnh, Nguyễn Giản Thanh với Phụng Thành xuân sắc phú…

Trong những bài thơ vịnh sử và thơ đi sứ, tiêu biểu nhất là các tác phẩm:
  • Bài Vịnh bèo của Giáp Hải được đánh giá là áng thơ tuyệt cú chống ý đồ xâm lược của Trung Quốc;
  • Tập thơ Tư hương vận lục của Lê Quang Bí trong 18 năm bị nhà Minh giữ ở Trung Quốc tỏ niềm thương nhớ quê hương.
  • Khiếu vịnh thi tập của Hà Nhậm Đại có ngòi bút phê phán mạnh dạn, xác đáng với các nhân vật chính trị.

Thể loại truyện ký ở Việt Nam ra đời khá muộn; trước thời Mạc chỉ có Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên và Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp. Thời kỳ này ghi nhận hai tác phẩm lớn là Ô châu cận lục của Dương Văn An và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Ô châu cận lục trở thành nguồn tư liệu quan trọng cho Lê Quý Đôn bổ sung cho cuốn Phủ biên tạp lục. Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ được Nguyễn Bỉnh Khiêm sửa chữa, có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn học đương thời và tác giả được ca ngợi là có bút lực kỳ lạ[2].


Xem thêm


Tham kho
  • Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, NXB Khoa học xã hội


Chú thích
  • [1] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 495
  • [2] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 497




Văn hc Vit Nam thi Lê trung hưng


Văn học Việt Nam thời Lê trung hưng là một giai đoạn của văn học Việt Nam, phản ánh các thành tựu về văn, thơ của nước Đại Việt dưới thời nhà Lê trung hưng từ năm 1593 đến năm 1789.

Do hoàn cảnh lịch sử, nước Đại Việt bị chia làm 2 nửa: Đàng Ngoài do chúa Trịnh cai quản và Đàng Trong do chúa Nguyễn cai quản. Tương đương với hai thể chế có hai bộ phận văn học phát triển độc lập:
  • Văn học Đàng Ngoài
  • Văn học Đàng Trong

Về tổng thể, Đàng Ngoài do có truyền thống lâu đời và số đông về nhân lực nên số lượng tác gia, tác phẩm và thể loại cũng phong phú, dồi dào hơn so với Đàng Trong – vùng đất mới mở mang và hình thành những vùng cai trị mới về tay các chúa Nguyễn[1].


Văn hc Đàng Ngoài thi Lê trung hưng

Văn học Đàng Ngoài thời Lê trung hưng là một bộ phận của của văn học Việt Nam, phản ánh các thành tựu về văn, thơ của nước Đại Việt dưới thời nhà Lê trung hưng từ năm 1593 đến năm 1789 trong vùng lãnh thổ từ sông Gianh trở ra dưới quyền cai quản của vua Lê chúa Trịnh.

Đặc điểm

Thế kỷ 17 chứng kiến 2 cuộc nội chiến: giữa họ Trịnh và tàn dư họ Mạc, đồng thời giữa họ Trịnh và họ Nguyễn. Văn học chữ Hán vẫn mang dư âm của văn học thế kỷ 16: sự trăn trở của các sĩ phu giữa con đường theo phe nào trong cuộc nội chiến, hoặc ẩn dật an nhàn[2]. Tác gia điển hình nhất trong thời kỳ đầu là Phùng Khắc Khoan với Mai lĩnh sứ hoa thi tập và Phùng công thi tập.

Từ cuối thế kỷ 17 sang thế kỷ 18, hòa bình lập lại đánh dấu sự phát triển thịnh vượng nhất của nền văn học cổ điển Việt Nam. Nhiều tác phẩm ra đời thời kỳ này đến nay vẫn còn là tác phẩm có giá trị. Văn học không hàm chứa ý thức hệ phong kiến mạnh như trước mà hàm chứa nhiều nội dung các giai đoạn lịch sử khác không có[3].

Nội dung chính của văn học thời kỳ này là những đề tài sau[4]:
  • Tập trung vào việc chống lại của chế độ chính trị đương thời. Các tác phẩm văn học ít nhiều phản ánh sự áp bức bóc lột của giai cấp thống trị và sự phẫn nộ của nhân dân như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Trạng Quỳnh, Phạm Tải Ngọc Hoa...
  • Đề cao hạnh phúc và vai trò của con người, nhất là vai trò phụ nữ mà những thời kỳ trước chưa đề cập. Phụ nữ trong văn học thời kỳ này là những người tài sắc, có đức hạnh, không chịu sự ràng buộc theo lễ giáo phong kiến, không chấp nhận cảnh vợ chồng chia ly vì chinh chiến… Họ nói lên tiếng nói đấu tranh để được hưởng những quyền lợi tối thiểu nhất là tự do yêu đương và hạnh phúc. Ngoài ra, những người nghèo trong văn học thời kỳ này đều là những người có đức, có tài, đại diện cho chính nghĩa thắng phi nghĩa trong các truyện thơ nôm như Thạch Sanh, Tống Trân, Phạm Tải, Phạm Công…
  • Phản ánh đúng hiện thức xã hội của tầng lớp phong kiến cai trị. Hầu hết các tác phẩm đề cập quyền sống của con người, nêu cao khát vọng của người lao động muốn có cuộc sống tốt đẹp như Thạch Sanh, Nhị độ mai, Quan Âm Thị Kính, Hoàng Trừu... đều có những nhân tố lãng mạn, nói lên ước vọng táo bạo của con người. Khi xã hội phong kiến bộc lộ mâu thuẫn là cơ sở cho văn học trào phúng phát triển mà điển hình là các truyện tiếu lâm như Trạng Lợn, Trạng Quỳnh.

Về hình thức, văn học chữ Nôm chiếm ưu thế hơn và ngày càng có vai trò quan trọng trong nền văn học[5]. Thể thơ lục bát và song thất lục bát đã hoàn chỉnh; ngôn ngữ phong phú trong sáng, tế nhị. Văn học chữ Nôm thời kỳ này đạt tới đỉnh cao. Từ các truyện Nôm khuyết danh, ngôn ngữ tiếng Việt được kết tinh và đạt tới tầm cao chưa từng có.

Văn học phi chính thống

Văn học dân gian

Cùng với văn học viết, văn học dân gian thời kỳ này cũng có những bước phát triển mạnh mẽ. Phong trào đấu tranh của quần chúng đối với nền thống trị ngày càng tăng, ít nhiều đã dội vào văn học dân gian những nội dung sáng tạo đặc biệt[6]. Những câu ca dao phản ánh sự phân biệt giai cấp và sự phản kháng của quần chúng bị áp bức:
Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa thì quét lá đa
Khi nào dân nổi can qua
Con vua thất thế lại ra quét chùa
Hoặc những câu phản ánh đời sống trong phủ chúa cùng sự tranh chấp quyền lực trong bộ máy chính quyền:

Trăm quan có mắt như mờ
Để cho Huy quận vào sờ chính cung
Đục cùn thì giữ lấy “tông”
Đục long “cán” gãy còn mong nỗi gì?

Ngoài ca dao, dân gian còn có những bài vè, điển hình nhất là truyện Quận He để tưởng nhớ thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân Nguyễn Hữu Cầu.

Về văn xuôi, Trạng Quỳnh là truyện chống đối chế độ phong kiến một cách có hệ thống, có ý thức và triệt để nhất[7]. Trạng Quỳnh chống cả vua Lê, chúa Trịnh và các quan lại hống hách, giễu cợt các nho sĩ bất tài,… Cùng với Trạng Quỳnh, Trạng Lợn cũng là tác phẩm có tính phê phán sâu sắc; nói về sự may mắn ngẫu nhiên của một chàng con nhà buôn thịt lợn, học dốt nhưng đã lần lượt được thăng quan tiến chức. Điều đó phản ánh đúng thực trạng của xã hội mua quan bán tước thời đó.

Truyện thơ Nôm

Đây là một hiện tượng nổi bật trong văn học thời kỳ này, với rất nhiều truyện Nôm khuyết danh - những tiểu thuyết kể bằng văn vần. Từ thế kỷ 17 đã ra đời những tác phẩm thể loại này như Trinh thử, Trê cóc, Vương Tường, Bạch viên Tôn các; sang thế kỷ 18 có thêm Thạch Sanh, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Tống Trân – Cúc Hoa, Phạm Công – Cúc Hoa, Hoàng Trừu, Phương Hoa, Nhị độ mai, Lý Công, Phan Trần, Quan Âm Thị Kính... với quy mô dài hơn.

Sự phát triển nối tiếp của truyện thơ Nôm phản ánh sự đòi hỏi cấp thiết của xã hội về nội dung và hình thức văn học để diễn tả tâm tư, tình cảm con người. Xã hội miêu tả trong các truyện thơ Nôm là xã hội ngột ngạt, nhiều bất công. Ngôn ngữ thể hiện trong các tác phẩm khá mộc mạc và còn thiếu chọn lọc nhưng xét về giá trị nghệ thuật thì nhiều chất trữ tình, hiện thực và phản phong khá rõ nét[8]. Trong nền văn học Việt Nam, truyện thơ Nôm có vị trí khá quan trọng, thể hiện quá trình trưởng thành của ý thức dân tộc và của nền văn học quốc âm Việt Nam.

Văn học chính thống

Các tác gia của mảng văn học này là những nhà Nho thuộc tầng lớp cai trị. Do hoàn cảnh lịch sử, dòng văn học này phát triển theo những hướng khác nhau, biểu hiện trên 2 mặt: tiêu cực và tích cực.

Khuynh hướng tích cực gồm tác phẩm của những tác giả trong chính quyền thống trị nhưng thể hiện sự cảm thông với cuộc sống xã hội khi đó khi chứng kiến cảnh người dân bị bóc lột và tang tóc vì chiến tranh. Họ đi vào phản ánh hiện thực xã hội.

Khuynh hướng tiêu cực là biểu hiện của những nhà nho chán nản với thời cuộc khi chứng kiến sự khủng hoảng của chế độ thống trị đương thời trước sự đấu tranh của nông dân lúc đó cùng sự sa sút của ý thức hệ phong kiến[9].

Văn học chữ Nôm

Văn học chữ Nôm thuộc phần văn học phát triển phồn thịnh nhất của dòng văn học chính thống, đánh dấu sự phát triển đỉnh cao của nội dung tư tưởng và trình độ nghệ thuật[9].

Tác phẩm nổi tiếng nhất đầu tiên là Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn vốn viết theo thể chữ Hán và được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chuyển sang thơ Nôm song thất lục bát. Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh giữa thế kỷ 18 khi chiến tranh ở Đàng Ngoài diễn ra liên miên, lên án chiến tranh chia cắt hạnh phúc, phù hợp với tâm tư của nhiều người dân, được hoan nghênh ngay khi mới ra đời[10]. Sau Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều phản ánh nỗi cô đơn, phẫn uất của những người cung nữ, cũng được người đời truyền tụng.

Trong thời kỳ những cuộc nổi dậy chống triều đình giữa thế kỷ 18, có nhiều thủ lĩnh là các sĩ phu. Tác phẩm điển hình của thể loại này là Hịch Lê Duy Mật nhằm tập hợp nhân dân chống lại họ Trịnh, tạo dựng lại cơ nghiệp nhà Lê; bài thơ Chim trong lồng của Nguyễn Hữu Cầu chỉ có 13 câu nhưng rất hàm súc, nêu ý chí hiên ngang và lòng tin vào tự do[11].

Văn học chữ Hán

Thể loại văn học chữ Hán gồm có: tiểu thuyết, ký sự, tùy bút; thơ phú và tạp văn.

Tiểu thuyết, ký sự, tùy bút

Trong những thời kỳ trước, văn học đã có những tác phẩm văn mới, nhưng chưa có những truyện dài. Tiểu thuyết dài theo bố cục chương hồi kiểu Trung Quốc bắt đầu phát triển thời kỳ này, điển hình là Hoàng Lê nhất thống chí. Những tác phẩm như vậy chưa nhiều.
Trong thể loại ký sự bằng thơ, tác phẩm tiêu biểu là Chúc ông phụng sứ của Đặng Đình Tướng, Nguyễn Trạng nguyên phụng sứ tập của Nguyễn Đăng Đạo, Tinh sà thi tập của Nguyễn Công Hãng, Kính trai sứ tập của Phạm Khiêm Ích, Sứ hoa trùng vịnh của Nguyễn Tông Quai, Tập tuần ký trình của Trịnh Sâm,...

Thể loại ký sự bằng văn xuôi bắt đầu xuất hiện như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác và Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Áng.

Tùy bút gần giống như thể ký sự và khác với thể loại tùy bút hiện nay. Tùy bút thời kỳ này có nghị luận nhưng trên cơ sở những sự kiện xảy ra như Vũ trung tùy bút ghi chép lại thực tế tập quán phong tục, thi cử và kinh tế của xã hội đương thời.

Văn học chữ Hán tuy có xuất hiện thể loại và đánh dấu bước tiến mới nhưng vẫn nặng về biên soạn, không có những khám phá và chưa mạnh dạn diễn tả hiện thực bằng văn nghệ[12].

Thơ phú và tạp văn

Thơ Đường luật vẫn là thể thơ chiếm đa số, rải rác có một số tác phẩm viết theo thể trường đoản cú hay cổ phong.

Về phú không có những bước phát triển mới; tản văn chỉ có văn bia và một số tác phẩm mang tính ngụ ngôn.

Thơ phú mang tính trữ tình thời kỳ này có các tác gia lớn như:
  • Ngô Thì Ức với Tuyết Trai thi tập và Nam trình liên vịnh
  • Đặng Trần Côn với Chinh phụ ngâm
  • Hồng Liệt Bá với Chinh phụ ngâm khúc
  • Ngô Thì Sĩ với Hải Dương chí lược, Ngọ phong văn tạp, Anh ngôn thi tập, Quan lan thập vịnh, Nhị Thanh động tập, Sách chế khải tập, Khoa sớ tập lục. Thơ văn của ông có bút pháp riêng với các nhà văn đương thời[13].
  • Phạm Nguyễn Du với Nam hành ký đắc tập, Thạch động thi văn sao, Dưỡng Hiên vịnh sử thi, Đoạn tràng lục.
  • Lê Quý Đôn với Quế Đường thi tập, Quế Đường văn tập, Bắc sứ thông lục, Kiến văn tiểu lục, Vân Đài loại ngữ, Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt văn hải... Thơ Lê Quý Đôn thể hiện sự lạc quan yêu đời, yêu non sông đất nước với phong cảnh nhẹ nhàng, thanh thoát[14].


Văn hc Đàng Trong thi Lê trung hưng

Văn học Đàng Trong thời Lê trung hưng là một giai đoạn của văn học Việt Nam, phản ánh các thành tựu về văn, thơ của nước Đại Việt dưới thời nhà Lê trung hưng từ năm 1593 đến những năm 1770 trong vùng lãnh thổ từ sông Gianh trở vào năm dưới quyền cai quản của chúa Nguyễn.

Thời kỳ đầu

Thế kỷ 17 chứng kiến 2 cuộc nội chiến: giữa họ Trịnh và tàn dư họ Mạc, đồng thời giữa họ Trịnh và họ Nguyễn. Đàng Trong ban đầu chỉ có vùng Thuận - Quảng, sau mới phát triển dần vào phía nam tới Nam Bộ. Do lịch sử mới hình thành, chưa có bề dày văn hiến như Đàng Ngoài, nhìn chung văn thơ Đàng Trong ít thành tựu hơn.

Tiêu biểu nhất thời kỳ đầu trong thế kỷ 17 là Đào Duy Từ với các tác phẩm chữ Nôm “Ngọa Long cương” và “Tư dung vãn”. Đây là 2 tập thơ lục bát dài nói lên tâm trạng của kẻ sĩ ẩn dật chờ thời. Đào Duy Từ tự ví mình với Gia Cát Lượng ở đồi Ngọa Long khi chưa ra giúp Lưu Bị. Trong hoàn cảnh đó, ông vẫn tin tưởng sẽ có dịp lập công danh.
Từ cuối thế kỷ 17 sang thế kỷ 18, hòa bình lập lại đánh dấu sự phát triển thịnh vượng nhất của nền văn học cổ điển Việt Nam.

Thời kỳ sau

Ngoài ca dao, tục ngữ, trong văn học dân gian còn có những bài vè, điển hình nhất là bài vè Chàng Lía - thủ lĩnh phong trào chống chúa Nguyễn ở Quảng Ngãi.
Trong dòng văn học chính thống, những tác gia và tác phẩm lớn nhất ở Đàng Trong là Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Cư Trinh và Mạc Thiên Tứ.

Nguyễn Khoa Chiêm

Ông là nhà văn lớn của thời kỳ này với tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí kể về quá trình chống chúa Trịnh, gây dựng cơ nghiệp Đàng Trong của chúa Nguyễn. Nhiều tình tiết trong tác phẩm được xem như tư liệu lịch sử cho đời sau.

Nguyễn Hữu Hào

Là dòng dõi công thần của chúa Nguyễn, tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Song tinh bất dạ.

Song tinh bất dạ viết bằng thể thơ Nôm lục bát xen lẫn những bài thể thơ Đường. Tác phẩm thuật lại sự hưởng lạc của chúa Nguyễn và các đại thần sau khi mở mang được vùng đất phía nam, trong bối cảnh một câu chuyện tình giữa một Nho sinh tên là Song Tinh với cô gái Nhụy Châu. Mối tình đã vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo phong kiến. Đây được đánh giá là tác phẩm có giá trị lớn nhất cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật[15].

Nguyễn Cư Trinh

Tác phẩm tiêu biểu của ông là Sãi Vãi viết năm 1751 khi đang là Tuần phủ Quảng Ngãi. Nội dung tác phẩm đề cao tư tưởng Nho giáo, phản đối tầng lớp quan liêu Đàng Trong tôn sùng đạo Phật.

Sãi Vãi được viết theo thể văn thịnh hành ở Đàng Trong là văn hát tuồng đồ - hình thức hát tuồng vốn rất phổ biến trong xã hội khi đó. Đây là một trong những tác phẩm có tác dụng động viên giáo dục trực tiếp với người đương thời[16].

Ngoài ra, Nguyễn Cư Trinh còn viết thơ chữ Hán với tập thơ Đạm Am thi tập.

Ngô Thế Lân

Ngô Thế Lân là người có tài nhưng không ra làm quan. Tác phẩm ông để lại có Phong trúc tập và Nam hành ký đắc tập. Phong trúc tập của ông ra đời vào lúc xã hội Đàng Trong dưới tay quyền thần Trương Phúc Loan, đứng về phía người lao động, có giá trị tố cáo sự bất lương của giai cấp thống trị. Ngòi bút của Ngô Thế Lân táo bạo và nói thẳng, không úp mở ví von[17]. Nhìn tổng thể, tác phẩm của ông phản ánh sự bất lực của kẻ sĩ trước thời cuộc.

Mạc Thiên Tứ và nhóm Chiêu Anh Các

Là công thần của chúa Nguyễn trong việc gây dựng vùng đất Nam Bộ, Mạc Thiên Tứ đã sáng tác tập thơ Hà Tiên thập cảnh khi đang trấn thủ Hà Tiên.

Tác phẩm là 10 khúc ngâm vịnh cảnh đẹp Hà Tiên vừa theo thể song thất lục bát vừa theo thể Đường luật bát cú. Ông xem đất Hà Tiên đẹp như bức tranh thủy mặc, hơn cả chốn thị thành.

Tư tưởng chủ đạo của Mạc Thiên Tứ trong tập thơ này là tư tưởng an nhàn. Cái an nhàn đó khác với sự an nhàn của các sĩ phu Đàng Ngoài bất mãn với thời cuộc và rút về ở ẩn. Cái an nhàn của Mạc Thiên Tứ xuất phát từ sự mãn nguyện với cuộc sống thanh bình, ấm no[18].

Thơ của ông tuy không điêu luyện như các nhà thơ đương thời Đàng Ngoài[18] nhưng trong bối cảnh nền văn học Đàng Trong còn non trẻ, Hà Tiên thập vịnh được xem là tác phẩm quý giá khhi đó. Nó đánh dấu một giai đoạn ngôn ngữ tiếng Việt đã phổ biến khắp Bắc – Trung – Nam, được các nhà nghiên cứu đánh giá là bằng chứng hùng hồn về sự thống nhất dân tộc[19].

Mạc Thiên Tứ đã tập hợp một thi xã là nhóm Chiêu Anh Các đến từ các nơi (Phúc Kiến, Quảng Đông – Trung Quốc và Quy Nhơn, Gia Định – Đàng Trong). Nhóm ban đầu gồm có 25 người Hoa và 6 người Việt, sau đó chọn ra 18 người gọi là Thập bát anh lập làm Chiêu Anh Các.

Hai tập thơ của nhóm để lại là Hà Tiên vịnh tập và Lư Khê nhân điếu. Hà Tiên vịnh tập gồm 320 bài thơ tập trung vào 10 đề tài cảnh được xem là đẹp nhất Hà Tiên:
  • Kim dư lan đào (đảo Kim Dư chắn sóng)
  • Bình Sơn điệp thúy (Núi Bình Sơn xanh trập trùng)
  • Tiêu tự thần trung (tiếng chuông chùa Tiêu)
  • Giang Thành dạ cổ (tiếng trống canh Giang Thành)
  • Thạch Động thốn vân (Hang đá nuốt mây)
  • Chân Nham lạc lộ (Cò đậu Chân Nham)
  • Đông Hồ ấn nguyệt (Trăng soi Đông Hồ)
  • Nam Phố trừng ban (Sáng ngời Nam Phố)
  • Lộc Trĩ thôn cư (cảnh quê Lộc Trĩ)
  • Lư Khê ngư bạc (xóm chài Ngư Khê)
Lư Khê nhân điếu chỉ có 30 bài phú, đều viết về đề tài Khe Lư. Qua đề tài câu cá của các bài thơ toát lên cảnh sống no đủ, an nhàn, lạc quan yêu đời của các nhà thơ đương thời[20].


Xem thêm


Tham kho
  • Viện sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 4, NXB Khoa học xã hội


Chú thích
  • [1] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 604
  • [2] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 580
  • [3] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 582
  • [4] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 583-584
  • [5] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 584
  • [6] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 585
  • [7] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 586
  • [8] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 588, 591
  • [9] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 592
  • [10] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 597
  • [11] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 593
  • [12] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 606
  • [13] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 616
  • [14] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 617
  • [15] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 600
  • [16] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 601
  • [17] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 618
  • [18] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 604
  • [19] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 605
  • [20] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 613




Văn hc Vit Nam thi Tây Sơn


Văn học thời Tây Sơn là một giai đoạn của văn học Việt Nam vào cuối thế kỷ 18, phản ánh các thành tựu về văn, thơ của nước Đại Việt dưới thời Tây Sơn từ năm 1788 đến những năm 1802.

Với chủ chương của vua Quang Trung không phải là chỉ dùng chữ Nôm làm phương tiện tuyên truyền chính sách, mà ông muốn dùng chữ Nôm làm một lợi khí để xây dựng một nền học thuật Việt Nam, nên thời kỳ này văn, thơ chữ Nôm đặc biệt phát triển.

Do hoàn cảnh lịch sử, trong cùng thời gian cuối thế kỷ 18 có nhiều biến động và sự tồn tại song song của nhiều chính thể, trong số những tác gia thời Tây Sơn là những người vốn hoạt động trong thời Hậu Lê hoặc là người tiếp tục sáng tác trong thời nhà Nguyễn sau này.


Thơ văn chNôm

Vua Quang Trung không những chỉ muốn khí dụng gì cũng chẳng mua của nước Tàu, mà ông còn muốn đến văn tự cũng không mượn của Trung Quốc nữa. Ông lấy chữ Nôm làm quốc ngữ, trong các kỳ thi Hương đến kỳ đệ tam, các sĩ tử phải làm thơ phú bằng chữ Nôm thứ chữ được coi là chính thức của dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Năm 1792 nhà vua lập Sùng chính thư viện ở Nghệ An, cử Nguyễn Thiếp làm viện trưởng để tổ chức việc dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm gồm có Tiểu Học; Tứ Thư; Kinh Thi; Kinh Dịch, trong đó Tiểu Học và Tứ Thư đã được dịch xong.

Hịch Tây Sơn được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu, sáng tác khi quân Tây Sơn tiến ra bắc diệt chúa Trịnh với danh nghĩa “phù Lê”, với lời lẽ vạch tội ác của họ Trịnh và nêu lên chính nghĩa của quân Tây Sơn. Nội dung bài hịch Tây Sơn không mang tính chính thống như Hịch Lê Duy Mật, song lại bao hàm ý chí mang lại thái bình cho đất nước cùng việc giúp vua Lê.

Sau Hịch Tây Sơn, bài ca Ai tư vãn của hoàng hậu Lê Ngọc Hân và bài tế vua Quang Trung của Phan Huy Ích, Phú tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng là những bài trong số ít những tác phẩm chữ Nôm còn lại của thời kỳ này.

Ai tư vãn của Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân là bài thơ khóc vua Quang Trung sau cái chết đột ngột của ông. Bài thơ đề cao sự nghiệp của Quang Trung, được đánh giá là bài thơ trường thiên có giá trị trong kho tàng văn học Việt NamViện Sử học, sách đã dẫn.

Trong số những bài văn tế trong Dụ Am văn tập của Phan Huy Ích ghi chép, được các nhà nghiên cứu xác định rằng có thể là tập hợp những bài tế của cả vua Cảnh Thịnh, những người con khác của vua Quang Trung và bà Nguyễn Thị Huyền (mẹ Lê Ngọc Hân) làm.

Phú tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng được xem là tác phẩm tiêu biểu với đề tài ca ngợi đất nước dưới triều Tây Sơn, được sáng tác trong hoàn cảnh vua Quang Trung vừa đánh đuổi quân Thanh. Bài phú được đánh giá là có những lời văn điêu luyện và truyền tụng nhiều trong giới văn sĩ Bắc Hà.

Ngoài những tác phẩm đứng về phía triều đại, thời Tây Sơn do hoàn cảnh lịch sử có những tác giả phản kháng, điển hình là Hoàng Quang với Hoài Nam ca khúc. Hoàng Quang đứng trên lập trường theo chúa Nguyễn chống Tây Sơn, nội dung bài ca biểu thị lòng nuối tiếc cựu triều.


Thơ văn chHán

Khuynh hướng của thơ văn chữ Hán thời Tây Sơn chủ yếu là hiện thực, lạc quan và bi quan bảo thủ, phản ánh hiện trạng xã hội lúc đó Viện Sử học, sách đã dẫn.

Hiện thực

Tiêu biểu cho khuynh hướng phê phán hiện thực là Nguyễn Du. Sau thời kỳ làm quan cho nhà Hậu Lê, ông đã bỏ về ở ẩn; sau đó đến thời Tây Sơn tuy không nhận lời làm quan cho nhà Tây Sơn nhưng có giúp việc cho Viện Sùng chính. Tác phẩm ông để lại gồm 100 bài thơ trong tập Hạnh Am thi cảo, phản ánh tâm tư của ông: chán thế sự từ thời trẻ, không muốn theo đuổi công danh sự nghiệp. Thơ của ông phản ánh sự bất lực của kẻ sĩ trước thời cuộc.

Nguyễn Du đã trốn tránh không ra làm quan với nhà Tây Sơn, sáng tác tập thơ Nam Trung tạp ngâm, phản ánh tiếng nói của người bất đắc chí. Ông nêu rõ mâu thuẫn xã hội giữa giàu và nghèo, giữa thống trị và bị trị với những lời lẽ thông cảm sâu sắc - Viện Sử học, sách đã dẫn.

Lạc quan

Những tác gia tiêu biểu cho khuynh hướng ủng hộ triều đại Tây Sơn là Ngô Thì Nhậm, Ninh Tốn, Vũ Huy Tấn, Phan Huy Ích…

Ngô Thì Nhậm bỏ nhà Hậu Lê ra làm quan với nhà Tây Sơn. Ông có vai trò lớn trong công tác ngoại giao với nhà Thanh để lập lại hòa bình sau cuộc chiến giữa hai nước. Ông là tác giả nhiều văn thư ngoại giao của nhà Tây Sơn với nhà Thanh.

Ninh Tốn đề cao vai trò của Nho sĩ, thể hiện niềm tin vào cuộc sống hiện tại. Tác phẩm ông để lại là Chuyết Am thi tập.

Vũ Huy Tấn là Thượng thư Bộ Công nhà Tây Sơn. Tác phẩm của ông có Hoa trình tùy bộ tập, tập hợp những bài thơ trong những lần đi sứ. Lời thơ ông thể hiện ý thâm trầm, lời lẽ thanh thoát, chứa đựng niềm lạc quan yêu đời. Trong lần đi sứ phưong bắc, ông đã đáp lại những câu thơ khinh miệt của viên lại mục nhà Thanh, không chịu để nhục quốc thể - Viện Sử học, sách đã dẫn.

Phan Huy Ích làm Thượng thư Bộ Lễ nhà Tây Sơn, để lại Dụ Am văn tập và Dụ Am thi tập. Trong số các tác phẩm của ông cũng có tập hợp những bài thơ đi sứ nhà Thanh năm 1789. Mặc dù cuộc đời lắm gian truân nhưng Phan Huy Ích không thể hiện sự bất mãn. Lời thơ ông chứa đựng sự lạc quan, tin tưởng, coi việc bỏ triều Lê - Trịnh theo Tây Sơn là lẽ thường tình - Viện Sử học, sách đã dẫn.

Bi quan

Sự buồn chán trước thế sự biểu hiện trong một số nhà thơ thời kỳ này, tiêu biểu là:
  • Trần Danh Án với Liễu Am Tán ông thi tập (hay Bảo Triện Trần tiên sinh thi tập)
  • Phạm Quý Thích với Thảo đường thi nguyên tập, Hoa đường Phạm Lập Trai di thảo
  • Nguyễn Hành với Quan hải thi tập, Minh quyên thi phả, Thiên địa nhân vật sự thi
Thơ của những tác giả này chứa đựng sự u uất, băn khoăn của thi sĩ quý tộc trước thời cuộc. Phần lớn họ xuất thân từ tầng lớp quan lại quý tộc đang bị sa sút, không muốn nhìn thấy sự đổi thay của thời thế mà hoài vọng vị thế trước đây của gia đình, dòng tộc - Viện Sử học, sách đã dẫn.


Xem thêm
  • Văn học đời Lê trung hưng


Tham kho
  • Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 4, NXB Khoa học xã hội





Văn hc Vit Nam thi Nguyn


Nhà Nguyễn (chữ Hán : 阮 朝, Nguyễn triều) là triều đại quân chủ cuối cùng cai trị Việt Nam trong lịch sử Việt Nam từ năm 1802 đến 1945

Văn học nhà Nguyễn có thể chia làm các thời kỳ như sau: thời Nguyễn sơ, thời kỳ nhà Nguyễn còn độc lập và thời kỳ nhà Nguyễn thuộc Pháp.
  • Thời Nguyễn sơ là thời kỳ của các nhà thơ thuộc hai nguồn gốc chính là quan của vua Gia Long và các cựu thần nhà Hậu Lê bất phục nhà Nguyễn. Tiêu biểu cho thời kỳ này là các tác giả: Phạm Quy Thích, Nguyễn Du, Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định. Nội dung tiêu biểu cho thời kỳ này là nói về niềm tiếc nhớ Lê triều cũ và một lãnh thổ văn chương Việt Nam mới hình thành ở phương Nam.

  • Thời nhà Nguyễn độc lập là thời của các nhà thơ thuộc đủ mọi xuất thân trong đó có các vua như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, và các thành viên hoàng tộc như Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm. Các nho sĩ thì gồm có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền, Trương Quốc Dụng, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ. Hai thể kiểu thơ chủ yếu của thời kỳ này là thơ ngự chế của các vị vua và các thi tập của nho sĩ.

  • Thời nhà Nguyễn thuộc Pháp là thời kỳ ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử đương thời tác động rất lớn vào văn chương, các nhà thơ sáng tác nhiều về cảm tưởng của họ đối với quá trình Pháp chiếm Việt Nam. Tác giả tiêu biểu thời kỳ này gồm Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Thông, Nguyễn Khuyến, Dương Lâm, Nguyễn Thượng Hiền.

Thời kỳ nhà Nguyễn, văn học phát triển trong cả Hán văn, lẫn một cách mạnh mẽ ở chữ Nôm với nhiều thành tựu lớn, trong đó tác phẩm chữ nôm tiêu biểu nhất là Truyện Kiều và Hoa Tiên. Hai thể theo được dùng phổ biết ở thời kỳ này là lục bát và lục bát gián cách, sử dụng một thứ tiếng Việt mới có một trình độ rất cao. Ở miền Nam Việt Nam, thành hình một lãnh thổ văn chương mới với nhiều nét độc đáo riêng so với các vùng cũ. Về nội dung, ngoài các nội dung văn chương mang đậm tư tưởng Nho giáo truyền thống thì số phận con người và phụ nữ cũng được đề cập đến.


Tham kho





Trình bày:
Genchin Midoriko







thay đổi nội dung bởi: Genchin Midoriko, 01-06-2013 lúc 21:20
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Bookmarks & Social Networks

Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 07:47.

Bản quyền oOo VnSharing Group oOo © 2007 - 2012
Vui lòng ghi nguồn VnSharing.net khi bạn dùng các bài viết của site. LIÊN HỆ QUẢNG CÁO: 0945255655. Mail: qc.vnsharing@gmail.com
Powered by: vBulletin Copyright © by 2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.


Sửa chữa laptop Đà Lạt | linh kiện laptop đà lạt | sửa chữa máy tính đà lạt | thiết kế website đà lạt | lắp đặt mạng camera đà lạt